ITrước Khi Đọc
Trong toàn bộ Tam Tạng Pāli, hiếm có bài kinh nào vừa ngắn gọn để một đứa trẻ chùa làng thuộc lòng sau vài buổi tối, lại vừa thâu tóm trọn vẹn con đường tu tập từ nếp sống hiền thiện thường nhật cho tới tuệ giác giải thoát như Kinh Từ Bi (Karaṇīyamettasutta). Chỉ gói trong mười bài kệ, bản kinh mở ra bằng mười lăm phẩm chất của một người chân thật, biết đủ, dễ nuôi, rồi nâng tâm người đọc vượt khỏi ranh giới thân sơ để ôm trọn muôn loài hữu tình bằng lòng thương không đòi hỏi, trước khi khép lại nơi quả vị chấm dứt tái sinh.
Tên Pāli của bài kinh thường được gọi theo hai cách. Trong Tiểu Tụng (Khuddakapāṭha) và Kinh Tập (Sutta Nipāta), tiêu đề ngắn là Mettasutta, nghĩa là bài kinh bàn về mettā, tức tâm từ, lòng thương mến hiền hòa mong cho muôn loài được an vui. Trong truyền thống tụng niệm khắp Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia và hệ Nam tông Việt Nam, bài kinh thường được ghép thêm chữ đầu tiên của câu mở màn thành Karaṇīyamettasutta, nghĩa là bài kinh về điều cần phải làm để tu tập tâm từ, nhằm phân biệt với các bài kinh khác cũng mang tên Mettasutta trong Tăng Chi Bộ hay Tương Ưng Bộ.
Ở Việt Nam, tên gọi quen thuộc nhất trong dân gian và trong nhiều nghi thức cầu an là Kinh Từ Bi, đôi khi dịch sát chữ Pāli hơn là Kinh Tâm Từ hoặc Kinh Rải Tâm Từ. Cần lưu ý ngay một điểm ngữ nghĩa tinh tế: chữ mettā trong nguyên văn Pāli tương đương với chữ maitrī của tiếng Phạn, vốn là chữ Từ (mong cho chúng sinh được an lạc), còn chữ Bi là karuṇā (thương xót muốn cứu giúp khi chúng sinh chịu khổ). Tuy nguyên văn chỉ gọi tên mettā, người Việt xưa nay quen ghép hai chữ Từ Bi thành một từ đôi chỉ tấm lòng rộng thương không oán ghét, nên tên Kinh Từ Bi đã bén rễ sâu trong đời sống tôn giáo nước nhà.
Ở mục Toàn Văn dưới đây, cột nguyên văn giữ nguyên mặt chữ Pāli hệ Latinh chuẩn quốc tế với đầy đủ các dấu trường âm và âm uốn lưỡi (ā, ī, ū, ṃ, ṇ, ṭ, ḍ, ṅ, ñ), vì chữ Pāli vốn không có bộ chữ riêng cố định mà được chép bằng chữ Sinhala, chữ Miến, chữ Thái, chữ Khmer hoặc chữ Latinh tùy từng xứ. Riêng con dấu trên đầu trang in chữ Hán Từ (慈) để đồng bộ thẩm mỹ với hệ thống ấn ký của thư viện, đồng thời nhắc nhớ mạch tương thông giữa mettā của tạng Pāli và pháp môn Từ vô lượng tâm trong tạng Hán.
Theo bộ chú giải cổ điển Paramatthajotikā mà truyền thống Thượng tọa bộ quy cho luận sư Buddhaghosa (Phật Âm, thế kỷ thứ năm), bài kinh ra đời từ một biến cố cụ thể trong mùa an cư kiết hạ. Bấy giờ có năm trăm vị tỳ khưu nhận đề mục thiền quán từ Đức Phật tại thành Xá Vệ (Sāvatthī) rồi tìm đến một cánh rừng gần dãy Tuyết Sơn để chuyên tâm hành đạo. Thấy giới hạnh thanh tịnh của chư tăng, dân làng quanh vùng phát tâm dựng năm trăm am lá nhỏ dưới các gốc cây lớn để cúng dường chỗ trú mưa.
Theo lời kể của bản sớ giải, các vị chư thiên nương ngụ trên cây (rukkhadevatā) vốn có quy tắc tôn kính bậc phạm hạnh nên không dám ở trên cành cao khi bên dưới gốc cây có bậc giữ giới đang ngồi thiền. Ban đầu chư thiên dắt díu con nhỏ xuống mặt đất tạm lánh vì nghĩ chư tăng chỉ nghỉ chân một hai đêm. Khi biết chư tăng sẽ ở trọn ba tháng mùa mưa, một số vị thần cây sinh lòng bực bội, bèn hiện hình dáng ghê rợn, phát tiếng hú thét và mùi hôi tanh ban đêm khiến chư tăng hoảng sợ, thân thể xanh xao, tâm không định tĩnh được. Năm trăm vị đành quay về tịnh xá Kỳ Viên (Jetavana) bạch Phật xin đổi chỗ tu.
Quán xét khắp cõi Diêm Phù Đề không nơi nào thích hợp cho sự chứng đắc của nhóm tỳ khưu này hơn chính khu rừng ấy, Đức Phật dạy cho các vị toàn văn bài Karaṇīyamettasutta vừa làm pháp hộ thân (paritta), vừa làm đề mục thiền quán rải tâm từ và nền tảng tiến lên thiền minh sát. Khi năm trăm vị vừa bước vào cửa rừng vừa đồng thanh trì tụng và khởi tâm từ chân thật hướng tới muôn loài hữu hình lẫn vô hình, tâm các vị thần cây liền dịu xuống, chuyển hiềm khích thành thiện cảm, tự nguyện che chở và giữ yên khu rừng. Cũng ngay trong mùa mưa năm ấy, nhờ kết hợp định lực của tâm từ với quán chiếu vô thường, tất cả năm trăm vị đều chứng đắc quả vị giải thoát.
Đứng từ góc nhìn ngữ văn học và sử học Phật giáo hiện đại, các học giả như K. R. Norman, Oskar von Hinüber và Bhikkhu Bodhi tách bạch rõ phần chính văn kệ tụng với câu chuyện duyên khởi bằng văn xuôi. Bản thân mười bài kệ trong Khuddakapāṭha 9 và Sutta Nipāta 1.8 hoàn toàn không nhắc tới chuyện thần cây dọa tỳ khưu; toàn bộ duyên khởi ấy chỉ xuất hiện trong tầng văn chú giải (Aṭṭhakathā) được biên tập thành văn bản Pāli hoàn chỉnh vào khoảng thế kỷ thứ năm tại Tích Lan dựa trên các nguồn truyền tụng Sinhala cổ hơn.
Về tuổi của chính văn, phẩm Rắn (Uragavagga) cùng với phẩm Sừng Tê Giác và phẩm Tám Kệ của Sutta Nipāta được giới ngôn ngữ học Ấn Độ đánh giá là một trong những tầng văn bản xưa nhất của toàn bộ kinh điển Phật giáo. Bằng chứng nằm ở hai đặc điểm kỹ thuật khó làm giả về sau. Thứ nhất là thể thơ: toàn bài làm theo điệu Old Gīti (tiền thân của thể Āryā trong tiếng Phạn cổ điển), đếm theo đơn vị trường độ âm thanh (mātrā hay mora) thay vì đếm số âm tiết cố định như thể Śloka phổ thông đời sau. Thứ hai là hình thái ngữ pháp Pāli cổ còn lưu dấu tiếng Prakrit miền Trung Ấn Độ thời kỳ đầu, chẳng hạn biến cách tối giản sabbalokasmi không có âm mũi cuối, hoặc dạng phân từ bất biến vinaya song hành cùng vineyya.
Việc cùng một bài kinh có mặt ở cả Sutta Nipāta lẫn Khuddakapāṭha phản ánh lịch sử hình thành sổ tay hành trì của tăng đoàn. Sutta Nipāta là tuyển tập thi kệ cổ lão, còn Khuddakapāṭha (Tiểu Tụng) là cuốn cẩm nang ngắn gồm chín bài căn bản được biên tập muộn hơn một chút để dạy cho hàng sa di mới xuất gia và cư sĩ tại gia học thuộc lòng. Việc các nhà kết tập chọn đưa trọn vẹn mười bài kệ này làm bài khép lại cuốn Tiểu Tụng chứng tỏ vị trí trụ cột của bài kinh trong giáo dục Phật giáo sơ kỳ.
IIToàn Văn Mười Bài Kệ Theo Ấn Bản Chaṭṭha Saṅgāyana
Mười bài kệ gốc được tách thành hai mươi câu theo đúng hai nửa kệ (mỗi nửa kệ gồm hai dòng pāda) của truyền thống kết tập Miến Điện lần thứ sáu. Cột nguyên văn ghi chuẩn Pāli hệ Latinh IAST; cột nhịp đọc ghi âm đọc Việt hóa liền mạch theo lối tụng truyền thống tại các chùa Nam tông Kinh ở Việt Nam để người đọc mới dễ bắt nhịp; hai cột dịch nghĩa Việt và Anh do thư viện tự dịch sát cấu trúc cú pháp nguyên bản.
| Câu | Nguyên văn Pāli | Nhịp đọc Nam tông | Tiếng Việt | Tiếng Anh |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Karaṇīyamatthakusalena, yanta santaṃ padaṃ abhisamecca; | Ka-ra-ni-gia-mắt-tha-ku-sa-lê-na, gian-ta san-tăng pa-đăng a-bhi-sa-mết-cha; | Đây là điều cần làm bởi người thiện xảo trong lợi ích chân chính, khi hướng tới chứng đạt cảnh giới tịch tịnh ấy: | This is what should be done by one skilled in true good, having comprehended and set one's heart upon that state of peace: |
| 2 | Sakko ujū ca suhujū ca, sūvaco cassa mudu anatimānī. | Sắc-kô u-du cha su-hu-du cha, su-va-chô chắt-sa mu-đu a-na-ti-ma-ni. | Người ấy phải có năng lực, ngay thẳng và thật sự ngay thẳng, dễ khuyên bảo, hiền nhu và không kiêu mạn. | Let such a person be capable, upright and thoroughly upright, easy to instruct, gentle and free from arrogance. |
| 3 | Santussako ca subharo ca, appakicco ca sallahukavutti; | San-tút-sa-kô cha su-bha-rô cha, áp-pa-kít-chô cha sa-la-hu-ka-vút-ti; | Biết tri túc và dễ nuôi dưỡng, ít bận rộn thế sự và có nếp sống nhẹ nhàng giản dị; | Contented and easy to support, with few worldly duties and a light, unburdened way of living; |
| 4 | Santindriyo ca nipako ca, appagabbho kulesvananugiddho. | San-tin-đri-giô cha ni-pa-kô cha, áp-pa-gắp-bhô ku-lê-sva-na-nu-gít-đhô. | các căn lắng dịu, trí xét nét thận trọng, cử chỉ khiêm cung không thô tháo và chẳng quyến luyến dính mắc các gia đình thí chủ. | with calmed senses and prudent discernment, courteous without rudeness, and unattached to households. |
| 5 | Na ca khuddamācare kiñci, yena viññū pare upavadeyyuṃ; | Na cha khút-đa-ma-cha-rê kin-chi, giê-na vin-nhu pa-rê u-pa-va-đây-giung; | Chẳng làm bất cứ điều quấy nhỏ nhặt nào khiến các bậc hiểu biết khác có thể quở trách; | Let one not commit even the slightest fault for which wise observers might rightly offer reproof. |
| 6 | Sukhino va khemino hontu, sabbasattā bhavantu sukhitattā. | Su-khi-nô va khê-mi-nô hôn-tu, sáp-ba-sắt-ta bha-van-tu su-khi-tắt-ta. | và nguyện rằng: Mong sao hết thảy chúng sinh đều được an vui, được bình yên không hiểm họa, tự tâm đều hưởng hạnh phúc. | May they be happy and safe from harm; may all living beings be inwardly joyful and at ease. |
| 7 | Ye keci pāṇabhūtatthi, tasā vā thāvarā vanavasesā; | Giê kê-chi pa-na-bhu-tắt-thi, ta-sa va tha-va-ra va-na-va-sê-sa; | Phàm có loài sinh vật hữu tình nào hiện hữu, dù còn run sợ trước hiểm nguy hay đã vững chãi bất động, trọn thảy không chừa sót một ai; | Whatever breathing beings exist, whether still trembling with fear or firm and unshaken, without a single exception; |
| 8 | Dīghā vā ye va mahantā, majjhimā rassakā aṇukathūlā. | Đi-gha va giê va ma-han-ta, mắt-dhi-ma rắt-sa-ka a-nu-ka-thu-la. | dù thân hình dài hay to lớn, bậc trung hay thấp ngắn, vi tế nhỏ nhiệm hay thô kệch đầy đặn. | whether long in body or mighty in size, medium, short, minute or rounded and bulky; |
| 9 | Diṭṭhā vā ye va adiṭṭhā, ye va dūre vasanti avidūre; | Đít-tha va giê va a-đít-tha, giê va đu-rê va-san-ti a-vi-đu-rê; | Dù là loài mắt thường trông thấy hay loài chẳng trông thấy, dù cư ngụ ở chốn xa xôi hay ngay nơi gần gũi; | whether seen with the eye or unseen, whether dwelling far away or right nearby; |
| 10 | Bhūtā va sambhavesī va, sabbasattā bhavantu sukhitattā. | Bhu-ta va sam-bha-vê-si va, sáp-ba-sắt-ta bha-van-tu su-khi-tắt-ta. | dù là bậc đã sinh thành trọn vẹn hay loài còn đang tìm chỗ thọ sinh, mong sao hết thảy chúng sinh tự tâm đều hưởng an lạc. | whether already born or still seeking birth, may all living beings be inwardly joyful and at ease. |
| 11 | Na paro paraṃ nikubbetha, nātimaññetha katthaci na kañci; | Na pa-rô pa-răng ni-kúp-bê-tha, na-ti-măn-nhê-tha cắt-tha-chi na căn-chi; | Nguyện người này đừng lừa dối kẻ khác, đừng khinh miệt bất cứ một ai ở bất cứ nơi đâu; | Let no one deceive another, nor look down in contempt upon anyone anywhere at all; |
| 12 | Byārosanā paṭighasañña, nāññamaññassa dukkhamiccheyya. | Bia-rô-sa-na pa-ti-gha-săn-nha, năn-nha-măn-nhắt-sa đúc-kha-mít-chây-gia. | đừng vì lời hằn học giận dữ hay tưởng bực dọc chống trái trong lòng mà mong muốn điều khổ đau đến cho nhau. | out of angry provocation or inward thoughts of resentment, let no one wish suffering upon another. |
| 13 | Mātā yathā niyaṃ puttam āyusā ekaputtamanurakkhe; | Ma-ta gia-tha ni-giăng pút-tăm a-giu-sa ê-ka-pút-ta-ma-nu-rắc-khê; | Cũng như người mẹ đem cả mạng sống của mình ra che chở và gìn giữ đứa con ruột duy nhất, | Just as a mother would guard and protect her own child, her only child, even with her own life, |
| 14 | Evampi sabbabhūtesu, mānasaṃ bhāvaye aparimāṇaṃ. | Ê-văm-pi sáp-ba-bhu-tê-su, ma-na-săng bha-va-giê a-pa-ri-ma-năng. | đúng như thế, đối với hết thảy muôn loài hữu tình, hãy tu tập và mở rộng tấm lòng thương mến vô lượng không bờ bến. | even so, toward all beings without exception, let one cultivate a boundless heart of care. |
| 15 | Mettañca sabbalokasmi, mānasaṃ bhāvaye aparimāṇaṃ; | Mết-tăn-cha sáp-ba-lô-kắt-smi, ma-na-săng bha-va-giê a-pa-ri-ma-năng; | Và hãy tu tập tâm từ vô lượng ấy trùm khắp cả thế gian, | Let one cultivate a boundless heart of loving-kindness toward the entire cosmos, |
| 16 | Uddhaṃ adho ca tiriyañca, asambādhaṃ averamasapattaṃ. | Út-đhăng a-đhô cha ti-ri-giăn-cha, a-sam-ba-đhăng a-vê-ra-ma-sa-pắt-tăng. | vươn lên phía trên, tỏa xuống phía dưới và trải ngang bốn phía, không chật hẹp ngăn ngại, không oán hận, không thù địch. | above, below and all around across the middle, unobstructed, free of hostility and free of enmity. |
| 17 | Tiṭṭhaṃ caraṃ nisinno va, sayāno yāvatāssa vitamiddho; | Tít-thăng cha-răng ni-sin-nô va, sa-gia-nô gia-va-tắt-sa vi-ta-mít-đhô; | Dù khi đang đứng, đang bước đi, đang ngồi hay đang nằm, bao lâu còn tỉnh thức chưa chìm vào cơn buồn ngủ, | Standing, walking, sitting or lying down, for so long as one remains awake and free of drowsiness, |
| 18 | Etaṃ satiṃ adhiṭṭheyya, brahmametaṃ vihāramidhamāhu. | Ê-tăng sa-ting a-đhít-thây-gia, brắc-ma-mê-tăng vi-ha-ra-mi-đha-ma-hu. | hãy kiên trì an trú chánh niệm từ tâm này; trong Pháp này, các bậc trí gọi đó là nếp sống Phạm thiên cao thượng. | let one resolutely sustain this mindfulness; this, they declare in this teaching, is the sublime abiding. |
| 19 | Diṭṭhiñca anupaggamma, sīlavā dassanena sampanno; | Đít-thin-cha a-nu-pắc-găm-ma, si-la-va đắt-sa-nê-na sam-pan-nô; | Không sa vào lưới tà kiến, giữ giới hạnh trọn lành và thành tựu chánh kiến tuệ tri, | Not falling into speculative views, endowed with pure conduct and clear-seeing insight, |
| 20 | Kāmesu vinaya gedhaṃ, na hi jātuggabbhaseyya punaretīti. | Ka-mê-su vi-na-gia gê-đhăng, na hi da-túc-gắp-bha-sây-gia pu-na-rê-ti-ti. | nhiếp phục lòng tham đắm trong các dục trần, bậc ấy quyết hẳn không bao giờ còn phải quay lại nằm trong thai mẹ nữa. | having subdued greed for sensual pleasures, truly such a one never again returns to lie in a womb. |
IIIGiải Nghĩa Chi Tiết Mười Bài Kệ
Mười bài kệ có cấu trúc chặt chẽ như một kim tự tháp tu học gồm bốn tầng rõ rệt. Kệ 1 tới nửa đầu kệ 3 lập nền tảng đạo đức và lối sống (mười lăm đức tính căn bản). Nửa sau kệ 3 tới kệ 6 mở rộng lời nguyện an lành tới toàn thể các nhóm sinh loại và tháo gỡ gốc rễ hiềm hận. Kệ 7 tới kệ 9 chỉ dạy phương pháp tu tập định tâm và chánh niệm rải tâm từ vô lượng trong bốn oai nghi. Kệ 10 chuyển hóa sức định của tâm từ sang tuệ giác đoạn trừ kiến chấp và tham dục để chứng đắc giải thoát. Dưới đây là phân tích từng nửa kệ theo nguyên ngữ Pāli và sớ giải cổ điển.
Karaṇīyaṃ là phân từ tương lai bị động của động từ karoti (làm), nghĩa là điều đáng làm, việc cần phải thực hiện. Atthakusalena ở cách công cụ (bởi người khéo léo trong điều lợi ích): chữ attha trong Phật học vừa chỉ mục đích tối hậu, vừa chỉ điều thiện lành chân thật. Cụm khó nhất về ngữ pháp của toàn bài nằm ở abhisamecca (phân từ quá khứ liên tiếp của abhisameti, nghĩa là sau khi thấu triệt, thể nhập) đi với santaṃ padaṃ (cảnh giới tịch tịnh, tức Niết bàn trong sớ giải).
Chính ngay từ đây đã có hai cách đọc trong giới chú giải và dịch thuật. Bản sớ giải Paramatthajotikā giải thích rằng bậc sơ tâm thấu hiểu mục tiêu tịch tịnh bằng trí nghe học và hướng tâm chứng đạt cảnh giới ấy nên thực hành các pháp dưới đây; nhiều dịch giả hiện đại như Bhikkhu Bodhi dịch theo hướng mục đích (người muốn chứng đạt cảnh giới an tịnh). Một cách đọc khác, bám sát nghĩa đen của phân từ quá khứ abhisamecca (sau khi đã chứng kiến cảnh giới tịch tịnh, tức bậc Dự lưu đã thoáng thấy Niết bàn), hiểu rằng đây là nếp sống tự nhiên và phận sự tiếp nối của người đã mở mắt Pháp để đi tới cứu cánh ở kệ thứ mười. Cả hai cách đọc đều có cơ sở ngữ pháp vững chắc.
Câu này mở đầu danh mục mười lăm phẩm chất nền tảng trước khi ngồi xuống rải tâm từ, cho thấy Phật giáo không tách thiền tâm từ thành một bài tập tưởng tượng tách rời nhân cách. Sakko là có năng lực, tháo vát, dám gánh vác việc thiện. Cặp tăng tiến ujū ca suhujū ca (ngay thẳng và thật sự ngay thẳng) được sớ giải cắt nghĩa rất sâu: ujū là ngay thẳng nơi thân và lời nói, không quanh co dối trá; còn suhujū (thêm tiếp đầu ngữ su- chỉ mức độ trọn vẹn) là ngay thẳng tận trong ý niệm thầm kín, không che giấu lỗi mình để cầu danh.
Sūvaco (kéo dài nguyên âm đầu để giữ nhịp thơ thay cho suvaco) là người dễ nói chuyện, biết lắng nghe lời góp ý thiện chí mà không tự ái cãi lấp. Mudu là mềm mại, hiền nhu như vàng ròng đã luyện kỹ dễ uốn nắn vào việc lành. Anatimānī (an-ati-mānī) là không tự cao ngạo mạn, không đem dòng dõi, học vấn hay giới hạnh của mình ra nhìn xuống người khác. Có mềm mỏng và khiêm hạ thì tâm từ mới chảy xuôi tự nhiên.
Bốn phẩm chất tiếp theo xoay quanh quan hệ với vật chất và thời gian. Santussako là tri túc, vui nhận những gì mình đang có một cách chính đáng mà không đứng núi này trông núi nọ. Subharo là dễ nuôi dưỡng: với người xuất gia là nhận vật thực nào cũng hoan hỷ không kén chọn mặn lạt ngon dở; với người tại gia là không đòi hỏi người thân phải hầu hạ cầu kỳ mới vừa ý.
Appakicco là ít việc rườm rà, biết gạn bỏ những lo toan vô bổ khiến tâm tán loạn. Sallahukavutti là có đời sống nhẹ nhàng giản ước: sớ giải ví vị tỳ khưu chỉ mang y bát trên mình nhẹ như cánh chim bay đi đâu cũng mang trọn gia tài theo cánh, không bị đồ đạc cồng kềnh níu giữ. Một tâm trí bị trăm thứ sở hữu và công việc vụn vặt đè nặng khó lòng mở ra khoảng không gian thênh thang để thương người khác.
Santindriyo (santa + indriya) là các giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đều lắng dịu, không phóng chạy cuồng nhiệt theo sắc đẹp tiếng hay. Nipako là khôn ngoan, chín chắn, biết cân nhắc đúng thời đúng mức. Appagabbho là không lỗ mãng, không sỗ sàng khinh suất trong oai nghi đi đứng nói cười.
Kulesvananugiddho là dạng nối âm (sandhi) của kulesu ananugiddho, nghĩa là không quyến luyến trói buộc vào các gia đình. Đối với hàng xuất gia thời Phật, đây là giới răn thiết thực: vị tỳ khưu nhận cơm áo của thí chủ nhưng không được biến lòng quý mến thành sự thiên vị riêng tư, buồn vui theo chuyện nhà thí chủ tới mức đánh mất tính bình đẳng của người tu. Đọc rộng ra cho người đời nay, chữ này nhắc rằng tình thương chân chính cần giữ khoảng sáng độc lập, không biến thành sự lệ thuộc cảm xúc lôi kéo lẫn nhau.
Câu này khép lại phần giới đức bằng thước đo lương tri. Khuddaṃ là điều nhỏ nhặt, lỗi lầm vụn vặt nơi thân khẩu ý; na ācare kiñci là chẳng thực hành dù chỉ một chút. Thước đo ở đây không phải dư luận đám đông ồn ào mà là viññū pare, tức các bậc trí giả, những người có chánh kiến và đạo đức sáng suốt có thể quở trách (upavadeyyuṃ). Khi người hành trì không còn điều khuất tất nhỏ nào làm cắn rứt lương tâm, nội tâm liền mát mẻ không hối hận (avippaṭisāra), làm bệ phóng trực tiếp cho lời nguyện tâm từ ở câu kế tiếp.
Đây là điệp khúc cốt tủy của bài kinh, nơi mettā cất thành tiếng nguyện ở thức cầu chúc (optative: hontu, bhavantu). Ba tính từ chỉ an lạc được xếp nối tiếp nhau rất tinh vi: sukhino là được an vui thuận lợi về phần thân; khemino (từ danh từ khema, vùng đất an ổn không giặc cướp tai ương) là được bình an, thoát khỏi nỗi sợ hãi và hiểm họa rình rập; còn sukhitattā (sukhita + attā) là tự nơi tâm mình cảm nhận trọn vẹn niềm hạnh phúc êm ấm. Lời chúc bao trùm cả an lạc vật chất, sự an toàn trước tai ách lẫn sự bình yên sâu thẳm bên trong cho sabbasattā, hết thảy mọi hữu tình.
Từ đây bài kinh dùng phương pháp liệt kê toàn diện các cặp và bộ ba phạm trù để phá vỡ thói quen chọn lọc đối tượng yêu ghét của tâm phàm phu. Pāṇabhūtā atthi chỉ mọi sinh linh có hơi thở và đời sống. Cặp đối lập đầu tiên là tasā vā thāvarā: chữ tasa bắt nguồn từ gốc động từ tras (run rẩy, hoảng sợ), chỉ tất cả chúng sinh còn tham ái và sợ hãi nên còn dao động chạy trốn khổ đau; còn thāvara nghĩa đen là đứng vững bất động, được bộ Paramatthajotikā giải là bậc A la hán đã dứt sạch tham ái và kinh hãi nên tâm vững như trụ đá. Đáng chú ý là ở Ấn Độ giáo và Kỳ Na giáo cùng thời, cặp chữ tương đương trasa và sthāvara lại dùng để chỉ động vật di chuyển và thực vật đứng yên; đặt hai cách hiểu cạnh nhau giúp người đọc thấy rõ cách Phật giáo sơ kỳ chuyển hóa thuật ngữ đương thời sang chiều kích tâm lý giải thoát. Cụm vanavasesā (vā anavasesā) đóng chốt: trọn thảy không bỏ sót một loài nào.
Sau khi phân loại theo trạng thái nội tâm, kệ thứ tư chuyển sang phân loại theo hình tướng không gian để quét sạch tâm lý ghê sợ loài to dữ hay coi khinh loài nhỏ bé. Sớ giải giảng từng nhóm cụ thể: dīghā (dài) như loài rắn, trăn, cá sấu, rết; mahantā (to lớn) như voi, cá voi trong biển hay các loài đại thần thông; majjhimā (bậc trung) như con người, ngựa, bò; rassakā (thấp ngắn) như các loài lùn nhỏ; aṇuka (vi tế cực nhỏ mắt thịt khó phân biệt, như sinh vật li ti trong nước) và thūlā (tròn trịa đầy đặn như rùa, ốc, cá tròn). Khi quán chiếu đủ sáu dáng hình này, tâm từ vượt qua phản xạ thẩm mỹ ưa đẹp chê xấu của con người.
Kệ thứ năm mở rộng theo hai trục nhận thức và khoảng cách. Diṭṭhā là những chúng sinh ta từng tận mắt nhìn thấy; adiṭṭhā là những loài chưa từng thấy vì ở dưới đáy biển sâu, bên kia núi cao hoặc thuộc các cõi giới vô hình như chư thiên, dạ xoa, ngạ quỷ trong vũ trụ quan Phật giáo. Dūre vasanti avidūre bao trùm loài sống cách xa vạn dặm lẫn loài sống ngay sát vách, dưới mái hiên hay trong chính khu vườn quanh ta. Đôi khi thương người ở xa trong ý niệm lại dễ hơn thương người ở sát cạnh ngày ngày va chạm, nên chữ avidūre (chẳng xa, ngay gần) mang sức nhắc nhở rất thực tế.
Cặp phạm trù cuối cùng phân theo tiến trình hiện hữu: bhūtā và sambhavesī. Sớ giải ghi nhận hai tầng nghĩa bổ sung cho nhau. Ở tầng sinh học phàm thế, đối với loài đẻ trứng hay thai sinh còn đang nằm trong vỏ trứng hoặc trong bào thai mẹ thì gọi là sambhavesī (đang thành hình, đang chờ ra đời), còn khi đã nở ra ngoài hoặc lọt lòng mẹ thì gọi là bhūtā (đã sinh thành). Ở tầng thánh đạo cao hơn, bhūtā chỉ bậc A la hán đã hiện hữu lần chót không còn tái sinh nữa, còn sambhavesī (sambhava + esī, kẻ còn tìm kiếm sự tái hữu) chỉ tất cả phàm phu và thánh giả hữu học còn trôi lăn tìm chỗ thọ sinh. Điệp khúc sabbasattā bhavantu sukhitattā vang lên lần thứ hai, khép tròn vòng ôm của tâm từ đối với toàn thể pháp giới hữu tình.
Kệ thứ sáu đào sâu xuống mặt trái của đời sống xã hội để nhổ tận gốc sự giả dối và khinh miệt. Nikubbetha là lừa gạt, phản bội, mưu mô hại ngầm người khác. Nātimaññetha katthaci na kañci dùng ba từ phủ định và bất định liên hoàn (chẳng khinh khi bất cứ ai, ở bất cứ nơi nào): dù trong gia đình, chốn công quyền, hội chúng tu học hay ngoài chợ búa, không ai bị coi là thấp hèn đáng bị chà đạp nhân phẩm.
Hai danh từ ghép byārosanā và paṭighasañña chỉ hai tầng xuất hiện của sân hận. Byārosanā là sự bực tức lộ ra thành nét mặt cau có, lời lẽ đay nghiến công kích bên ngoài; còn paṭighasañña là tri giác chống đối, nỗi ấm ức bực dọc âm ỉ ở bên trong tâm thức dù ngoài miệng chưa nói lời nào. Khi đã có tâm từ thì không để hai thứ độc tố ấy xúi giục mình thầm mong cho kẻ khác gặp điều xui rủi khổ đau (nāññamaññassa dukkhamiccheyya). Chỗ tinh tế của câu kệ là soi thẳng vào ý muốn thầm kín: đôi khi người ta không tự tay đánh ai, nhưng nghe tin người mình ghét thất bại thì thầm hả hê, và bài kinh chỉ rõ tâm niệm ấy trái ngược với mettā.
Đây là hình ảnh ẩn dụ nổi tiếng bậc nhất của văn chương Pāli: như người mẹ (mātā yathā) đem chính mạng sống của mình (āyusā, cách công cụ của āyu) ra che chở gìn giữ (anurakkhe) đứa con trai ruột duy nhất của mình (niyaṃ puttaṃ ekaputtaṃ). Chữ niyaṃ (con ruột do chính mình mang nặng đẻ đau, không phải con nuôi) và chữ ekaputtaṃ (đứa con độc nhất không có người thứ hai thay thế) đẩy sức mạnh của lòng che chở lên mức tột đỉnh mà kinh nghiệm con người thường nghiệm có thể hình dung được.
Evampi (cũng đúng như vậy) nối hình ảnh người mẹ sang pháp hành bhāvaye (hãy tu tập, hãy làm cho sinh trưởng lớn mạnh) một tâm ý (mānasaṃ) vô lượng không ranh giới (aparimāṇaṃ) hướng tới hết thảy sinh loại (sabbabhūtesu). Luận sư Buddhaghosa trong cả Paramatthajotikā lẫn Visuddhimagga đều nhấn mạnh điểm mấu chốt của phép ví dụ này: kinh mượn lòng mẹ cứu con duy nhất để minh họa cường độ che chở chân thành không tiếc thân mạng, chứ không mượn sự thiên vị bám chấp riêng tư (sineha hay pema) của tình mẫu tử thế tục. Tình mẹ đời thường chỉ dành cho một đứa con riêng của mình, còn hành giả đem trọn ngọn lửa che chở nồng ấm ấy mở bung ra không bờ rào cho muôn loài.
Bước sang kệ thứ tám, chữ mettā lần đầu tiên được gọi đích danh (mettañca) và gắn liền với trạng thái thiền định vô lượng tâm trùm khắp toàn thể vũ trụ (sabbalokasmi). Ba hướng không gian uddhaṃ (phía trên, theo sớ giải chỉ các cõi trời Sắc giới và Vô sắc giới), adho (phía dưới, chỉ các cõi Dục giới thấp tới địa ngục) và tiriyañca (chiều ngang ở khoảng giữa, tức cõi người và các cõi quanh ta) hợp thành cái nhìn bao quát mười phương không chừa một góc tối nào.
Ba tính từ phủ định cuối kệ mô tả phẩm chất của tâm khi đã đắc định tâm từ: asambādhaṃ là không còn chướng ngại hay ranh giới ngăn chia (phá vỡ bức tường phân biệt ta, người thân, người dưng và kẻ nghịch); averaṃ là vắng bóng oán kết bên trong nội tâm; và asapattaṃ là không còn kẻ thù bên ngoài vì chính tâm hành giả không còn dựng ai làm đối thủ.
Kệ thứ chín đưa thiền tâm từ ra khỏi tấm tọa cụ để hòa vào trọn vẹn bốn oai nghi thường nhật: đứng (tiṭṭhaṃ), đi (caraṃ), ngồi (nisinno) và nằm (sayāno), miễn là còn tỉnh táo chưa rơi vào hôn trầm thụy miên (yāvatāssa vitamiddho). Đáng chú ý nhất là cụm chữ etaṃ satiṃ adhiṭṭheyya: bài kinh gọi thẳng việc duy trì tâm từ liên tục ấy là sati (chánh niệm), cho thấy tâm từ ở đây không phải cơn xúc động thoáng qua mà là sự tỉnh thức vững chãi có chủ đích (adhiṭṭheyya).
Nửa câu sau định nghĩa thuật ngữ nổi tiếng Brahmavihāra (brahmametaṃ vihāraṃ, Phạm trú): trong Giáo pháp này (idha), các bậc thánh hiền gọi sự an trú trong tâm từ vô lượng ấy là nếp sống tối thắng, thanh khiết như chư Đại Phạm thiên vốn sống không sân hận oán thù.
Bài kệ kết thúc là chỗ phân ranh dứt khoát giữa thiền Phạm trú ngoại đạo và con đường giải thoát của Phật giáo. Nếu chỉ tu tâm từ đạt tới thiền định mà vẫn chấp ngã thì sau khi mạng chung hành giả sinh về cõi trời Phạm thiên, hưởng phước hết tuổi thọ vẫn trôi lăn trở lại. Bởi vậy kệ thứ mười đặt thêm bốn trụ cột tuệ giác: diṭṭhiñca anupaggamma (không sa vào tà kiến chấp ngã thường kiến hay đoạn kiến), sīlavā (thành tựu giới đức thánh thiện), dassanena sampanno (thành tựu chánh kiến thấy rõ Tứ Thánh Đế, thuật ngữ chuẩn trong tạng Pāli chỉ bậc Dự lưu nhập dòng thánh).
Từ nền tảng Dự lưu ấy, vị hành giả tiếp tục tu tập nhiếp phục và đoạn tận lòng tham đắm trong cõi dục (kāmesu vinaya gedhaṃ) để chứng quả Bất lai (Anāgāmī, A na hàm). Bậc Bất lai đã dứt sạch dục ái và sân hận nên không bao giờ còn phải quay lại thọ thai trong lòng mẹ ở cõi Dục giới nữa (na hi jātuggabbhaseyya punaretīti), mà hóa sinh nơi cõi Tịnh Cư Thiên rồi chứng Niết bàn vô dư ngay tại đó. Chữ iti (hòa âm thành punaretīti) là dấu đóng ngoặc truyền thống đánh dấu trọn vẹn lời Phật dạy trong tạng Pāli.
IVTâm Từ Trong Hệ Thống Tứ Vô Lượng Tâm Và Thanh Tịnh Đạo
Để hiểu hết chiều sâu của Karaṇīyamettasutta, cần đặt bài kinh vào hệ thống thực hành rộng hơn của Phật giáo là Tứ Vô Lượng Tâm (Catasso Appamaññāyo) hay Tứ Phạm Trú (Cattāro Brahmavihārā): Từ (mettā), Bi (karuṇā), Hỷ (muditā) và Xả (upekkhā). Trong đó, Từ là nền móng mở đầu: khi thấy chúng sinh bình thường thì khởi tâm Từ mong họ an vui; khi thấy họ lâm cảnh khổ đau thì tâm Từ tự nhiên chuyển thành tâm Bi mong họ thoát khổ; khi thấy họ thành đạt hạnh phúc thì chuyển thành tâm Hỷ vui cùng niềm vui của họ mà không ganh tỵ; và khi đứng trước định luật nghiệp báo riêng của mỗi loài không thể cưỡng cầu thì an trú nơi tâm Xả bình thản sáng suốt.
Trong bộ luận Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga, chương IX), luận sư Buddhaghosa đã hệ thống hóa lời dạy của Karaṇīyamettasutta thành phương pháp thiền định từng bước rất cụ thể để phá vỡ ranh giới thương ghét. Thay vì vội vàng rải tâm từ ra khắp vũ trụ ngay lập tức khi lòng còn đầy thiên kiến, hành giả tập mở rộng tâm từ theo thứ tự bốn hạng người: trước hết hướng về chính mình để làm mẫu chuẩn (vì mình muốn an vui không muốn khổ đau thế nào thì người khác cũng y như vậy), kế đến hướng về bậc ân nhân khả kính, rồi tới người thân thương bình thường, người trung dung không thương không ghét, và sau cùng mới hướng tới người có hiềm khích oán trái với mình. Khi khoảng cách tình cảm giữa chính mình, người thân, người dưng và kẻ nghịch đã san bằng như nhau (gọi là sīmāsambheda, phá vỡ ranh giới), hành giả mới đắc định tâm từ vô lượng đúng như chữ asambādhaṃ (không ngăn ngại) ở kệ thứ tám.
Một phân tích tâm lý học cực kỳ sắc sảo của truyền thống luận tạng Thượng tọa bộ (Abhidhamma và Visuddhimagga) là thuyết kẻ thù xa (dūrapaccatthika) và kẻ thù gần (āsannapaccatthika) của mỗi vô lượng tâm. Đối với tâm Từ (mettā), kẻ thù xa là lòng sân hận và ác ý (byāpāda), vì hai trạng thái này đối nghịch nhau như ánh sáng với bóng tối, không thể cùng có mặt trong một sát na tâm; hễ sân nổi lên là biết ngay tâm từ đã mất.
Nguy hiểm hơn nhiều lại là kẻ thù gần của tâm Từ: lòng tham ái luyến chấp vị kỷ (rāga hay gehasitasineha). Kẻ thù gần đáng sợ vì nó mang bộ mặt rất giống tâm từ, cũng dịu dàng săn sóc, cũng hướng về đối tượng và thấy nét tốt đẹp của đối tượng, nên người tu rất dễ nhận lầm sự quyến luyến đòi hỏi sở hữu là lòng từ bi thanh tịnh. Khi thương ai bằng tham ái, hễ người ấy đổi lòng hoặc không chiều theo ý mình thì tình thương lập tức hóa thành oán giận. Chính vì thế, Karaṇīyamettasutta phải rào đón ngay từ kệ thứ hai bằng chữ kulesvananugiddho (không luyến trước trói buộc vào các gia đình) và khép lại ở kệ thứ mười bằng chữ kāmesu vinaya gedhaṃ (nhiếp phục lòng tham đắm trong các dục), giữ cho tâm từ luôn trong sáng, rộng mở mà không dính mắc.
VDị Bản Giữa Các Truyền Thống Pāli Và Mạch Tương Ứng Trong Hán Tạng
Khi một bài kinh được truyền tụng suốt hơn hai thiên niên kỷ qua nhiều quốc gia dùng các bộ chữ viết khác nhau (Sinhala, Miến Điện, Thái, Khmer, Lào rồi Latinh), việc xuất hiện những khác biệt nhỏ về cách nối âm (sandhi), độ dài nguyên âm hoặc hình thái động từ giữa các ấn bản là hiện tượng tự nhiên của ngữ văn học cổ điển. So sánh bản Khuddakapāṭha 9 với bản Sutta Nipāta 1.8 và giữa hệ Miến Điện (Chaṭṭha Saṅgāyana) với hệ Tích Lan hay bản Hội Văn Bản Pāli (PTS), cốt lõi giáo nghĩa của cả mười bài kệ hoàn toàn thống nhất, song có một số dị bản chữ nghĩa đáng ghi nhận cho người tra cứu chuyên sâu.
| Vị trí kệ | Bản Chaṭṭha Saṅgāyana (Kp 9) | Dị bản ở Snp 1.8, Tích Lan và PTS | Nhận xét ngữ pháp và ý nghĩa |
|---|---|---|---|
| Kệ 1b | yanta santaṃ padaṃ | yaṃ taṃ santaṃ padaṃ | Khác cách viết nối âm đại từ quan hệ yaṃ và đại từ chỉ định taṃ; nghĩa hoàn toàn như nhau |
| Kệ 1d | sūvaco cassa | suvaco cassa (VRI Kp 9, Tích Lan, PTS) | Bản Mahāsaṅgīti và VRI Snp 1.8 kéo dài nguyên âm ū để giữ trường độ nhịp thơ Old Gīti; gốc từ đều là su-vaca (dễ khuyên bảo) |
| Kệ 2d | kulesvananugiddho | kulesu ananugiddho | Bản Miến nối âm u + a thành va theo luật sandhi; bản PTS tách rời hai từ cho dễ đọc |
| Kệ 3a | na ca khuddamācare | na ca khuddaṃ samācare | Động từ ācare và samācare đều mang nghĩa thực hành, cư xử; nghĩa câu không đổi |
| Kệ 3d và 5d | sabbasattā bhavantu | sabbe sattā bhavantu | Bản Miến ghép thành danh từ phức sabbasattā; bản Tích Lan và Thái Lan thường tụng tách rời sabbe sattā |
| Kệ 7d | mānasaṃ bhāvaye | mānasambhāvaye | Tách rời hay viết liền âm môi m trước phụ âm bh trong lối tụng nối câu |
| Kệ 9b | vitamiddho | vigatamiddho (một số bản Tích Lan) | Cả vīta hay vita và vigata đều là phân từ mang nghĩa đã rời bỏ, đã xua tan cơn hôn trầm buồn ngủ (middha) |
| Kệ 10c | kāmesu vinaya gedhaṃ | kāmesu vineyya gedhaṃ (Tích Lan, Thái Lan, PTS Snp) | Cả Kp 9 lẫn Snp 1.8 của Chaṭṭha Saṅgāyana đều chép dạng cổ vinaya; bản Buddha Jayanti Tích Lan, Hoàng gia Thái Lan và Sutta-Nipāta của PTS chép vineyya |
| Kệ 10d | jātuggabbhaseyya | jātu gabbhaseyyaṃ | Gấp đôi phụ âm g và lược âm mũi cuối câu theo luật nhịp thơ cổ Pāli |
Một câu hỏi thú vị của giới nghiên cứu Phật học đối chiếu là liệu Karaṇīyamettasutta có bản dịch chữ Hán tương đương trực tiếp từng câu trong Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taishō Tripiṭaka) hay không. Khác với phẩm Nghĩa Túc (Aṭṭhakavagga) của Sutta Nipāta vốn có bản dịch chữ Hán trọn vẹn là Phật Thuyết Nghĩa Túc Kinh (T198) do Chi Khiêm dịch thời Tam Quốc, phẩm Rắn (Uragavagga) không được dịch nguyên khối sang chữ Hán. Khảo sát toàn bộ bốn bộ A Hàm Hán dịch cũng không thấy một bài kinh đơn lẻ nào khớp nguyên mười bài kệ của Karaṇīyamettasutta theo đúng trật tự từ mười lăm đức tính tới hình ảnh người mẹ che chở con một.
Tuy không có bản dịch trực tiếp từng kệ, mọi tư tưởng và hình ảnh cốt lõi của bài kinh đều xuất hiện rải rác rất đậm nét trong Hán tạng. Chẳng hạn, Tăng Nhất A Hàm và Trung A Hàm có nhiều kinh như Từ Kinh hoặc các đoạn giảng mười một phước báo của người tu Từ tâm giải thoát (mettā-cetovimutti: ngủ an lành, thức dậy an lành, không gặp ác mộng, được loài người thương mến, được phi nhân và chư thiên hộ vệ, lửa độc đao binh không hại được, tâm mau đắc định, sắc mặt tươi sáng, khi lâm chung không mê loạn, nếu chưa đắc quả cao hơn thì sinh về cõi Phạm thiên), tương ứng trực tiếp với bài Mettānisaṃsasutta trong Tăng Chi Bộ Pāli (AN 11.16). Trong kinh điển Đại thừa như Đại Bát Niết Bàn Kinh (phẩm Phạm Hạnh) và Đại Trí Độ Luận của Long Thụ, hình ảnh cha mẹ thương đứa con một (nhất tử địa 一子地) còn được nâng lên thành cấp độ đại từ đại bi của chư Phật và Bồ tát nhìn hết thảy chúng sinh bình đẳng như đứa con duy nhất tên La Hầu La.
Từ thế kỷ hai mươi, nhờ phong trào dịch Tam Tạng Pāli sang tiếng Việt của các bậc cao tăng và học giả như Hòa thượng Hộ Tông, Hòa thượng Giới Nghiêm, đặc biệt là bộ dịch Tiểu Bộ Kinh của Hòa thượng Thích Minh Châu tại Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Karaṇīyamettasutta đã vượt qua ranh giới hệ phái để trở thành tài sản chung của cả Phật giáo Nam tông lẫn Bắc tông tại Việt Nam.
VIThực Hành Trì Tụng Và Thiền Tập Trong Đời Sống Phật Giáo
Trong thế giới Phật giáo Nam truyền từ Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia cho tới Việt Nam, Karaṇīyamettasutta cùng với Kinh Hạnh Phúc (Maṅgalasutta) và Kinh Châu Báu (Ratanasutta) hợp thành bộ ba Tam Đại Hộ Trì Kinh (Mahāparitta), rường cột của mọi khóa lễ cầu an và chúc phúc.
Tại các tự viện Nam tông Kinh và Nam tông Khmer ở Việt Nam như Tổ đình Bửu Quang tại Thủ Đức, chùa Kỳ Viên hay chùa Chantarangsay tại Thành phố Hồ Chí Minh, chư tăng và Phật tử tụng nguyên văn Pāli bài kinh này trong thời khóa chiều tối, lễ rằm, lễ dâng y Kathina, lễ động thổ hay cầu an tại tư gia. Trong lễ Paritta lớn, chư tăng đôi khi cầm chung một sợi dây chỉ trắng tượng trưng sự kết nối chánh niệm và năng lượng an lành truyền từ tam bảo tới hội chúng.
Song song với lối tụng Pāli truyền thống, Phật tử Việt Nam thuộc cả hai truyền thống Nam tông và Bắc tông còn trì tụng các bản dịch Việt văn xuôi nhịp nhàng hoặc chuyển thể thơ lục bát, song thất lục bát và ngũ ngôn trong các nghi thức tụng niệm hiện đại. Dù đọc bằng âm Pāli hay bằng tiếng Việt, trọng tâm vẫn đặt ở việc hiểu rõ nghĩa từng câu để tâm thật sự mở rộng theo lời kinh.
Trong các khóa thiền Vipassanā và thiền định hiện nay, nhiều hành giả dành năm tới mười phút đầu hoặc cuối mỗi thời tọa thiền để thực hành rải tâm từ (mettā-bhāvanā). Mở đầu bằng tâm từ giúp làm mềm sự căng cứng của thân tâm, xua tan bực dọc để dễ nhập chánh niệm; khép lại thời thiền bằng lời nguyện sabbasattā bhavantu sukhitattā giúp hồi hướng sự tĩnh lặng vừa tu tập được tới muôn loài.
Mười lăm phẩm chất ở ba kệ đầu được nhiều gia đình Phật tử dùng như tấm gương tự soi trong sinh hoạt thường nhật: tập sống gọn nhẹ ít đòi hỏi (subharo, sallahukavutti), biết lắng nghe góp ý mà không nổi nóng (sūvaco), và giữ mình không vì cơn bực dọc thoáng qua mà buông lời trù ẻo hay làm tổn thương người chung quanh.
Tại Việt Nam, dấu ấn của bài kinh hiện diện sống động ở những ngôi già lam Nam tông lịch sử như chùa Bửu Quang (ngôi tổ đình đầu tiên của Phật giáo Nguyên thủy người Kinh lập năm 1938), chùa Kỳ Viên và ngôi chùa Khmer cổ kính chùa Chantarangsay, đồng thời cũng được giảng dạy rộng rãi trong chương trình Phật học cơ bản gắn liền với truyền thống chùa Ấn Quang và các học viện Phật giáo trên cả nước. Người muốn tìm hiểu toàn cảnh giáo lý và lịch sử truyền thừa có thể xem thêm tại trang trụ Phật Giáo hoặc đối chiếu cách trì tụng mật chú và kinh văn Đại thừa tại Bát Nhã Tâm Kinh và Chú Đại Bi.
VIINhững Chỗ Hay Hiểu Lầm Khi Đọc Kinh Từ Bi
Vì Karaṇīyamettasutta vừa gắn với câu chuyện chư thiên trong rừng vừa có hình ảnh người mẹ thương con rất gần gũi, người đọc mới đôi khi hiểu lệch tinh thần nguyên bản ở sáu điểm dưới đây.
Nhiều người nghe tích năm trăm vị tỳ khưu gặp thần cây quấy nhiễu liền nghĩ đọc bài kinh này là dùng oai lực đuổi loài vô hình đi chỗ khác. Thực ra ngay trong sớ giải cổ điển, chư tăng không hề xua đuổi thần cây mà trải lòng thương mến chân thật mong chư thiên được an vui (diṭṭhā vā ye va adiṭṭhā), nhờ đó hóa giải hiềm khích thành sự chung sống hòa bình. Tinh thần của Paritta trong Phật giáo là cảm hóa bằng giới đức và lòng lành, không phải trấn yểm.
Thấy kệ thứ bảy lấy hình ảnh người mẹ liều mạng bảo vệ con một, có người tưởng tâm từ là sự gắn bó si mê, lo âu thấp thỏm cho riêng một người. Như Buddhaghosa đã phân tích rõ trong Thanh Tịnh Đạo, phép so sánh ấy chỉ mượn sức mạnh che chở dốc hết lòng dạ, hoàn toàn không mượn tính chất chiếm hữu riêng tư (kẻ thù gần của tâm từ). Tâm từ đích thực mang tính vô lượng (aparimāṇaṃ), thương rộng mà tâm vẫn tự tại độc lập.
Ngay kệ thứ nhất đã đặt phẩm chất ujū và suhujū (ngay thẳng và thật sự ngay thẳng) cùng nipako (sáng suốt thận trọng) đứng trước cả lời nguyện tâm từ. Không oán ghét người làm sai không đồng nghĩa với đồng lõa hay dung túng điều ác; người có tâm từ vẫn phân định phải trái rạch ròi và bảo vệ lẽ ngay, chỉ là hành xử không xuất phát từ lòng thù hằn muốn trả đũa cho đối phương đau khổ.
Không ít người khi hành thiền tâm từ chỉ trích đọc từ câu Sabbe sattā bhavantu sukhitattā trở đi mà quên mất hai kệ rưỡi đầu tiên. Theo cấu trúc bài kinh, nếu đời sống hằng ngày còn gian dối, kiêu ngạo, tham đắm lợi dưỡng và bận rộn tranh hơn thua thì lời chúc muôn loài an vui chỉ dừng ở đầu môi; chính lối sống chân thật, tri túc và thu thúc lục căn mới nuôi sống được tâm từ bền vững.
Nhận định này chỉ đúng khi hành giả dừng lại ở thiền định thế gian và còn ôm giữ tà kiến chấp ngã. Kệ thứ mười của bài kinh chỉ rõ rằng khi lấy định lực trong sáng của tâm từ làm nền để quán chiếu Tứ Đế, dứt trừ kiến chấp (diṭṭhiñca anupaggamma) và đoạn tham dục (kāmesu vinaya gedhaṃ), hành giả tiến thẳng tới quả vị Dự lưu và Bất lai, chấm dứt luân hồi trong cõi dục.
Tâm từ là một pháp tu tập (bhāvaye, làm cho sinh khởi và lớn dần) chứ không phải món quà có sẵn ngay từ đầu. Khi lòng còn chút bực dọc hay khô khan, việc chậm rãi đọc lại từng câu kệ và nhớ tới nỗi sợ khổ giống nhau của muôn loài chính là phương thuốc thực tế để làm dịu cơn sân đang nhen nhóm.
?Hỏi Đáp Nhanh
Kinh Từ Bi (Karaṇīyamettasutta) nằm ở đâu trong Tam Tạng Pāli
Bài kinh xuất hiện nguyên văn tại hai vị trí thuộc Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikāya) của Tam Tạng Pāli: bài số 9 khép lại tập Tiểu Tụng (Khuddakapāṭha 9) và bài số 8 phẩm Rắn trong Kinh Tập (Sutta Nipāta 1.8). Trong ấn bản Chaṭṭha Saṅgāyana, hai nơi cùng chép trọn mười bài kệ Pāli gần như trùng khít từng chữ (chỉ chênh độ dài nguyên âm như suvaco và sūvaco trong bản in VRI), còn các ấn bản Tích Lan, Thái Lan và PTS có vài dị bản như vineyya thay cho vinaya ở kệ thứ mười.
Chữ Mettā trong tên kinh khác chữ Karuṇā như thế nào
Trong tiếng Pāli, mettā (tương ứng tiếng Phạn maitrī, Hán Việt dịch là Từ) là tấm lòng thân thiện hiền hòa, mong muốn hết thảy chúng sinh được an vui hạnh phúc. Còn karuṇā (Hán Việt dịch là Bi) là lòng trắc ẩn rung động trước nỗi đau của chúng sinh và mong họ thoát khỏi khổ nạn. Nguyên văn bài kinh này chuyên giảng về mettā, nhưng trong truyền thống Việt Nam người đọc quen gọi chung bằng từ ghép Kinh Từ Bi hoặc gọi sát nghĩa gốc là Kinh Tâm Từ.
Vì sao bài kinh so sánh tâm từ với lòng mẹ thương đứa con duy nhất
Ở kệ thứ bảy, hình ảnh người mẹ đem mạng sống che chở đứa con ruột độc nhất (ekaputtamanurakkhe) được dùng để diễn tả mức độ chân thật, thiết tha và che chở trọn vẹn của tâm từ. Theo luận sư Buddhaghosa trong bộ Thanh Tịnh Đạo, phép so sánh này chỉ lấy chiều sâu bảo bọc không tiếc thân mình chứ không lấy sự thiên vị dính mắc riêng tư của tình mẹ thế gian, bởi câu ngay sau đó dạy phải mở rộng tấm lòng ấy vô lượng không ranh giới cho hết thảy muôn loài.
Câu sabbe sattā bhavantu sukhitattā có nghĩa là gì
Trong ấn bản Miến Điện viết liền là sabbasattā bhavantu sukhitattā, còn ấn bản Tích Lan và Thái Lan thường tách là sabbe sattā bhavantu sukhitattā. Sabbe sattā là hết thảy mọi chúng sinh hữu tình, bhavantu là cầu mong cho được trở thành, và sukhitattā (sukhita cộng attā) là tự nơi tâm mình được an vui hạnh phúc. Cả câu nghĩa là: Mong sao hết thảy chúng sinh đều tự tâm an lạc.
Tại sao cuối bài kinh lại nói không còn quay lại nằm trong thai mẹ nữa
Câu kết na hi jātuggabbhaseyya punaretīti ở kệ thứ mười chỉ quả vị giải thoát của bậc Thánh Bất lai (Anāgāmī, A na hàm). Sau khi chứng quả Dự lưu nhờ chánh kiến (dassanena sampanno) và tiếp tục tu tập dựa trên nền định tâm từ để đoạn trừ lòng tham đắm trong cõi Dục (kāmesu vinaya gedhaṃ), hành giả sau khi viên tịch sẽ hóa sinh lên cõi trời Tịnh Cư thuộc Sắc giới rồi nhập Niết bàn tại đó, vĩnh viễn không còn tái sinh vào thai mẹ nơi cõi Dục giới nữa.
Người chưa biết tiếng Pāli nên tụng nguyên âm Pāli hay đọc bản dịch tiếng Việt
Cả hai cách đều tốt và bổ trợ cho nhau trong truyền thống Phật giáo tại Việt Nam. Khi dự khóa lễ tại các chùa Nam tông, tụng theo âm Pāli giúp hòa chung nhịp điệu cổ truyền xuyên quốc gia của tăng đoàn Thượng tọa bộ; còn khi tự học hoặc hành trì tại nhà, đọc kỹ bản dịch nghĩa tiếng Việt giúp thấm nhuần mười lăm đức tính sửa mình và khởi được tâm từ chân thật thay vì chỉ đọc lướt âm thanh.