VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Bài Cầu Nguyện Quy Y Bốn Ngôi Bảo Và Phát Tâm Bồ Đề Bönpo: Nguyên Bản Chữ Tạng, Tứ Vô Lượng Tâm Và Cây Quy Y Yungdrung Bön

Skyabs 'gro sems bskyed · Skyabs 'gro sems bskyed, Bài nguyện Quy Y Tứ Bảo và Phát Bồ Đề Tâm, Tshad med bzhi, Bsngo ba, Nghi thức mở đầu và hồi hướng Yungdrung Bön

Mười tám câu kệ chữ Tạng mở đầu và khép lại mọi thời công phu của truyền thống Yungdrung Bön: quy y Đạo Sư, Đức Phật Tonpa Shenrab, Giáo Pháp Vĩnh Hằng và Tăng Đoàn Yungdrung Sempa, phát tâm Bồ Đề cứu độ sáu cõi, quán Tứ Vô Lượng Tâm và hồi hướng viên mãn Ba Thân

Thuộc đạo
Đạo Bön Tây Tạng
Niên đại
Định hình trong kinh tạng Yungdrung Bön từ thế kỷ 11 tới thế kỷ 14, chuẩn hóa trong nghi quỹ tu viện Menri từ năm 1405
Theo truyền thống giáo nghĩa, các lời nguyện quy y và phát tâm bắt nguồn từ giáo pháp của Đức Phật Tonpa Shenrab Miwoche và được truyền qua các tổ sư vùng Zhangzhung và Tây Tạng. Xét theo sử liệu văn bản học, các bài kệ bốn câu bảy chữ và chín chữ trong trang này được kết tập hoàn chỉnh trong các bộ dẫn nhập tu tập (Sngon 'gro) của dòng truyền thừa gia tộc <b>Bru</b> (như Bru'i rgyud phyag khrid) cùng truyền thống khẩu truyền Zhang Zhung Nyan Gyud từ thế kỷ 11 tới thế kỷ 14, sau đó được Đại sư <b>Nyame Sherab Gyaltsen</b> (1356 tới 1415, vị sáng lập tu viện Menri năm 1405) đưa vào sổ nhật tụng chung của tăng đoàn.
Độ dài
18 câu kệ chữ Tạng (gồm 4 phần nghi lễ hoàn chỉnh)
Trang này trình bày trọn vẹn bốn phần nghi lễ liên hoàn tạo thành khung xương sống của mọi khóa lễ Yungdrung Bön: Phần I (câu 1 tới 6) là <b>Quy Y Tứ Bảo</b> (Skyabs 'gro, gồm bài kệ bốn câu đảnh lễ cộng đồng và hai câu tuyên xưng riêng từng ngôi trong Bốn Ngôi Bảo); Phần II (câu 7 tới 10) là <b>Phát Tâm Bồ Đề</b> (Sems bskyed, cả Bồ đề tâm nguyện lẫn Bồ đề tâm hành của bậc Yungdrung Sempa); Phần III (câu 11 tới 14) là <b>Tứ Vô Lượng Tâm</b> (Tshad med bzhi: Từ, Bi, Hỷ, Xả); và Phần IV (câu 15 tới 18) là <b>Kệ Hồi Hướng Công Đức</b> (Bsngo ba) khép khóa.
Thường tụng khi
Đọc mở đầu và khép lại mọi thời khóa công phu sáng tối, mọi buổi thuyết pháp, thiền định Dzogchen, và tụng đủ 100.000 biến kèm lễ lạy dài trong khóa tu dự bị Ngöndro

ITrước Khi Đọc

Tại chính điện của Tu viện Menri ở Dolanji hay Tu viện Triten Norbutse nhìn xuống thung lũng Kathmandu, trước khi tiếng trống pháp và kèn đồng cất lên hay trước khi một hành giả ngồi vào tọa cụ quán chiếu tự tính tâm, buổi lễ bao giờ cũng bắt đầu bằng việc chắp hai tay ngang ngực như búp sen và ngân vang câu kệ chữ Tạng mở đầu: Bla ma sangs rgyas bon dang gshen rab la... (Kính lạy Đạo Sư, Đấng Giác Ngộ, Giáo Pháp Bön và Thánh Chúng Shenrab). Nếu Chân Ngôn Ma Tri là chuỗi âm thanh tâm yếu được lần trên tràng hạt suốt ngày, thì Bài Cầu Nguyện Quy Y Bốn Ngôi Bảo Và Phát Tâm Bồ Đề (Skyabs 'gro sems bskyed) chính là cánh cửa nghi lễ bắt buộc mở ra ở đầu mọi thời khóa và khép lại bằng kệ hồi hướng ở cuối mọi pháp tu của Đạo Bön Tây Tạng.

Đối với người mới tìm hiểu truyền thống tâm linh trên cao nguyên Tây Tạng, văn bản này ngay lập tức hé mở điểm giao thoa và điểm khu biệt sâu sắc nhất giữa Yungdrung Bön (Bön Vĩnh Hằng) và Phật Giáo. Về mặt cấu trúc tu tập, cả hai truyền thống đều khẳng định một nguyên tắc bất di bất dịch: không có một pháp tu chân chính nào có thể đứng vững nếu thiếu ba trụ cột gọi là Ba Điều Thiện Hảo (Dampa gsum), gồm (1) Thiện hảo ở phần đầu là Quy y và Phát tâm Bồ Đề để định hướng động cơ vị tha vì hết thảy chúng sinh; (2) Thiện hảo ở phần chính là chánh niệm và thiền quán không bám chấp trong suốt thời khóa; và (3) Thiện hảo ở phần kết là Hồi hướng công đức về quả vị giác ngộ của muôn loài.

Thế nhưng khi nhìn vào từng chữ Tạng trong bài nguyện, bản sắc riêng của Yungdrung Bön hiện lên hết sức rõ rệt. Thay vì dùng danh từ Chos để chỉ Giáo pháp và Byang chub sems dpa' để chỉ Bồ Tát như các phái Phật giáo Tây Tạng, kinh điển Bön dùng chính chữ Bon (བོན་, chân lý thực tại bất biến) để gọi ngôi Pháp Bảo, dùng danh hiệu Gshen rab (གཤེན་རབ་) hoặc G.yung drung sems dpa' (གཡུང་དྲུང་སེམས་དཔའ་, bậc Anh hùng của Tâm Vĩnh Hằng Bất Hoại) để gọi ngôi Tăng Bảo, và hướng tâm quy ngưỡng về Đức Đạo Sư Tonpa Shenrab Miwoche cùng Đức Phật Nguyên Sơ Shenlha Ökar trên đỉnh Cây Quy Y. Hơn thế nữa, nghi thức quy y của Bönpo luôn được tuyên xưng thành Bốn Ngôi Bảo (Skyabs gnas bzhi): đặt ngôi Bla ma (Bổn Sư Đạo Sư) đứng đầu như cội rễ truyền trao ân phước trực tiếp, tiếp theo là Sangs rgyas (Đấng Giác Ngộ), Bon (Giáo Pháp Vĩnh Hằng) và Gshen rab / Dge 'dun (Thánh Chúng Tăng Đoàn).

Trang này trình bày trọn vẹn mười tám câu kệ chữ Tạng kết nối bốn nghi tiết cốt lõi: Quy Y Tứ Bảo (Skyabs 'gro), Phát Tâm Bồ Đề (Sems bskyed), Tứ Vô Lượng Tâm (Tshad med bzhi) và Kệ Hồi Hướng (Bsngo ba), kèm chuyển tự học thuật Wylie, hướng dẫn phát âm tiếng Tạng truyền thống và bản dịch Việt, Anh từng câu do thư viện biên soạn.

Theo giáo nghĩa

Trong giáo lý Yungdrung Bön, động từ chữ Tạng skyabs su mchi (quy y, đi về nương tựa) được giải thích là sự tìm kiếm nơi che chở tuyệt đối khỏi nỗi khổ của sáu cõi luân hồi ('khor ba). Người Bönpo quy y Bốn Ngôi Bảo bởi nếu không có vị Đạo Sư (Bla ma) đang sống bằng xương bằng thịt chỉ dạy trực tiếp, hành giả thời nay không thể tự mình diện kiến Đức Phật Tonpa Shenrab đã nhập diệt, không biết cách thực hành Giáo Pháp Bon, và cũng không thể bước vào hàng ngũ Thánh Tăng Gshen rab. Vì thế Đạo Sư được tôn là hiện thân hội tụ của cả Ba Ngôi Bảo kia.

Sâu hơn nữa, các luận thư Bön phân định sự quy y thành ba tầng từ cạn vào sâu: (1) Ngoại quy y (Phyi'i skyabs 'gro) là nương tựa vào Bốn Ngôi Bảo hiển lộ bên ngoài gồm Đạo Sư, Phật, Pháp Bön và Tăng đoàn Yungdrung Sempa; (2) Nội quy y (Nang gi skyabs 'gro) trong Mật thừa là nương tựa vào Ba Gốc (Rtsa gsum) gồm Bla ma (Đạo sư, gốc của ân phước gia trì), Yi dam (Bổn tôn, gốc của thành tựu) và Mkha' 'gro (Không hành mẫu, gốc của sự nghiệp hoạt dụng hộ trì); và (3) Mật quy y (Gsang ba'i skyabs 'gro) trong Đại Toàn Thiện (Dzogchen) là quay về nhận diện ngay Ba Thân (Sku gsum) vốn tự viên mãn trong bản tính tự nhiên của tâm mình: thể tính Không nguyên sơ là Pháp thân (Bon sku), tính Sáng rạng ngời không dứt là Báo thân (Rdzogs sku), và năng lực từ bi ứng hiện không ngăn ngại là Hóa thân (Sprul sku).

Theo sử liệu

Xét về lịch sử văn bản và nghi lễ, các công thức Quy y và Phát tâm Bồ Đề của Yungdrung Bön được định hình qua quá trình hệ thống hóa kinh viện từ thế kỷ 11 tới thế kỷ 15. Trong các thế kỷ từ 11 tới 14, các học giả lớn thuộc dòng tộc Bru (tiêu biểu là Bru rgyal ba g.yung drung, 1242 tới 1290, tác giả bộ cẩm nang thực hành Bru'i rgyud phyag khrid) cùng các bậc thầy của truyền thống A khrid (do Me ston Shes rab 'od zer, 1058 tới 1132, sáng lập) đã sắp xếp các bài kệ quy y, phát tâm, lễ lạy, cúng dường mạn đà la và trì chú trăm âm thành hệ thống Chín Pháp Dự Bị (Sngon 'gro 'bum dgu) làm nền móng trước khi bước vào thiền định Dzogchen.

Năm 1405, khi Đại sư Nyame Sherab Gyaltsen (1356 tới 1415) kiến lập Tu viện Menri tại vùng Tsang ở Tây Tạng, ngài đã thống nhất nghi quỹ công phu sớm tối cho toàn bộ tăng chúng. Sau biến cố lịch sử giữa thế kỷ 20, truyền thống kinh viện này được Đức Pháp Vương Menri Trizin thứ 33 Lungtok Tenpai Nyima (1929 tới 2017) tái thiết tại Tu viện Menri mới ở Dolanji (Ấn Độ, lập năm 1967) và Trưởng lão Yongdzin Lopön Tenzin Namdak Rinpoche (sinh năm 1926) truyền trao tại Tu viện Triten Norbutse ở Kathmandu (Nepal, lập năm 1987). Bản văn mười tám câu dưới đây trích từ chính quyển sổ nhật tụng Bon gyi rgyun spyod smon lam đang được chư tăng và cư sĩ Bönpo khắp thế giới trì đọc mỗi ngày.

IIToàn Văn Mười Tám Câu Kệ Chữ Tạng: Quy Y, Phát Tâm, Tứ Vô Lượng Và Hồi Hướng

Bảng toàn văn dưới đây gồm mười tám câu kệ chữ Tạng chia làm bốn phần nghi lễ liên tiếp: câu 1 tới 6 là Nghi thức Quy Y Tứ Bảo (Skyabs 'gro); câu 7 tới 10 là Nghi thức Phát Tâm Bồ Đề (Sems bskyed); câu 11 tới 14 là Tứ Vô Lượng Tâm (Tshad med bzhi); và câu 15 tới 18 là Kệ Hồi Hướng Công Đức (Bsngo ba). Cột thứ hai ghi đồng thời cả chuyển tự học thuật Wylie (phản ánh chính xác từng ký tự tiền tố, hậu tố chữ Tạng) lẫn cách phát âm tiếng Tạng truyền thống để người đọc dễ theo dõi.

Toàn văn nghi thức Quy Y Tứ Bảo, Phát Tâm Bồ Đề, Tứ Vô Lượng Tâm và Kệ Hồi Hướng theo sổ nhật tụng Bon gyi rgyun spyod smon lam của Tu viện Menri và Tu viện Triten Norbutse. Chuyển tự Wylie, âm đọc và bản dịch Việt, Anh do thư viện biên soạn.
CâuNguyên văn chữ TạngChuyển tự Wylie và âm đọcBản dịch tiếng ViệtTiếng Anh
1༄༅། །བླ་མ་སངས་རྒྱས་བོན་དང་གཤེན་རབ་ལ།Wylie: bla ma sangs rgyas bon dang gshen rab la | Âm đọc: La ma sang gye bön dang shen rab laKính hướng về Bậc Đạo Sư Bổn Sư, Đấng Phật Đà Giác Ngộ, Giáo Pháp Bön Vĩnh Hằng và Thánh Chúng Shenrab,Before the Spiritual Master, the Awakened Buddha, the Eternal Bön Teaching and the Noble Shenrab Assembly,
2བདག་དང་འགྲོ་དྲུག་སེམས་ཅན་ཐམས་ཅད་ཀྱིས།Wylie: bdag dang 'gro drug sems can thams cad kyis | Âm đọc: Dag dang dro drug sem chen tham che kyicon cùng hết thảy chúng sinh đang trôi lăn trong sáu cõi luân hồi,I and all sentient beings wandering throughout the six realms of existence
3ལུས་ངག་ཡིད་གསུམ་གུས་པས་ཕྱག་འཚལ་ཞིང་།Wylie: lus ngag yid gsum gus pas phyag 'tshal zhing | Âm đọc: Lü ngag yi sum gü pe chag tshal zhingđem cả ba cửa thân, khẩu, ý chí thành cung kính đảnh lễ,bow down in heartfelt reverence with body, speech and mind,
4བྱང་ཆུབ་མ་ཐོབ་བར་དུ་སྐྱབས་སུ་མཆི།Wylie: byang chub ma thob bar du skyabs su mchi | Âm đọc: Jang chub ma thob bar du kyab su chixin trọn lòng quy y từ giờ phút này cho tới ngày chứng đắc quả vị giác ngộ tối thắng.and go for refuge from this moment until supreme awakening is attained.
5འདྲེན་པའི་བླ་མ་དམ་པ་ལ་སྐྱབས་སུ་མཆིའོ། །རྫོགས་པའི་སངས་རྒྱས་སྟོན་པ་ལ་སྐྱབས་སུ་མཆིའོ།Wylie: 'dren pa'i bla ma dam pa la skyabs su mchi'o / rdzogs pa'i sangs rgyas ston pa la skyabs su mchi'o | Âm đọc: Dren pe la ma dam pa la kyab su chi o / Dzog pe sang gye tön pa la kyab su chi oCon xin quy y Bậc Đạo Sư Chân Chính dẫn đường giải thoát; con xin quy y Đấng Đạo Sư Phật Toàn Giác Tonpa Shenrab;I go for refuge to the holy Guiding Spiritual Master; I go for refuge to the Perfectly Awakened Teacher, the Buddha Tonpa Shenrab;
6གཡུང་དྲུང་གི་བོན་རིན་པོ་ཆེ་ལ་སྐྱབས་སུ་མཆིའོ། །གཡུང་དྲུང་སེམས་དཔའི་དགེ་འདུན་ལ་སྐྱབས་སུ་མཆིའོ།Wylie: g.yung drung gi bon rin po che la skyabs su mchi'o / g.yung drung sems dpa'i dge 'dun la skyabs su mchi'o | Âm đọc: Yung drung gi bön rin po che la kyab su chi o / Yung drung sem pe ge dün la kyab su chi ocon xin quy y Giáo Pháp Yungdrung Bön Quý Báu bất hoại; con xin quy y Tăng Đoàn các bậc Bồ Tát Yungdrung Sempa.I go for refuge to the Precious Teaching of Eternal Yungdrung Bön; I go for refuge to the Noble Sangha of Yungdrung Sempa Bodhisattvas.
7ཐོག་མེད་དུས་ནས་ད་ལྟ་ཡན་ཆད་དུ། །མ་གྱུར་འགྲོ་དྲུག་སེམས་ཅན་ཐམས་ཅད་ཀྱི།Wylie: thog med dus nas da lta yan chad du / ma gyur 'gro drug sems can thams cad kyi | Âm đọc: Thog me dü ne da ta yen che du / Ma gyur dro drug sem chen tham che kyiTừ thuở vô thủy không đầu mối cho tới tận ngày hôm nay, vì hết thảy chúng sinh trong sáu cõi từng làm mẹ hiền của con,From beginningless time down to the present moment, for the sake of all sentient beings of the six realms who have each been my own mother,
8སྒྲིབ་གཉིས་བྱང་ཞིང་ཚོགས་གཉིས་རབ་རྫོགས་ནས།Wylie: sgrib gnyis byang zhing tshogs gnyis rab rdzogs nas | Âm đọc: Drib nyi jang zhing tshog nyi rab dzog nenguyện cho hai lớp che chướng được tịnh hóa sạch sẽ và hai bồ công đức cùng trí tuệ được viên mãn trọn vẹn,so that the two obscurations may be purified and the two accumulations of merit and wisdom brought to complete perfection,
9བླ་མེད་རྫོགས་པའི་སངས་རྒྱས་ཐོབ་བྱའི་ཕྱིར། །བྱང་ཆུབ་མཆོག་ཏུ་སེམས་ནི་བསྐྱེད་པར་བགྱི།Wylie: bla med rdzogs pa'i sangs rgyas thob bya'i phyir / byang chub mchog tu sems ni bskyed par bgyi | Âm đọc: La me dzog pe sang gye thob je chir / Jang chub chog tu sem ni kye par gyiđể đạt tới quả vị Phật Toàn Giác vô thượng mà cứu độ muôn loài, con xin phát khởi tâm Bồ Đề tối thắng.in order to attain unsurpassed, complete Buddhahood, I generate the supreme mind of Bodhicitta.
10གཡུང་དྲུང་སེམས་དཔའི་སྤྱོད་པ་རླབས་པོ་ཆེ། །འགྲོ་བའི་དོན་དུ་རྒྱུན་ཆད་མེད་པར་སྤྱད།Wylie: g.yung drung sems dpa'i spyod pa rlabs po che / 'gro ba'i don du rgyun chad med par spyad | Âm đọc: Yung drung sem pe chö pa lab po che / Dro we dön du gyün che me par cheNhững hạnh nguyện bao la như sóng biển cả của bậc Bồ Tát Yungdrung Sempa, con nguyện thực hành liên tục không một phút ngơi nghỉ vì lợi lạc của chúng sinh.The vast, ocean-wave deeds of the Yungdrung Sempa Bodhisattvas, I vow to practice without interruption for the welfare of all beings.
11སེམས་ཅན་ཐམས་ཅད་བདེ་དང་ལྡན་གྱུར་ཅིགWylie: sems can thams cad bde dang ldan gyur cig | Âm đọc: Sem chen tham che de dang den gyur chigNguyện cho hết thảy chúng sinh đều có được niềm an vui hạnh phúc và những nhân lành sinh ra hạnh phúc (Từ vô lượng tâm).May all sentient beings possess happiness and the causes of happiness (Immeasurable Loving-Kindness).
12སེམས་ཅན་ཐམས་ཅད་སྡུག་བསྔལ་བྲལ་གྱུར་ཅིགWylie: sems can thams cad sdug bsngal bral gyur cig | Âm đọc: Sem chen tham che dug ngal dral gyur chigNguyện cho hết thảy chúng sinh đều thoát khỏi mọi nỗi khổ đau và những nhân sinh ra khổ đau (Bi vô lượng tâm).May all sentient beings be free from suffering and the causes of suffering (Immeasurable Compassion).
13སེམས་ཅན་ཐམས་ཅད་བདེ་དང་མི་འབྲལ་ཤོགWylie: sems can thams cad bde dang mi 'bral shog | Âm đọc: Sem chen tham che de dang mi dral shogNguyện cho hết thảy chúng sinh chẳng bao giờ xa lìa niềm hỷ lạc thanh tịnh không vướng khổ (Hỷ vô lượng tâm).May all sentient beings never be parted from sorrowless bliss (Immeasurable Joy).
14སེམས་ཅན་ཐམས་ཅད་ཉེ་རིང་ཆགས་སྡང་བྲལ་བའི་བཏང་སྙོམས་ལ་གནས་པར་གྱུར་ཅིགWylie: sems can thams cad nye ring chags sdang bral ba'i btang snyoms la gnas par gyur cig | Âm đọc: Sem chen tham che nye ring chag dang dral we tang nyom la ne par gyur chigNguyện cho hết thảy chúng sinh đều an trú trong tâm bình đẳng rộng mở, lìa xa mọi phân biệt gần xa và bám chấp thương ghét (Xả vô lượng tâm).May all sentient beings abide in boundless equanimity, free from bias toward near and far and free from attachment and aversion (Immeasurable Equanimity).
15སྒོ་གསུམ་དག་པའི་དགེ་བ་གང་བགྱིས་པ།Wylie: sgo gsum dag pa'i dge ba gang bgyis pa | Âm đọc: Go sum dag pe ge ba gang gyi paBao nhiêu thiện nghiệp thanh tịnh của ba cửa thân, khẩu, ý mà con đã dày công tạo dựng,Whatever pure virtue I have accomplished through the three doors of body, speech and mind,
16ཁམས་གསུམ་སེམས་ཅན་རྣམས་ཀྱི་དོན་དུ་བསྔོ།Wylie: khams gsum sems can rnams kyi don du bsngo | Âm đọc: Kham sum sem chen nam kyi dön du ngocon xin hồi hướng trọn vẹn vì lợi lạc và sự giải thoát của hết thảy chúng sinh trong khắp ba cõi.I dedicate entirely for the welfare and liberation of all sentient beings throughout the three worlds.
17དུས་གསུམ་བསགས་པའི་ལས་སྒྲིབ་ཀུན་བྱང་ནས།Wylie: dus gsum bsags pa'i las sgrib kun byang nas | Âm đọc: Dü sum sag pe le drib kün jang neNguyện cho mọi nghiệp dữ và che chướng đã tích chứa trong cả ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai đều được tịnh hóa sạch hết,Having purified all karmic debts and obscurations accumulated across the three times of past, present and future,
18སྐུ་གསུམ་རྫོགས་པའི་སངས་རྒྱས་མྱུར་ཐོབ་ཤོག།Wylie: sku gsum rdzogs pa'i sangs rgyas myur thob shog | Âm đọc: Ku sum dzog pe sang gye nyur thob shogđể tất cả chóng thành tựu quả vị Phật Toàn Giác viên mãn trọn vẹn Ba Thân.may we swiftly attain complete Buddhahood perfecting the Three Bodies.

Bảng đối chiếu ba tầng Quy Y (Ngoại, Nội, Mật) và hai thứ tự quán Tứ Vô Lượng Tâm trong kinh tạng Bön

Trong hệ thống Chín Thừa của Yungdrung Bön, cùng một câu kệ quy y nhưng khi hành giả bước từ Kinh thừa (Mdo) sang Mật thừa (Sngags) rồi lên tới Đại Toàn Thiện (Rdzogs chen), đối tượng quy y được hiểu theo ba tầng sâu dần. Bảng dưới đây tổng hợp ba tầng quy y ấy cùng sự khác biệt thú vị trong thứ tự đọc bốn câu Tứ Vô Lượng Tâm giữa khóa lễ hiển giáo và khóa lễ dự bị Ngöndro.

Hệ thống đối chiếu Ba Tầng Quy Y của Yungdrung Bön tương ứng với Bốn Ngôi Bảo trong bảng kinh
Ngôi quy y trong kệTầng Ngoại Quy Y (Tứ Bảo Hiển giáo)Tầng Nội Quy Y (Tam Căn Mật thừa)Tầng Mật Quy Y (Tam Thân Dzogchen)
1. Bla ma (བླ་མ་, Đạo Sư)Vị Bổn Sư gốc (Rtsa ba'i bla ma) và dòng truyền thừa nối từ Tổ Nyame Sherab Gyaltsen tới hiện tạiGốc của ân phước gia trì (Byin rlabs kyi rtsa ba Bla ma), hiện thân của trí tuệ đấng dẫn đườngSự hợp nhất bất nhị của cả Ba Thân ngay trong cái biết tự nhiên đương tiền (Rig pa) của hành giả
2. Sangs rgyas (སངས་རྒྱས་, Phật Bảo)Đức Đạo Sư Phật Toàn Giác Tonpa Shenrab Miwoche cùng chư Phật ba thời quá khứ, hiện tại, vị laiGốc của thành tựu (Dngos grub kyi rtsa ba Yi dam), các vị Bổn tôn an bình và uy nộ như Shenlha Ökar, PhurpaBon sku (Pháp thân, Thân Chân Lý): bản thể Không nguyên sơ (Ka dag), thanh tịnh từ vô thủy như bầu trời
3. Bon (བོན་, Pháp Bảo)Giáo pháp Yungdrung Bön gồm Chín Thừa, Bốn Cửa Kho Tàng và Kho Thứ Năm (Sgo bzhi mdzod lnga)Gốc của hoạt dụng hộ trì (Phrin las kyi rtsa ba Mkha' 'gro), chư Không hành mẫu và Hộ pháp giữ gìn giáo phápRdzogs sku (Báo thân, Thân Viên Mãn): tính Sáng tự nhiên rạng ngời không dứt (Lhun grub) của tâm
4. Gshen rab / Dge 'dun (གཤེན་རབ་, Tăng Bảo)Tăng đoàn các bậc Bồ Tát Yungdrung Sempa và hàng tu sĩ giữ giới thanh tịnh (Drang srong)Hội chúng chư vị Dpa' bo (Dũng phụ) và Dpa' mo (Dũng mẫu) trợ duyên trên đường tu mật phápSprul sku (Hóa thân, Thân Hóa Hiện): năng lực từ bi và trí tuệ ứng hiện không ngăn ngại khắp muôn cảnh

IIIGiải Nghĩa Từng Phần Và Thuật Ngữ Triết Học Chữ Tạng

Mười tám câu kệ chữ Tạng trong bảng trên cô đọng toàn bộ lộ trình giải thoát của đạo Bön từ lúc phát nguyện bước vào cửa đạo cho tới khi thành tựu Ba Thân Phật quả. Chín mục giải nghĩa dưới đây phân tích từng cặp câu theo đúng mạch văn chữ Tạng.

༄༅། །བླ་མ་སངས་རྒྱས་བོན་དང་གཤེན་རབ་ལ། །བདག་དང་འགྲོ་དྲུག་སེམས་ཅན་ཐམས་ཅད་ཀྱིས། (Câu 1 và 2)
Wylie: bla ma sangs rgyas bon dang gshen rab la / bdag dang 'gro drug sems can thams cad kyis

Ký hiệu mở đầu ༄༅། ། gọi là yig mgo (vân đầu trang chữ Tạng, tượng trưng cho sự cát tường và ánh sáng trí tuệ mở màn kinh văn). Câu 1 xướng danh Bốn Ngôi Quy Y của Yungdrung Bön: thứ nhất là Bla ma (Lạt ma, Bậc Đạo Sư vô thượng có trọng lượng tâm linh sâu dày); thứ hai là Sangs rgyas (Phật Đà: sangs là tỉnh thức khỏi giấc ngủ vô minh và tịnh hóa mọi che chướng, rgyas là nở rộng trí tuệ toàn tri khắp muôn pháp); thứ ba là Bon (Giáo pháp vĩnh hằng và chân lý thực tại); thứ tư là Gshen rab (các bậc Thánh giả và Bồ Tát hành trì chín thừa của Bön). Trợ từ la ở cuối câu đánh dấu hướng tâm quy ngưỡng.

Câu 2 xác lập ngay lập tức tinh thần Đại thừa bao trùm của người tụng: chủ thể quy y không bao giờ chỉ là một mình cái tôi nhỏ hẹp (bdag, con), mà luôn đi liền với 'gro drug sems can thams cad kyis (cùng với hết thảy chúng sinh trong khắp sáu cõi luân hồi: địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, a tu la và trời). Ngay khi đọc câu này, hành giả quán tưởng mình đứng giữa hư không, bên phải là cha đời này, bên trái là mẹ đời này, phía trước là những người từng gây oán trái, và vây quanh bốn phía là vô lượng chúng sinh sáu cõi cùng đồng thanh đọc lời quy y.

ལུས་ངག་ཡིད་གསུམ་གུས་པས་ཕྱག་འཚལ་ཞིང་། །བྱང་ཆུབ་མ་ཐོབ་བར་དུ་སྐྱབས་སུ་མཆི། (Câu 3 và 4)
Wylie: lus ngag yid gsum gus pas phyag 'tshal zhing / byang chub ma thob bar du skyabs su mchi

Câu 3 quy định tư thế hành lễ toàn diện qua ba cửa (sgo gsum): lus (thân thể cúi lạy hoặc chắp tay trang nghiêm), ngag (khẩu ngữ tụng lời cầu nguyện không gián đoạn) và yid (ý thức tràn đầy lòng tin kính gus pas). Động từ phyag 'tshal nghĩa là đảnh lễ: trong truyền thống Tây Tạng, phyag vừa chỉ bàn tay chắp lại, vừa chỉ việc quét sạch bụi nhơ bất tịnh của ba nghiệp, còn 'tshal là đón nhận ân phước trí tuệ của chư Phật.

Câu 4 đặt ra thời hạn của lời thệ nguyện: byang chub ma thob bar du (cho tới khi nào chưa chứng đắc quả vị Bồ đề giác ngộ thì còn quy y không thoái chuyển). Chữ byang chub là thuật ngữ chữ Tạng dịch khái niệm Giác ngộ (Bodhi): byang là làm cho trong sạch hết mọi lỗi lầm nhiễm ô, và chub là thành tựu trọn vẹn mọi công đức trí tuệ. Khác với sự cầu xin phước báu tạm thời trong một đời, quy y ở đây là lời cam kết đi trọn con đường tới tận quả vị Phật.

འདྲེན་པའི་བླ་མ་དམ་པ་ལ་སྐྱབས་སུ་མཆིའོ། ... གཡུང་དྲུང་སེམས་དཔའི་དགེ་འདུན་ལ་སྐྱབས་སུ་མཆིའོ། (Câu 5 và 6)
Wylie: 'dren pa'i bla ma dam pa ... g.yung drung sems dpa'i dge 'dun la skyabs su mchi'o

Nếu bốn câu đầu là bài kệ quy y tổng quát, thì câu 5 và câu 6 là công thức bốn câu tuyên xưng trực tiếp (thường được tụng lặp đi lặp lại hàng trăm biến trong mỗi thời khóa). Mỗi vế đều nêu rõ phẩm tính đặc trưng của từng ngôi bảo trước khi kết bằng cụm la skyabs su mchi'o (con xin chí thành quy y): ngôi thứ nhất là 'dren pa'i bla ma dam pa (Bậc Đạo Sư chân chính cao quý, người nắm tay kéo chúng sinh ra khỏi vực thẳm luân hồi, từ gốc động từ 'dren pa nghĩa là dẫn dắt, kéo lên); ngôi thứ hai là rdzogs pa'i sangs rgyas ston pa (Đấng Đạo Sư Phật Toàn Giác viên mãn, tức Đức Tonpa Shenrab Miwoche).

Ở câu 6, hai thuật ngữ cốt lõi nhất của thần học Bön xuất hiện sóng đôi: g.yung drung gi bon rin po che (Giáo Pháp Yungdrung Bön Quý Báu như ngọc như ý) và g.yung drung sems dpa'i dge 'dun (Tăng đoàn các bậc Bồ Tát Yungdrung Sempa). Chữ g.yung drung nghĩa là bất sinh bất diệt, vĩnh cửu không biến hoại; bởi vậy Yungdrung Sempa là bậc hành giả có tâm nguyện giác ngộ kiên cố như kim cang, không bị sinh tử hay nghịch cảnh làm lay chuyển.

ཐོག་མེད་དུས་ནས་ད་ལྟ་ཡན་ཆད་དུ། །མ་གྱུར་འགྲོ་དྲུག་སེམས་ཅན་ཐམས་ཅད་ཀྱི། །སྒྲིབ་གཉིས་བྱང་ཞིང་ཚོགས་གཉིས་རབ་རྫོགས་ནས། (Câu 7 và 8)
Wylie: thog med dus nas da lta yan chad du / ma gyur 'gro drug sems can thams cad kyi / sgrib gnyis byang zhing tshogs gnyis rab rdzogs nas

Từ câu 7, nghi thức chuyển sang phần Phát Tâm Bồ Đề (Sems bskyed, làm nảy nở hạt giống tâm giác ngộ). Câu 7 mở ra chiều kích thời gian vô tận của luân hồi: thog med dus nas da lta yan chad du (từ vô thủy kiếp không tìm được điểm bắt đầu cho tới tận ngày hôm nay). Vì vòng tái sinh đã kéo dài vô lượng kiếp như thế, không có bất kỳ một chúng sinh nào trong sáu cõi lại chưa từng có lần làm mẹ ruột (ma gyur) sinh thành, bồng bế và nhường miếng ăn cho ta. Nhận thức biết ơn mẹ và báo ơn mẹ đối với toàn thể sáu cõi là nền tảng cảm xúc của tâm đại bi Tây Tạng.

Câu 8 nêu rõ phương pháp tu tập cốt tủy để cứu giúp những người mẹ sáu cõi ấy: phải tịnh hóa hai lớp che chướng (sgrib gnyis, gồm phiền não chướng tức tham sân si ngăn cản giải thoát, và sở tri chướng tức cái nhìn nhị nguyên chủ khách ngăn cản trí toàn tri) đồng thời tích lũy viên mãn hai bồ tư lương (tshogs gnyis, gồm bồ công đức qua bố thí, trì giới, từ bi và bồ trí tuệ qua thiền quán tánh Không).

བླ་མེད་རྫོགས་པའི་སངས་རྒྱས་ཐོབ་བྱའི་ཕྱིར། ... འགྲོ་བའི་དོན་དུ་རྒྱུན་ཆད་མེད་པར་སྤྱད། (Câu 9 và 10)
Wylie: bla med rdzogs pa'i sangs rgyas thob bya'i phyir ... 'gro ba'i don du rgyun chad med par spyad

Câu 9 và câu 10 hợp lại thành hai mặt không thể tách rời của Tâm Bồ Đề. Câu 9 là Bồ đề tâm nguyện (Smon pa'i byang chub kyi sems, ví như người quyết tâm muốn lên đường đi tới một thành phố lớn): vì mục đích chứng đắc quả vị Phật Toàn Giác vô thượng không gì cao hơn (bla med rdzogs pa'i sangs rgyas thob bya'i phyir) để có đủ năng lực độ sinh, con xin phát khởi tâm Bồ Đề tối thắng (byang chub mchog tu sems ni bskyed par bgyi).

Câu 10 là Bồ đề tâm hành ('Jug pa'i byang chub kyi sems, ví như người đã thực sự cất bước đi trên con đường ấy): hành giả nguyện đem những công hạnh rộng lớn cuộn trào như sóng biển cả (spyod pa rlabs po che, tức Sáu hoặc Mười Ba-la-mật trong truyền thống Bön gồm bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, phương tiện, nguyện, lực, từ bi và trí tuệ) ra thực hành liên tục không đứt đoạn (rgyun chad med par spyad) vì lợi lạc của chúng sinh.

སེམས་ཅན་ཐམས་ཅད་བདེ་དང་ལྡན་གྱུར་ཅིག ... སེམས་ཅན་ཐམས་ཅད་བདེ་དང་མི་འབྲལ་ཤོག (Câu 11, 12 và 13)
Wylie: sems can thams cad bde dang ldan gyur cig ... bde dang mi 'bral shog

Bốn câu 11, 12, 13, 14 là Tứ Vô Lượng Tâm (Tshad med bzhi, bốn tâm lượng rộng lớn không bờ bến vì hướng tới vô lượng chúng sinh). Câu 11 là Từ vô lượng tâm (Byams pa tshad med): nguyện cho hết thảy chúng sinh đều có được hạnh phúc (bde) và nhân lành sinh ra hạnh phúc, giống như lòng người mẹ mong đứa con duy nhất của mình được ấm no. Câu 12 là Bi vô lượng tâm (Snying rje tshad med): nguyện cho hết thảy chúng sinh đều thoát khỏi khổ đau (sdug bsngal bral) và cội rễ của khổ đau.

Câu 13 là Hỷ vô lượng tâm (Dga' ba tshad med): nguyện cho hết thảy chúng sinh không bao giờ xa lìa niềm vui chân thật không pha trộn khổ đau (bde dang mi 'bral shog), đồng thời vui mừng chân thành trước phước lành của kẻ khác để đối trị tâm đố kỵ.

སེམས་ཅན་ཐམས་ཅད་ཉེ་རིང་ཆགས་སྡང་བྲལ་བའི་བཏང་སྙོམས་ལ་གནས་པར་གྱུར་ཅིག (Câu 14)
Wylie: sems can thams cad nye ring chags sdang bral ba'i btang snyoms la gnas par gyur cig

Câu 14 là Xả vô lượng tâm (Btang snyoms tshad med, tâm bình đẳng buông xả). Cấu trúc bốn chữ nye ring chags sdang chỉ thẳng căn bệnh trầm kha nhất của tâm phàm phu: vì phân biệt người này là nye (gần gũi, phe mình) nên khởi lòng chags (bám chấp, thiên vị), còn người kia là ring (xa lạ, nghịch ý mình) nên khởi lòng sdang (sân ghét, loại trừ). Tâm Xả trong đạo Bön không phải là sự dửng dưng lạnh nhạt, mà là việc san phẳng ngọn núi tham ái và lấp đầy vực sâu sân hận để lòng từ bi tỏa chiếu đồng đều như ánh mặt trời không chọn lọc đám mây hay ngọn cỏ.

Cần lưu ý một nét đặc sắc trong thực hành thiền định của Yungdrung Bön (cũng như dòng Nyingma): khi giảng giải lý thuyết thì xếp theo thứ tự Từ, Bi, Hỷ, Xả (như câu 11 tới 14), nhưng khi bước vào quán tưởng thực hành trong khóa dự bị Ngöndro, các vị thầy luôn dạy học trò quán câu Xả vô lượng tâm (câu 14) đầu tiên. Lý do là nếu mảnh đất tâm còn gồ ghề thương ghét thiên vị, thì lòng Từ và lòng Bi trồng lên đó sẽ lập tức biến thành tình cảm ích kỷ chỉ thương người nhà mình; phải san bằng mảnh đất bằng tâm Xả trước rồi mới gieo hạt giống Từ, Bi, Hỷ lên trên.

སྒོ་གསུམ་དག་པའི་དགེ་བ་གང་བགྱིས་པ། །ཁམས་གསུམ་སེམས་ཅན་རྣམས་ཀྱི་དོན་དུ་བསྔོ། (Câu 15 và 16)
Wylie: sgo gsum dag pa'i dge ba gang bgyis pa / khams gsum sems can rnams kyi don du bsngo

Bốn câu cuối cùng (15 tới 18) là bài Kệ Hồi Hướng Công Đức (Bsngo ba) nổi tiếng bậc nhất của truyền thống Yungdrung Bön, được đọc khép lại mọi thời kinh, mọi buổi giảng pháp và mọi khóa thiền. Câu 15 gom lại toàn bộ căn lành thanh tịnh mà hành giả vừa tạo dựng qua cả ba cửa thân, khẩu, ý (sgo gsum dag pa'i dge ba gang bgyis pa).

Câu 16 thực hiện động tác bsngo (hồi hướng, chuyển trao toàn bộ công đức ấy không giữ lại chút nào cho riêng mình) tới hết thảy chúng sinh trong khắp ba cõi (khams gsum: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới). Các luận sư Bön dạy rằng một giọt nước công đức nếu giữ riêng cho cái tôi thì sẽ sớm khô cạn bởi một cơn giận dữ, nhưng nếu hòa giọt nước ấy vào đại dương hồi hướng cho khắp ba cõi thì giọt nước ấy sẽ tồn tại bất tận cho tới ngày thành Phật.

དུས་གསུམ་བསགས་པའི་ལས་སྒྲིབ་ཀུན་བྱང་ནས། །སྐུ་གསུམ་རྫོགས་པའི་སངས་རྒྱས་མྱུར་ཐོབ་ཤོག། (Câu 17 và 18)
Wylie: dus gsum bsags pa'i las sgrib kun byang nas / sku gsum rdzogs pa'i sangs rgyas myur thob shog

Câu 17 và 18 hoàn tất cấu trúc đối ngẫu chữ Tạng vô cùng chặt chẽ của bài kệ hồi hướng: nếu câu 15 mở đầu bằng sgo gsum (ba cửa thân khẩu ý) và câu 16 mở đầu bằng khams gsum (ba cõi thế giới), thì câu 17 mở đầu bằng dus gsum (ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai) và câu 18 mở đầu bằng sku gsum (Ba Thân của bậc giác ngộ). Bốn cụm ba cửa, ba cõi, ba thời, ba thân đứng đầu bốn dòng thơ tạo nên nhạc tính trang nghiêm khó quên khi tụng bằng tiếng Tạng.

Nội dung hai câu cuối tóm kết mục tiêu tối hậu của người tu Bön: nguyện cho mọi nghiệp chướng tích chứa trong ba thời đều được tẩy sạch (las sgrib kun byang nas), để cả con và muôn loài chóng thành tựu quả vị Phật Toàn Giác viên mãn đủ Ba Thân (Bon sku, Rdzogs sku, Sprul sku).

IVCấu Trúc Cây Quy Y (Tshogs Zhing) Trong Thiền Quán Quy Y Của Yungdrung Bön

Trong truyền thống Yungdrung Bön, việc đọc tụng các câu kệ Skyabs 'gro sems bskyed không bao giờ chỉ là việc đọc chữ bằng miệng mà luôn đi kèm với pháp quán tưởng Ruộng Phước Quy Y hay Cây Quy Y (tiếng Tạng là Skyabs 'gro'i tshogs zhing). Hành giả quán tưởng phía trước mình giữa hư không hiện lên một cây bảo thụ khổng lồ mọc lên từ biển sữa, tỏa ra năm nhánh lớn ứng với trung tâm và bốn phương, trên đó hội tụ toàn bộ các bậc giác ngộ của dòng truyền thừa.

Sơ đồ bố cục các ngôi vị trên Cây Quy Y (Tshogs zhing) của truyền thống Yungdrung Bön theo nghi quỹ Tu viện Menri
Vị trí trên Cây Quy YCác ngôi vị hiển hiệnÝ nghĩa biểu trưng và vai trò trong pháp tu Quy Y
Trung tâm và trên đỉnhBổn Sư gốc trong hình tướng Shenrab Miwoche hoặc đại tổ sư Nyame Sherab Gyaltsen, phía trên đỉnh đầu là Shenlha Ökar (Báo thân) và Kuntu Zangpo (Pháp thân)Biểu trưng cho vị Đạo Sư gốc (Bla ma) là tâm điểm hội tụ Ba Thân và là cầu nối trực tiếp truyền trao ân phước của toàn bộ dòng truyền thừa xuống hành giả
Nhánh phía trước (Phương Đông)Chư vị Bổn Tôn (Yi dam) an bình và uy nộ: từ Tứ Đại Thánh Tôn An Bình (Gshen lha 'od dkar, Sangs po 'bum khri, Shes rab byams ma, Ston pa gshen rab) tới Ngũ Đại Bổn Tôn Uy Nộ (Gsas mkhar mchog lnga: Welse Ngampa, Lhagö Thogpa, Trowo Tsochog, Ge khod, Phurpa)Đại diện cho ngôi Phật và gốc thành tựu trong Nội quy y, chuyển hóa năm độc (tham, sân, si, mạn, nghi) thành năm trí tuệ nguyên sơ
Nhánh bên phải (Phương Nam)Chư Phật ba thời cùng các bậc Bồ Tát Yungdrung Sempa và hàng Thánh Tăng xuất gia giữ giới luật thanh tịnh (Drang srong)Đại diện cho ngôi Tăng Bảo (Gshen rab / Dge 'dun), những người bạn đồng hành và tấm gương hộ trì giới luật trên con đường giải thoát
Nhánh phía sau (Phương Tây)Toàn bộ kinh điển Yungdrung Bön chất thành từng chồng kinh sách chữ Tạng bọc lụa năm sắc, tỏa ánh sáng cầu vồng và tự ngân vang âm thanh của các nguyên âm, phụ âmĐại diện cho ngôi Pháp Bảo (G.yung drung gi bon rin po che) gồm Chín Thừa và Bốn Cửa Kho Tàng cùng Kho Thứ Năm giúp đoạn trừ vô minh
Nhánh bên trái (Phương Bắc)Chư vị Mkha' 'gro (Không hành mẫu, đứng đầu là Tứ Đại Chamma và Thập Nhị Nữ Hộ Địa) cùng các bậc Dpa' bo và Dpa' moĐại diện cho năng lực trí tuệ không tính và sự trợ duyên thành tựu các hoạt dụng từ bi, chữa lành, tăng ích trên đường tu
Dưới gốc và vòng hộ vệTam Đại Hộ Pháp Xuất Thế Gian của Bön (Ma Bdud Btsan gsum): Nữ hoàng Hộ pháp Sidpa Gyalmo cưỡi la đen, Midü Jampa và Yeshe Walmo cùng chư thần Tứ Đại Thiên VươngTrấn giữ bốn phương dưới tán cây bảo thụ, dẹp trừ các chướng ngại nội ngoại để hành giả yên ổn tu tập tới ngày giác ngộ
Theo giáo nghĩa

Theo chỉ dẫn thiền quán của các bậc thầy tại Tu viện Menri và Triten Norbutse, ở cuối mỗi thời tụng Skyabs 'gro sems bskyed, hành giả không bao giờ tự ý đứng dậy rời tòa mà phải thực hiện bước thu nhiếp Cây Quy Y (Bsdu rim): quán tưởng từ tim của toàn bộ chư vị trên Cây Quy Y phóng ra vô lượng tia sáng năm màu chiếu thẳng vào đỉnh đầu, cổ họng và tim của mình cùng hết thảy chúng sinh sáu cõi, rửa sạch mọi bệnh tật, nghiệp chướng. Sau đó, toàn bộ Cây Quy Y từ ngoài rìa tan dần thành ánh sáng thu vào vị Bổn Sư ở trung tâm; vị Bổn Sư lại hóa thành một giọt ánh sáng trắng ngời đi qua đỉnh đầu xuống ngự ngay giữa tim của hành giả. Khoảnh khắc tâm của vị thầy, tâm của chư Phật và tâm tự nhiên của hành giả hòa làm một không hai không khác chính là điểm nối từ pháp tu Quy y bước thẳng vào thiền định Đại Toàn Thiện (Dzogchen).

VThực Hành Trong Khóa Dự Bị Ngöndro (100.000 Biến) Và Công Phu Hằng Ngày

Mười tám câu kệ trên trang này gắn liền với hai nhịp thực hành lớn trong đời sống nghi thức hành lễ Đạo Bön và hệ thống đào tạo tăng đoàn Bönpo: khóa tu tích lũy dự bị Ngöndro và công phu thường nhật của cư sĩ lẫn tu sĩ.

1. Tích lũy 100.000 biến Quy Y kèm lễ lạy dài (Ngöndro)

Trong hệ thống Chín Pháp Dự Bị (Sngon 'gro 'bum dgu) của truyền thống Zhang Zhung Nyan Gyud và A khrid, người học trò phải tụng đủ 100.000 biến bài kệ Quy Y (câu 1 tới 4 hoặc câu 5 và 6) kết hợp với 100.000 cái lạy toàn thân (phyag 'tshal): chắp tay chạm đỉnh đầu (tịnh hóa thân nghiệp, nguyện đạt ấn tướng nhục kế của Phật), chạm cổ họng (tịnh hóa khẩu nghiệp, nguyện đạt giọng nói sáu mươi âm thanh của Phật), chạm giữa ngực (tịnh hóa ý nghiệp, nguyện đạt tâm trí tuệ của Phật) rồi trượt thẳng toàn thân nằm sấp trên tấm ván gỗ trước bàn thờ.

2. Tích lũy 100.000 biến Phát Tâm Bồ Đề và Tứ Vô Lượng Tâm

Ngay sau khi hoàn thành phần Quy Y, hành giả tiếp tục tích lũy 100.000 biến bài kệ Phát Tâm Bồ Đề (câu 7 tới 10) và quán chiếu sâu sắc bốn câu Tứ Vô Lượng Tâm (câu 11 tới 14, bắt đầu từ tâm Xả bình đẳng) để chuyển hóa tận gốc thái độ vị kỷ thành lòng từ bi rộng mở trước khi bước vào pháp quán Yidam hay Dzogchen.

3. Mở đầu mọi thời công phu sáng tối tại tu viện và tư gia

Trong mọi khóa lễ tập thể tại Tu viện Menri, Tu viện Triten Norbutse cũng như trước bàn thờ gia đình của người Bönpo ở Dolpo, Mustang, Amdo, Kham hay tại các trung tâm phương Tây, bốn câu Quy Y và bốn câu Phát Tâm luôn được đọc tối thiểu ba lần liên tiếp ở đầu buổi lễ để thiết lập trường năng lượng thanh tịnh.

4. Trước khi nghe giảng pháp, thọ giới hoặc hành thiền

Trước mỗi buổi giảng giáo lý Chín Thừa hay truyền khẩu quyết Dzogchen, vị Pháp sư và toàn thể học chúng cùng tụng bài nguyện Quy Y, Phát Tâm và Tứ Vô Lượng Tâm để nhắc nhở rằng việc học pháp không phải để tranh hơn thua hay cầu danh lợi thế gian, mà duy nhất vì sự giải thoát của các bà mẹ chúng sinh sáu cõi.

5. Đọc Kệ Hồi Hướng (câu 15 tới 18) khép lại mọi thiện sự

Bất kể sau một giờ ngồi thiền, sau khi đi nhiễu tháp ngược chiều kim đồng hồ và lần chuỗi Chân Ngôn Ma Tri, hay sau khi làm một việc bố thí giúp người, người Bönpo luôn chắp tay đọc bốn câu Kệ Hồi Hướng Sgo gsum dag pa'i dge ba gang bgyis pa... để niêm phong công đức không bị thất thoát.

VINhững Chỗ Hay Hiểu Lầm

Khi tiếp xúc với văn bản chữ Tạng của nghi thức Quy Y và Phát Tâm Bồ Đề Bönpo, người đọc thường gặp năm điểm dễ nhầm lẫn dưới đây.

Đạo Bön là tôn giáo shaman cổ sơ nên không có khái niệm Quy Y hay Phát Tâm Bồ Đề

Nhận định đó xuất phát từ sự nhầm lẫn giữa các tín ngưỡng dân gian tiền cổ với hệ thống Yungdrung Bön kinh viện. Ngay nguyên bản chữ Tạng trên trang này chứng minh rằng mọi thời công phu của Yungdrung Bön đều mở đầu bằng việc quy y Bốn Ngôi Bảo (Skyabs 'gro), phát khởi tâm Bồ Đề cứu độ sáu cõi (Sems bskyed), quán Tứ Vô Lượng Tâm (Tshad med bzhi) và hồi hướng về quả vị Phật Ba Thân.

Chữ Bon trong câu kệ thứ nhất chỉ là tên gọi riêng của một giáo phái đối lập với chữ Chos

Trong ngữ cảnh triết học của câu kệ Bla ma sangs rgyas bon dang gshen rab la, chữ Bon (བོན་) giữ đúng vai trò của khái niệm Dharma: vừa chỉ toàn bộ lời dạy giác ngộ của chư Phật, vừa chỉ bản thể chân lý thực tại bất biến của vạn pháp, chứ không đơn thuần là nhãn hiệu tổ chức tôn giáo.

Đặt vị Đạo Sư (Bla ma) đứng trước cả Đức Phật (Sangs rgyas) là hạ thấp ngôi vị của Phật

Trong cả Yungdrung Bön lẫn các dòng truyền thừa Mật tông Tây Tạng, vị Đạo Sư gốc được xếp ở vị trí mở đầu không phải vì cao hơn Phật về mặt bản thể, mà xét theo ân đức trực tiếp đối với người học: thân của Đạo Sư là Tăng, lời của Đạo Sư là Pháp, và tâm của Đạo Sư chính là Phật đang sống động trước mắt để dẫn dắt đệ tử.

Danh hiệu Gshen rab và G.yung drung sems dpa' hoàn toàn xa lạ với lý tưởng Bồ Tát

Thực chất G.yung drung sems dpa' (bậc Anh hùng của Tâm Vĩnh Hằng Bất Hoại) chính là thuật ngữ tiếng Tạng cổ của đạo Bön tương đương hoàn toàn với bậc đại Bồ Tát: người đã phát nguyện ở lại thực hành công hạnh rộng lớn như sóng biển (spyod pa rlabs po che) để đưa hết thảy chúng sinh sáu cõi tới giác ngộ.

Quy y trong đạo Bön chỉ là nghi thức xin thần linh ban phước lành thế gian

Câu thứ tư của bài kệ đã khẳng định rõ giới hạn phân biệt giữa tín ngưỡng cầu an thế tục và sự quy y giải thoát: byang chub ma thob bar du skyabs su mchi (quy y cho tới ngày chứng đắc quả vị giác ngộ). Ở tầng sâu nhất (Mật quy y), quy y là nhận ra bản tính tự nhiên thanh tịnh vốn có của chính tâm mình.

?Hỏi Đáp Nhanh

Bốn Ngôi Bảo (Tứ Bảo) mà người theo đạo Bön quy y là những ngôi nào

Trong truyền thống Yungdrung Bön, người tu quy y Bốn Ngôi Bảo (Skyabs gnas bzhi) được xướng danh ngay ở câu đầu tiên của bài kệ (Bla ma sangs rgyas bon dang gshen rab la): (1) Bla ma là Bậc Đạo Sư Bổn Sư trực tiếp truyền trao giáo pháp và ân phước; (2) Sangs rgyas là Đấng Giác Ngộ, đứng đầu là Đức Phật Tonpa Shenrab Miwoche; (3) Bon (Yungdrung Bön) là Giáo Pháp Vĩnh Hằng bất hoại gồm Chín Thừa và Bốn Cửa Kho Tàng; và (4) Gshen rab (hay G.yung drung sems dpa'i dge 'dun) là Tăng Đoàn các bậc Bồ Tát Yungdrung Sempa và hàng Thánh tăng giữ giới thanh tịnh.

Vì sao trong bài nguyện chữ Tạng của Bön lại dùng chữ Bon và Yungdrung Sempa

Khi các truyền thống Phật giáo Tây Tạng dịch kinh điển từ tiếng Phạn, họ dùng chữ Chos để dịch Dharma (Pháp) và Byang chub sems dpa' để dịch Bodhisattva (Bồ Tát). Còn truyền thống Yungdrung Bön bảo tồn hệ thuật ngữ tiếng Tạng cổ bắt nguồn từ văn hóa Zhangzhung: dùng chính chữ Bon để chỉ Chân lý thực tại và Giáo pháp giác ngộ, và dùng danh hiệu G.yung drung sems dpa' (Yungdrung Sempa, bậc Anh hùng mang tâm vĩnh hằng bất hoại như chữ vạn yungdrung) để chỉ bậc Bồ Tát phát nguyện độ sinh.

Cụm từ Ma gyur 'gro drug sems can trong phần Phát Tâm Bồ Đề nghĩa là gì

Ma gyur 'gro drug sems can (câu 7) nghĩa là hết thảy chúng sinh trong sáu cõi luân hồi từng làm mẹ của con. Giáo lý Bön dạy rằng vì vòng luân hồi đã kéo dài từ vô thủy kiếp không có điểm khởi đầu (thog med dus nas), không có một sinh linh nào trong sáu cõi (địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, a tu la, trời) lại chưa từng có kiếp làm mẹ ruột sinh thành và nuôi dưỡng ta. Nhớ nghĩ tới công ơn làm mẹ của muôn loài là động lực trực tiếp làm nảy sinh tâm đại bi và tâm Bồ Đề.

Vì sao khi thực hành thiền quán, các thầy Bön lại dạy quán câu Xả vô lượng tâm đầu tiên

Trong bốn câu Tứ Vô Lượng Tâm (Từ, Bi, Hỷ, Xả ở các câu 11 tới 14), câu thứ 14 là Xả vô lượng tâm (Btang snyoms tshad med): nguyện cho chúng sinh lìa xa sự phân biệt gần xa, thương ghét (nye ring chags sdang). Các bậc thầy Bön dạy rằng nếu chưa dùng tâm Xả để san phẳng thói quen thiên vị người thân và thù ghét kẻ nghịch, thì lòng Từ và lòng Bi phát ra sẽ bị lệch lạc thành sự bám chấp phe nhóm. Do đó trong thực hành Ngöndro, hành giả luôn quán tâm Xả trước để làm phẳng mảnh đất tâm, rồi mới tưới tẩm tâm Từ, Bi, Hỷ.

Cây Quy Y (Tshogs zhing) của đạo Bön được quán tưởng như thế nào khi đọc bài nguyện này

Khi tụng bài nguyện Quy Y, hành giả quán tưởng phía trước mình giữa hư không mọc lên một cây bảo thụ năm nhánh từ biển sữa: ở trung tâm là vị Bổn Sư gốc trong hình tướng Tonpa Shenrab hoặc Tổ Nyame Sherab Gyaltsen (trên đỉnh đầu có Shenlha Ökar và Kuntu Zangpo); nhánh phía trước là chư Bổn tôn Yidam an bình và uy nộ; nhánh bên phải là chư Phật và Bồ Tát Yungdrung Sempa; nhánh phía sau là kinh điển Yungdrung Bön; nhánh bên trái là chư Không hành mẫu Khandro; và dưới gốc cây là Tam Đại Hộ Pháp (Sidpa Gyalmo, Midü Jampa, Yeshe Walmo). Cuối thời lễ, cả Cây Quy Y tan thành ánh sáng hòa vào tâm hành giả.

Bốn câu Kệ Hồi Hướng ở cuối bảng kinh có cấu trúc chữ Tạng đặc biệt ra sao

Bốn câu Kệ Hồi Hướng (câu 15 tới 18: Sgo gsum dag pa'i dge ba gang bgyis pa...) được kiến trúc bằng phép điệp số ba ở hai chữ đầu mỗi dòng: câu 15 mở bằng Sgo gsum (ba cửa thân, khẩu, ý), câu 16 mở bằng Khams gsum (ba cõi Dục, Sắc, Vô sắc), câu 17 mở bằng Dus gsum (ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai), và câu 18 mở bằng Sku gsum (Ba Thân của Phật quả là Bon sku, Rdzogs sku, Sprul sku). Toàn bộ thiện nghiệp của ba cửa được trao tặng cho chúng sinh ba cõi để tịnh hóa nghiệp chướng ba thời và thành tựu viên mãn Ba Thân.

›Đọc Tiếp