IĐọc Nhanh Trong Năm Câu
Kỳ Na Giáo, tiếng Anh gọi là Jainism, là một đạo của Ấn Độ lấy lời nguyện bất hại, tiếng Phạn là ahimsa, làm trục cho mọi điều còn lại. Người theo đạo gọi mình là Jain, tức người theo các bậc Jina, nghĩa là bậc chiến thắng, mà cái bị thắng không phải kẻ thù bên ngoài mà là tham, sân, kiêu mạn, dối trá, những thứ trói linh hồn vào vòng sinh tử. Vị thầy gần nhất là Mahavira, sống cùng thời và cùng vùng Magadha với Đức Phật, nhưng theo giáo nghĩa ông không lập đạo: ông là vị thứ hai mươi tư trong một chuỗi hai mươi tư Tirthankara, những người bắc bến cho chúng sinh qua sông sinh tử. Đạo này không có đấng sáng thế, dạy rằng mỗi linh hồn tự trói mình bằng nghiệp và tự gỡ bằng tu tập, và coi nghiệp là một thứ vật chất vi tế bám vào linh hồn. Hai dòng lớn là Digambara, nơi tu sĩ nam không mặc áo, và Svetambara, nơi tu sĩ mặc áo trắng. Người Kỳ Na nay quãng bốn tới năm triệu, gần như tất cả ở Ấn Độ, và đạo này không có tổ chức nào tại Việt Nam.
Một. Không có người sáng lập theo nghĩa thường hiểu. Giáo nghĩa kể về một chuỗi hai mươi bốn Tirthankara lặp lại trong mỗi nửa vòng thời gian, còn sử học chỉ nắm chắc hai vị sau cùng là Parshvanatha và Mahavira.
Hai. Ba chữ gói cả đạo: ahimsa là bất hại, anekantavada là thuyết nhiều mặt của chân lý, aparigraha là không chiếm giữ. Con đường giải thoát là Tam Bảo của Kỳ Na: thấy đúng, biết đúng, làm đúng.
Ba. Linh hồn, tiếng Phạn là jiva, có ở khắp nơi, trong người, thú, côn trùng, cây cỏ, cả trong đất, nước, lửa và gió. Vì thế lời nguyện bất hại của người Kỳ Na rộng hơn của hầu hết các đạo khác.
Bốn. Hai dòng Digambara và Svetambara tách nhau dần qua nhiều thế kỷ đầu Công nguyên, khác nhau về y phục của tu sĩ, về kinh điển và về việc nữ giới có đạt giải thoát ngay trong thân nữ hay không.
Năm. Chữ vạn là một biểu tượng gốc của đạo này, có mặt trong huy hiệu chung của cộng đồng Kỳ Na, và khác hẳn dấu hiệu của Đảng Quốc Xã Đức về nguồn gốc, ý nghĩa lẫn cách vẽ.
Trang này đi theo mười lăm mục. Chỗ nào giáo nghĩa và sử liệu kể khác nhau, như niên đại Mahavira hay chuyện hai dòng tách nhau, bài đặt hai hộp cạnh nhau. Chỗ nào hai nguồn ghi hai con số, bài ghi cả hai. Một mục riêng giảng chữ vạn, và một mục riêng đặt Kỳ Na cạnh Phật Giáo để quý vị thấy hai đạo cùng thời ấy giống và khác nhau ở đâu.
IIVùng Magadha, Phong Trào Sa Môn Và Cái Tên
Thế kỷ thứ sáu và thứ năm trước Công nguyên, đồng bằng sông Hằng đổi khác nhanh: đô thị mọc lên, thương nhân giàu dần, các vương quốc lớn như Magadha và Kosala nuốt các bộ tộc nhỏ. Những câu hỏi vốn được trả lời bằng tế lễ của làng giờ phải được hỏi lại. Kỳ Na Giáo và Phật Giáo lớn lên trong chính khung cảnh ấy, trên cùng một dải đất quanh các thành Vaishali, Rajagriha và Pava, và kinh văn của cả hai đạo cùng nhắc tới những vị vua Magadha như Bimbisara và Ajatashatru.
Phong trào Sa Môn
Trật tự tôn giáo chính khi ấy là đạo Bà La Môn, dựng trên kinh Veda và nghi lễ tế tự do hàng Bà La Môn nắm giữ. Đối lại là những người gọi chung là sa môn, tiếng Phạn sramana, nghĩa là người nỗ lực: họ rời nhà, sống khất thực, không nhận thẩm quyền của Veda, và tìm giải thoát bằng sức tu của chính mình thay vì bằng tế lễ. Phong trào này sinh ra nhiều nhóm, và chỉ hai nhóm còn sống tới hôm nay là Kỳ Na và Phật Giáo.
Nhóm sa môn theo các Tirthankara, nhấn vào khổ hạnh và bất hại triệt để. Kinh Phật tiếng Pali gọi người đứng đầu nhóm này là Nigantha Nataputta.
Nhóm sa môn theo Đức Phật Thích Ca, chọn trung đạo, tránh cả hưởng thụ lẫn hành xác.
Nhóm sa môn do Makkhali Gosala đứng đầu, chủ trương mọi việc đều do định mệnh. Kinh Kỳ Na kể Gosala từng đi cùng Mahavira nhiều năm rồi tách ra. Nhóm này nay đã mất hẳn.
Cái tên
Chữ Jain đi từ Jina जिन, nghĩa là người chiến thắng. Đạo của người theo các Jina gọi là Jaina dharma, và tiếng Hán phiên âm chữ Jaina thành 耆那, người Việt đọc là Kỳ Na. Chữ Kỳ ở đây chỉ là âm, không mang nghĩa lạ lùng. Tên cổ hơn là Nirgrantha निर्ग्रन्थ, nghĩa là người không còn nút buộc, tức không còn gì trói giữ. Tiếng Pali đọc chữ ấy là nigantha, và các bản dịch kinh Phật sang chữ Hán phiên thành 尼乾子, âm Hán Việt là Ni Kiền Tử. Người Việt đọc kinh Phật đã gặp đạo này dưới cái tên ấy từ rất lâu, dù ít ai biết đó chính là Kỳ Na.
Kỳ Na không phải một nhánh tách ra từ Phật Giáo, cũng không phải một giáo phái của Ấn Độ Giáo. Cả ba đạo dùng chung nhiều chữ như nghiệp, luân hồi, giải thoát, nhưng Kỳ Na có kinh điển riêng, tu sĩ riêng, đền thờ riêng, và tự coi mình là một truyền thống có từ trước cả Mahavira. Hai tên Digambara và Svetambara cũng không phải hai đạo: đó là hai dòng của cùng một đạo, nghĩa đen là người mặc bầu trời và người mặc áo trắng.
IIIMahavira Và Hai Mươi Bốn Tirthankara
Tirthankara तीर्थंकर nghĩa đen là người làm ra bến lội. Chữ tirtha chỉ chỗ nông trên sông để người ta lội qua, và cũng chỉ cộng đồng bốn chúng gồm tăng, ni, nam cư sĩ và nữ cư sĩ. Tirthankara là bậc tự mình qua được dòng sinh tử rồi lập bến cho người khác qua theo. Mỗi nửa vòng thời gian có đúng hai mươi bốn vị, và trong nửa vòng hiện nay, vị đầu là Rishabhanatha, còn gọi Adinatha, vị cuối là Mahavira.
Theo truyền thống, Mahavira tên thật là Vardhamana, nghĩa là người làm cho tăng trưởng, sinh ở Kundagrama gần thành Vaishali, cha là Siddhartha, một thủ lĩnh dòng Nata, mẹ là Trishala. Trước khi ngài ra đời, người mẹ thấy một chuỗi giấc mộng lành, bên Svetambara kể mười bốn giấc, bên Digambara kể mười sáu. Năm ba mươi tuổi, ngài rời nhà, bỏ hết của cải, sống đời khổ hạnh suốt mười hai năm rưỡi, nhịn ăn dài ngày, thiền định, chịu nóng lạnh và côn trùng mà không đáp trả. Năm bốn mươi hai tuổi, dưới một cây sala bên bờ sông Rijupalika gần làng Jrimbhikagrama, ngài đạt kevala jnana केवलज्ञान, cái biết trọn vẹn không còn bị che. Ba mươi năm sau đó ngài đi giảng khắp vùng Magadha, thu nhận mười một đại đệ tử gọi là ganadhara, đứng đầu là Indrabhuti Gautama. Năm bảy mươi hai tuổi, ngài nhập niết bàn tại Pavapuri, vào đêm mà người Kỳ Na nay tưởng niệm trong dịp Diwali, và cũng đêm ấy Gautama đạt cái biết trọn vẹn.
Về niên đại, truyền thống đặt Mahavira ở 599 tới 527 trước Công nguyên, và kỷ nguyên Vira Nirvana Samvat mà người Kỳ Na dùng tính năm từ mốc 527 ấy. Britannica ghi rằng nhiều học giả cho mốc này có thể sớm tới cả trăm năm. Paul Dundas đặt năm mất của ngài quãng 425 trước Công nguyên hoặc vài năm sau đó, còn Jeffery Long đề nghị quãng 499 tới 427 trước Công nguyên. Niên đại của Mahavira gắn chặt với niên đại của Đức Phật, vì kinh Pali kể Nigantha Nataputta mất trước Đức Phật, mà niên đại Đức Phật cũng chưa được thống nhất. Chỗ đáng tin nhất về tính lịch sử của ngài chính là kinh Phật: một đạo đối thủ ghi tên, nơi mất và giáo thuyết của ông, tức là ông có thật và nổi tiếng ở thời ấy.
Parshvanatha, vị thứ hai mươi ba
Truyền thống đặt Parshvanatha ở 877 tới 777 trước Công nguyên, tức quãng hai trăm năm mươi năm trước Mahavira. Giới sử học đa số đặt ông muộn hơn, vào thế kỷ 8 hoặc 7 trước Công nguyên, nhưng nhiều người nhận ông là nhân vật lịch sử. Một chứng cứ hay được nêu: Parshvanatha dạy bốn giới chứ không phải năm, và chính kinh Pali khi tả giáo thuyết của Nigantha Nataputta cũng nói tới một bộ bốn sự chế ngự. Kinh Uttaradhyayana của Kỳ Na lại kể một cuộc gặp giữa Kesi, đệ tử theo dòng Parshva, với Gautama, đệ tử Mahavira, hai bên đối chiếu và hợp nhất hai lối giữ giới. Tức là trước Mahavira đã có một cộng đồng sa môn theo Parshva, và Mahavira tiếp nối cộng đồng ấy.
| Thứ tự | Tên | Biểu trưng nhận diện | Ghi chú theo truyền thống |
|---|---|---|---|
| 1 | Rishabhanatha, còn gọi Adinatha | Bò đực | Vị đầu tiên của nửa vòng thời gian hiện nay, được kể là người dạy loài người cày cấy, chữ viết và nghề thủ công. Nhập niết bàn ở núi Ashtapada. |
| 7 | Suparshvanatha | Chữ vạn | Biểu trưng của vị này chính là chữ vạn, một trong những lý do dấu ấy có chỗ đứng lớn trong đạo. |
| 16 | Shantinatha | Con hươu | Tên có nghĩa là bậc an bình, được cầu tụng nhiều khi mong yên ổn. |
| 19 | Mallinatha | Bình nước | Svetambara kể vị này là nữ, tên Malli. Digambara thờ là nam. Đây là chỗ khác nhau lớn giữa hai dòng. |
| 22 | Neminatha | Vỏ ốc | Nhập niết bàn trên núi Girnar ở Gujarat. |
| 23 | Parshvanatha | Con rắn | Nhập niết bàn trên đỉnh núi ở Sammed Shikharji. Được nhiều sử gia nhận là nhân vật lịch sử. |
| 24 | Mahavira | Sư tử | Nhập niết bàn ở Pavapuri. Vị gần nhất, người mà giáo đoàn ngày nay nối tiếp. |
Tirthankara không phải thần ban phước. Theo giáo nghĩa, các vị đã giải thoát, đã ra khỏi thế gian, không nghe lời cầu, không can dự vào đời người. Người Kỳ Na tới đền là để nhìn một mẫu người đã tới đích mà nhắc mình đi đường ấy. Trong thực hành, có những vị hộ pháp như Padmavati, Ambika hay Chakreshvari được người ta khấn cho việc đời, nhưng đó là chư thiên còn trong luân hồi, xếp dưới các Tirthankara, và nhiều nhà tu Kỳ Na nhắc tín đồ phân biệt rõ hai lớp này.
IVDòng Thời Gian Hai Nghìn Rưỡi Năm
Càng lùi về xa, biên độ niên đại càng rộng. Những mốc dưới đây ghi theo truyền thống khi chỉ có truyền thống, và ghi cả hai con số khi hai nguồn vênh nhau.
- Thế kỷ 9 tới 7 TCNParshvanathaTruyền thống ghi 877 tới 777 trước Công nguyên, sử gia đa số đặt vào thế kỷ 8 hoặc 7. Dạy bốn giới cho cộng đồng sa môn theo mình.
- Thế kỷ 6 tới 5 TCNMahavira giảng đạo ở MagadhaTruyền thống ghi 599 tới 527 trước Công nguyên, nhiều học giả hạ xuống quãng một thế kỷ. Thêm giới thứ năm là phạm hạnh, lập cộng đồng bốn chúng.
- Thế kỷ 4 tới 3 TCNBhadrabahu và cuộc di cư xuống phương namTruyền thống Digambara kể trong một nạn đói mười hai năm ở Magadha, vị trưởng lão Bhadrabahu dẫn một đoàn tu sĩ xuống vùng Karnataka, và vua Chandragupta Maurya đi theo, mất ở Shravanabelagola. Sử gia coi đây là truyền thống, chưa có chứng cứ đương thời xác nhận đủ chi tiết.
- Quãng thế kỷ 4 hoặc 3 TCNHội nghị PataliputraTheo truyền thống Svetambara, tu sĩ họp ở Pataliputra để gom lại mười một Anga đang truyền miệng. Digambara không nhận kết quả của hội nghị này.
- Thế kỷ 1 tới 2Tháp Kỳ Na ở MathuraKhảo cổ ở gò Kankali Tila, Mathura, tìm thấy nền một tháp Kỳ Na và nhiều bia ký thời Kushan ghi tên người cúng dường, trong đó có nhiều phụ nữ. Đây là một trong những chứng cứ vật chất sớm và phong phú nhất của đạo.
- Quãng năm 80 Công nguyênHai dòng tách dầnSvetambara ghi mốc 609 năm sau Mahavira nhập diệt, tức quãng năm 82. Một văn bản Digambara thế kỷ 10 ghi mốc 136 năm sau kỷ nguyên Vikrama, tức quãng năm 79 hoặc 80. Học giới nay coi đây là một quá trình kéo dài nhiều thế kỷ chứ không phải một ngày.
- Thế kỷ 2 tới 5Tattvartha SutraUmasvati soạn bộ kinh tiếng Phạn tóm toàn bộ giáo nghĩa, bộ duy nhất cả hai dòng cùng nhận. Niên đại soạn còn rộng từ thế kỷ 2 tới thế kỷ 5.
- 453 hoặc 466Hội nghị ValabhiDưới sự chủ trì của Devarddhigani Kshamashramana, tu sĩ Svetambara chép kinh Agama thành văn. Nguồn cổ ghi năm 980 hoặc 993 sau Mahavira nhập diệt, quy ra năm 453 hoặc 466 Công nguyên.
- 981 tới 983Tượng lớn ở ShravanabelagolaPho tượng Bahubali tạc từ một khối đá granit trên đồi Vindhyagiri, cao quãng 17 mét, do Chavundaraya, một đại thần triều Tây Ganga, cho dựng. Nguồn ghi năm hoàn thành lệch nhau trong khoảng 981 tới 983.
- 1031 và 1230Đền Dilwara ở núi AbuĐền Vimal Vasahi thờ Rishabhanatha dựng năm 1031, đền Luna Vasahi thờ Neminatha dựng năm 1230, đều bằng cẩm thạch trắng chạm trổ dày đặc.
- Thế kỷ 15Lonka Shah và dòng không thờ tượngCư sĩ Lonka Shah ở Ahmedabad phản đối thờ tượng, dựa vào đọc lại kinh. Nguồn ghi mốc khác nhau, có nơi nêu năm 1451, có nơi nêu quãng 1476. Từ đây về sau hình thành dòng Sthanakvasi.
- 1760Dòng Terapanthi SvetambaraAcharya Bhikshu, sinh năm 1726, mất năm 1803, rời dòng Sthanakvasi lập dòng Terapanthi ở Rajasthan, theo mốc thường được dẫn là năm 1760.
- 1893Kỳ Na tại Nghị Hội Các Tôn Giáo Thế GiớiTại Chicago, luật sư Virchand Gandhi trình bày Kỳ Na Giáo trước công chúng Âu Mỹ, cùng kỳ nghị hội mà các đại biểu Phật Giáo lần đầu diễn thuyết ở đó.
- 1974 hoặc 1975Huy hiệu chung và dịp 2500 năm Mahavira nhập diệtCác dòng thống nhất một huy hiệu chung cho toàn cộng đồng. Đề xuất mã hóa ký hiệu Kỳ Na gửi Unicode năm 2015 ghi năm 1974, Wikipedia ghi năm 1975. Cũng dịp ấy ra đời tuyển tập Saman Suttam được các dòng cùng thuận.
VGiáo Nghĩa Cốt Lõi
Giáo nghĩa Kỳ Na là một hệ thống chặt, gần như một bản đồ: cái gì có trong vũ trụ, linh hồn bị trói ra sao, gỡ bằng cách nào, và khi gỡ xong thì linh hồn ở đâu. Mục này đi lần lượt từng mảnh, theo thứ tự mà chính Tattvartha Sutra dùng.
Linh hồn và cái không phải linh hồn
Kỳ Na chia mọi thứ có thật làm hai: jiva là linh hồn, cái biết và cảm, và ajiva là cái không có linh hồn. Linh hồn nhiều vô số, mỗi sinh vật một linh hồn riêng, và mỗi linh hồn tự bản chất có cái biết vô hạn, cái thấy vô hạn, niềm an lạc vô hạn và năng lực vô hạn. Linh hồn không nhỏ không lớn cố định mà co giãn theo thân nó đang ở, như ánh đèn đặt trong phòng nhỏ thì chiếu phòng nhỏ, đặt trong phòng lớn thì chiếu phòng lớn. Đây là chỗ Kỳ Na khác Phật Giáo từ gốc: Kỳ Na khẳng định có linh hồn thường hằng, Phật Giáo dạy vô ngã.
Cái không phải linh hồn gồm năm loại, cộng với linh hồn thành sáu thực thể của vũ trụ. Pudgala là vật chất, tạo bởi các nguyên tử. Dharma ở đây không mang nghĩa đạo pháp mà là môi trường cho chuyển động, như nước cho cá bơi. Adharma là môi trường cho đứng yên, như bóng cây cho người đi đường dừng chân. Akasha là không gian. Kala là thời gian, mà bên Svetambara có người không tính là một thực thể riêng. Không thực thể nào được tạo ra và không thực thể nào mất đi, chúng chỉ đổi dạng.
Sự sống ở khắp nơi
Kinh Kỳ Na xếp sinh vật theo số giác quan. Loài một giác quan chỉ có xúc giác, gồm năm nhóm: thân đất, thân nước, thân lửa, thân gió và cây cỏ. Nghĩa là một hạt đất, một giọt nước, một ngọn lửa cũng là thân của những sinh linh rất nhỏ. Loài hai giác quan như giun, sâu. Ba giác quan như kiến. Bốn giác quan như ong, ruồi. Năm giác quan gồm thú, chim, cá, người, chư thiên và chúng sinh địa ngục. Bảng xếp này không phải chuyện lý thuyết: nó quyết định cách người Kỳ Na ăn, uống, đi, nói và làm nghề, như các mục sau sẽ thấy.
Nghiệp là một thứ vật chất
Đây là chỗ độc đáo nhất của Kỳ Na. Với Phật Giáo, nghiệp là hành động có chủ ý. Với Kỳ Na, nghiệp là những hạt vật chất vi tế trôi khắp vũ trụ, bị hút vào linh hồn mỗi khi linh hồn động theo đam mê, rồi bám lại như bụi bám vào tấm vải thấm dầu. Chất dầu ấy là bốn đam mê gọi là kashaya: giận dữ, kiêu mạn, dối trá và tham lam. Đam mê càng mạnh, nghiệp bám càng dày và càng lâu. Nghiệp bám dày thì che mất cái biết vô hạn vốn có của linh hồn, và kéo linh hồn đi tái sinh hết thân này tới thân khác.
Nghiệp chia tám loại, gom thành hai nhóm. Bốn loại hủy hoại che lấp phẩm chất của linh hồn: loại che cái biết, loại che cái thấy, loại gây mê lầm và loại cản trở năng lực. Bốn loại không hủy hoại quy định hoàn cảnh của thân: cảm giác sướng khổ, tuổi thọ, loại thân được sinh vào, và địa vị trong đời. Người đạt cái biết trọn vẹn đã sạch bốn loại đầu nhưng còn bốn loại sau cho tới hết đời, rồi mới giải thoát hoàn toàn.
Kinh Kỳ Na dạy rằng tâm của mỗi người nhuốm một sắc tùy theo đam mê đang chi phối, gọi là leshya. Có sáu sắc, ba sắc tối là đen, xanh chàm và xám như lông bồ câu, ba sắc sáng thường tả là đỏ như lửa, vàng như hoa sen và trắng. Tâm càng hung hãn thì sắc càng tối, tâm càng lắng thì sắc càng sáng, và sắc trắng thuộc về người tâm đã tĩnh hoàn toàn.
Bảy chân lý và con đường gỡ nghiệp
Giáo nghĩa gói trong bảy chân lý, gọi là tattva. Có linh hồn và có cái không phải linh hồn. Nghiệp chảy vào linh hồn qua hoạt động của thân, lời và ý. Nghiệp kết dính vào linh hồn do đam mê. Nghiệp mới có thể bị chặn lại bằng giới hạnh và tỉnh giác. Nghiệp cũ có thể bị tiêu dần bằng khổ hạnh, nhất là nhịn ăn và thiền định. Và khi mọi nghiệp đã tiêu hết thì linh hồn giải thoát. Bên Svetambara thường thêm phước và tội thành chín điều. Toàn bộ đạo có thể hiểu như kỹ thuật đóng cửa không cho bụi vào rồi lau sạch bụi đã bám.
Ba viên ngọc
Câu mở đầu Tattvartha Sutra nói con đường giải thoát là thấy đúng, biết đúng và làm đúng cùng lúc. Kỳ Na gọi ba điều ấy là ratnatraya, ba viên ngọc. Thấy đúng là tin nhận đúng bảy chân lý. Biết đúng là hiểu chúng không sai, không thiếu, không nghi. Làm đúng là sống theo giới. Thiếu một trong ba thì không đi tới đích, như thuốc chữa bệnh cần cả tin thầy, biết thuốc và uống thuốc.
Ahimsa, bất hại
Ahimsa अहिंसा là lời nguyện thứ nhất và là gốc của mọi lời nguyện khác. Kinh Acaranga, một trong những kinh xưa nhất, có câu thường được dẫn: mọi sinh vật đều quý mạng sống, ưa an vui, ghét đau đớn, không muốn bị giết, mong được sống. Vì thế không được giết, không được sai người khác giết, và không được tán thành việc giết. Bất hại theo Kỳ Na xét cả ba mặt thân, lời và ý: một câu nói làm tổn thương, một ý nghĩ ác độc cũng là làm hại, và làm hại người khác thì trước hết đã làm hại chính linh hồn mình vì nó hút thêm nghiệp.
Kỳ Na phân biệt mức độ. Tu sĩ giữ bất hại trọn vẹn với mọi loài, kể cả loài một giác quan. Cư sĩ không thể sống mà không làm hại gì, nên giữ ở mức thấp hơn: tuyệt đối không cố ý hại loài có từ hai giác quan trở lên, và hạn chế tối đa việc hại loài một giác quan. Chính vì thế mà trong lịch sử, người Kỳ Na tránh nghề nông vốn phải cày xới đất và diệt sâu bọ, tránh nghề chài lưới, và dồn vào buôn bán, ngân hàng, kim hoàn.
Anekantavada, chân lý nhiều mặt
Anekantavada अनेकान्तवाद nghĩa đen là thuyết không một phía. Thực tại có vô số mặt, và mọi phát biểu của người chưa có cái biết trọn vẹn chỉ đúng từ một góc nhìn. Ngụ ngôn quen thuộc là mấy người mù sờ voi: người sờ vòi nói voi như con rắn, người sờ chân nói voi như cột nhà, người sờ tai nói voi như cái quạt, ai cũng đúng một phần và ai cũng sai khi cho phần của mình là toàn bộ. Truyện này cũng có trong kinh Phật, nhưng Kỳ Na dựng cả một phép luận lý trên nó.
Phép luận ấy gọi là syadvada स्याद्वाद, thuyết có lẽ, chữ syat nghĩa là xét theo một mặt nào đó. Mọi mệnh đề được xét qua bảy dạng: xét theo một mặt thì có, xét theo một mặt thì không, xét theo một mặt thì vừa có vừa không, xét theo một mặt thì không nói được, và ba dạng ghép. Một cái bình đất xét theo chất thì là đất, xét theo hình thì là bình, xét theo lúc này thì còn, xét theo trăm năm sau thì không. Anekantavada được người Kỳ Na coi là bất hại trong suy nghĩ: không cưỡng áp quan điểm của mình lên người khác.
Anekantavada không phải thuyết tương đối kiểu đúng sai gì cũng được. Kỳ Na khẳng định có chân lý tuyệt đối, và các bậc đã đạt cái biết trọn vẹn thấy được nó. Điều thuyết này nói là người thường chỉ thấy từng phần, nên cần khiêm tốn, không phải là mọi quan điểm đều ngang nhau.
Aparigraha, không chiếm giữ
Aparigraha अपरिग्रह là không bám giữ, cả vật ngoài thân lẫn đam mê trong tâm. Tu sĩ bỏ hết của cải, chỉ giữ vài vật cần cho tu tập, và tu sĩ nam Digambara bỏ cả áo. Cư sĩ nguyện tự đặt hạn mức cho của cải của mình, phần vượt hạn mức thì đem cúng dường hoặc làm việc thiện. Đây là một lý do cộng đồng Kỳ Na nổi tiếng về dựng nhà nghỉ cho người hành hương, bệnh viện thú vật và quỹ từ thiện.
Vũ trụ không do ai tạo ra
Kỳ Na không có đấng sáng thế. Vũ trụ, gọi là loka, có từ vô thủy và còn tới vô chung, vận hành theo quy luật tự nhiên của sáu thực thể. Loka có hình giới hạn, rộng ở dưới, thắt ở giữa, loe ở trên, chia ba cõi: cõi trên của chư thiên, cõi giữa nơi loài người sống, cõi dưới gồm các tầng địa ngục. Bên ngoài loka là khoảng không trống hoàn toàn. Trên đỉnh loka có một vùng hình trăng lưỡi liềm gọi là Siddhashila, nơi các linh hồn giải thoát ở lại mãi mãi.
Thời gian quay thành bánh xe, mỗi vòng gồm một nửa đi lên và một nửa đi xuống, mỗi nửa sáu thời kỳ. Theo giáo nghĩa, chúng ta đang ở thời kỳ thứ năm của nửa đi xuống, bắt đầu không lâu sau khi Mahavira nhập diệt và kéo dài hai mươi mốt nghìn năm. Trong thời kỳ này, ở vùng đất của chúng ta không ai đạt được giải thoát trọn vẹn, và người tu chỉ có thể tích lũy để tới gần đích ở những đời sau.
Giải thoát
Khi linh hồn sạch hết nghiệp, nó tự bay lên đỉnh vũ trụ như quả bầu khô rụng hết lớp bùn thì nổi lên mặt nước, và ở lại Siddhashila, hưởng trọn bốn phẩm chất vô hạn vốn có. Linh hồn giải thoát gọi là siddha. Người đã đạt cái biết trọn vẹn mà còn sống gọi là arihant, và Tirthankara là những arihant lập giáo đoàn. Con đường từ mê tới giải thoát được chia thành mười bốn nấc gọi là gunasthana, như bậc thang mà linh hồn leo dần, có khi tụt xuống rồi leo lại.
VIKinh Agama Và Những Bộ Sách Chung
Lời Mahavira được các ganadhara ghi nhớ và truyền miệng, gọi chung là Agama, viết bằng tiếng Ardhamagadhi, một dạng tiếng Prakrit của vùng Magadha, không phải tiếng Phạn. Trong đó có mười bốn bộ Purva, những bản văn cổ nhất, mà cả hai dòng đều nhận là đã thất truyền. Chỗ hai dòng khác nhau là phần còn lại: Svetambara tin phần lớn Agama được giữ lại và chép thành văn ở hội nghị Valabhi, Digambara tin toàn bộ kinh gốc đã mất dần tới quãng thế kỷ 2 Công nguyên.
| Dòng | Kinh được nhận | Số bộ | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Svetambara thờ tượng, tức Murtipujaka | Agama: 11 Anga, 12 Upanga, 6 Chedasutra, 4 Mulasutra, 2 Culikasutra, cùng các bộ lẻ | 45 | Chép thành văn ở hội nghị Valabhi năm 453 hoặc 466. Anga thứ mười hai đã thất truyền. |
| Sthanakvasi và Terapanthi | Agama, bỏ bớt các bộ mà họ cho là không đủ thẩm quyền | 32 | Hai dòng không thờ tượng nên cũng không nhận các bộ có nội dung liên quan tới thờ tượng. |
| Digambara | Shatkhandagama của Pushpadanta và Bhutabali, Kasayapahuda của Gunadhara, cùng các tác phẩm của Kundakunda như Samayasara | Không định số | Hai bộ đầu thuộc quãng thế kỷ 2 tới 3. Digambara xếp kinh sách thành bốn nhóm gọi là bốn anuyoga. |
| Mọi dòng | Tattvartha Sutra của Umasvati | 1 | Tiếng Phạn, mười chương, niên đại từ thế kỷ 2 tới 5. Bộ duy nhất cả hai dòng cùng nhận. |
Trong kho ấy, bộ được đọc nhiều nhất là Tattvartha Sutra. Umasvati gói cả hệ thống vào những câu kinh ngắn bằng tiếng Phạn, mở bằng câu thấy đúng, biết đúng, làm đúng là con đường giải thoát. Câu kinh ở chương năm, परस्परोपग्रहो जीवानाम्, phiên âm parasparopagraho jivanam, nghĩa là các sinh linh nương đỡ lẫn nhau, về sau được chọn làm câu khẩu hiệu dưới huy hiệu chung của đạo.
Kinh Acaranga, Anga thứ nhất, được học giới coi là một trong những lớp kinh xưa nhất, chép giới luật của tu sĩ và đời khổ hạnh của Mahavira. Kalpa Sutra chép tiểu sử các Tirthankara, được đọc to trong mùa lễ Paryushana ở nhiều đền Svetambara. Bên Digambara, Samayasara của Kundakunda bàn về linh hồn từ góc nhìn tuyệt đối và được coi như bộ sách tu tâm quan trọng nhất. Ngoài kinh còn một kho văn học lớn bằng tiếng Tamil, tiếng Kannada, tiếng Gujarat, và cả sách toán học như bộ Ganitasarasangraha của Mahaviracharya soạn quãng năm 850.
Lời tụng mà người Kỳ Na nào cũng thuộc là Namokar Mantra, còn gọi Navkar, bằng tiếng Prakrit. Năm câu đầu là: णमो अरिहंताणं, kính lễ các arihant. णमो सिद्धाणं, kính lễ các siddha. णमो आयरियाणं, kính lễ các vị thầy trưởng. णमो उवज्झायाणं, kính lễ các vị thầy dạy kinh. णमो लोए सव्व साहूणं, kính lễ mọi tu sĩ trong thế gian. Lời tụng này không nêu tên một vị nào, không xin điều gì, chỉ kính lễ phẩm chất, và vì thế cả hai dòng cùng tụng.
VIIHai Dòng Digambara Và Svetambara
Kỳ Na có hai dòng lớn, và trong mỗi dòng lại có những nhánh nhỏ. Digambara दिगम्बर nghĩa là người lấy bốn phương làm áo. Svetambara श्वेताम्बर nghĩa là người mặc áo trắng. Chỗ khác nhau dễ thấy nhất là y phục của tu sĩ, nhưng sâu hơn là chuyện kinh điển, chuyện nữ giới và chuyện bậc toàn tri có còn ăn uống hay không.
| Điểm | Digambara | Svetambara |
|---|---|---|
| Y phục tu sĩ nam | Không mặc gì, vì quần áo là một thứ sở hữu và phải được giặt, tức gây hại sinh vật nhỏ | Mặc áo trắng không khâu |
| Tu sĩ nữ | Mặc áo trắng, và theo dòng này không thể đạt giải thoát trong thân nữ | Mặc áo trắng, có thể đạt giải thoát trong thân nữ |
| Mallinatha, vị thứ mười chín | Là nam | Là nữ, tên Malli |
| Kinh điển | Kinh gốc đã thất truyền, dùng Shatkhandagama, Kasayapahuda và sách của Kundakunda | Nhận Agama chép ở Valabhi, 45 hoặc 32 bộ tùy nhánh |
| Đời Mahavira | Không lập gia đình | Có vợ là Yashoda và con gái Priyadarshana |
| Bậc toàn tri | Không còn ăn uống | Vẫn ăn uống như người thường |
| Vùng đông tín đồ | Karnataka, Maharashtra, Madhya Pradesh, một phần Rajasthan | Gujarat, Rajasthan, và phần lớn cộng đồng hải ngoại |
Mỗi dòng có câu chuyện riêng về lúc hai bên tách nhau. Digambara kể rằng trong một nạn đói mười hai năm ở Magadha, trưởng lão Bhadrabahu dẫn một phần tăng đoàn xuống phương nam và giữ nguyên lối tu không y phục, còn nhóm ở lại dưới quyền Sthulabhadra vì hoàn cảnh mà bắt đầu mặc áo trắng, rồi giữ luôn thói ấy. Svetambara kể ngược lại: một tu sĩ tên Shivabhuti, quãng 609 năm sau Mahavira nhập diệt, bất đồng với thầy mình, bỏ áo và lập ra lối tu không y phục. Svetambara còn cho rằng cả Bhadrabahu lẫn Sthulabhadra đều là tu sĩ mặc áo trắng, điều mà Digambara bác bỏ.
Sử học không chọn bên nào. Bia ký ở Mathura thời Kushan cho thấy quãng thế kỷ 1 và 2 đã có tu sĩ Kỳ Na được tả là mặc một mảnh vải, tức những khác biệt về y phục đã có mặt từ sớm. Học giới hiện nay xem cuộc tách dòng là một quá trình cứng lại dần qua nhiều thế kỷ, và hội nghị Valabhi ở thế kỷ 5, nơi Svetambara chép kinh thành văn mà không có Digambara tham dự, là lúc sự tách biệt ấy định hình rõ.
Các nhánh trong mỗi dòng
Nhánh đông nhất của Svetambara, thờ tượng Tirthankara trong đền, làm lễ với tám thứ lễ vật. Nhiều đền lớn ở Gujarat và Rajasthan thuộc nhánh này.
Nhánh Svetambara không thờ tượng, bắt nguồn từ phong trào của cư sĩ Lonka Shah thế kỷ 15 và thành hình ở thế kỷ 17. Tu tập tại các nhà hội gọi là sthanak thay vì đền. Tu sĩ đeo khăn che miệng suốt ngày.
Do Acharya Bhikshu lập quãng năm 1760, tách từ Sthanakvasi. Không thờ tượng, tổ chức chặt dưới một vị thầy duy nhất đứng đầu toàn dòng.
Hai nhánh của Digambara khác nhau về cách thờ tượng và về vai trò của các thầy quản đền. Tên Terapanthi ở đây trùng với nhánh Svetambara nhưng là hai nhóm khác nhau.
Người ngoài thường nghĩ mọi tu sĩ Kỳ Na đều không mặc áo. Không đúng. Chỉ tu sĩ nam dòng Digambara giữ lối ấy, và họ là số ít trong tổng số tu sĩ Kỳ Na. Tu sĩ nữ Digambara và toàn bộ tu sĩ Svetambara đều mặc áo trắng. Với người Digambara, bỏ áo là bước cuối của lời nguyện không chiếm giữ, không mang nghĩa khiêu khích hay phô bày.
VIIIChữ Vạn Trong Kỳ Na Và Chỗ Khác Dấu Quốc Xã
Mục này có vì một lẽ thẳng thắn: chữ vạn là biểu tượng gốc của Kỳ Na, và người đọc hôm nay rất dễ nhìn nó qua cái bóng của thế kỷ 20. Thư viện đã chọn cho khám Kỳ Na trong Chính Điện ấn ký bàn tay bất hại chứ không dùng chữ vạn, vì một ấn ký nhỏ đứng một mình, không lời giải thích, rất dễ bị đọc nhầm. Đổi lại, thân bài phải giảng cho rõ. Trang này chỉ nói chữ vạn bằng lời, không in ký tự hay hình của nó.
Tên gọi và nghĩa gốc
Tiếng Phạn gọi dấu này là svastika स्वस्तिक, ghép từ su là tốt, lành và asti là đang có, tức dấu của điều tốt lành đang có mặt. Người Việt gọi là chữ vạn, theo lối gọi của nhà chùa, nghĩa là muôn điều lành. Hình dạng tả bằng lời: một chữ thập đặt thẳng, bốn cạnh song song với mặt đất và mép trang, đầu mỗi cánh gập một góc vuông theo cùng một chiều quay. Trong Kỳ Na, các cánh thường gập theo chiều kim đồng hồ.
Với người Kỳ Na, bốn cánh của chữ vạn là bốn cảnh giới mà linh hồn còn trôi lăn trong luân hồi có thể sinh vào: chư thiên, loài người, loài thú và cây cỏ, và chúng sinh địa ngục. Bên trên chữ vạn đặt ba chấm, là ba viên ngọc thấy đúng, biết đúng, làm đúng, con đường để thoát khỏi bốn cảnh ấy. Trên nữa là một vầng trăng lưỡi liềm, tức Siddhashila, và một chấm trên vầng trăng, tức linh hồn đã giải thoát. Đọc từ dưới lên, cả cụm là một câu: từ bốn nẻo luân hồi, nhờ ba viên ngọc mà lên tới chỗ giải thoát. Có cách giảng khác coi bốn cánh là bốn chúng tăng, ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ.
Chữ vạn trong đời sống đạo
Chữ vạn là dấu riêng của vị Tirthankara thứ bảy, khắc dưới bệ thờ vị này.
Trong lễ thờ ở đền, nhất là bên Svetambara, người lễ dùng gạo nguyên hạt xếp thành chữ vạn trên một mặt bàn nhỏ trước bệ, đặt ba chấm và vầng trăng phía trên, rồi đặt lễ vật lên đó.
Chữ vạn là một trong tám dấu cát tường, gọi là ashtamangala, cùng với bình nước, gương, đôi cá và các dấu khác. Hai dòng có danh sách tám dấu hơi khác nhau.
Một dạng chữ vạn phức tạp, các cánh uốn lượn nhiều lần. Theo Svetambara đây là biểu trưng của vị thứ mười tám Aranatha.
Cờ Kỳ Na có năm dải màu ứng với năm bậc được kính lễ trong lời tụng Namokar, chữ vạn đặt ở giữa.
Huy hiệu chung của đạo
Nhân dịp kỷ niệm 2500 năm Mahavira nhập diệt, các dòng Kỳ Na thống nhất một huy hiệu chung. Về năm, hai nguồn ghi khác nhau: đề xuất mã hóa ký hiệu Kỳ Na gửi Unicode năm 2015 ghi năm 1974, Wikipedia ghi năm 1975, và dịp kỷ niệm ấy trải qua cả hai năm. Đường viền huy hiệu là hình loka, vũ trụ theo Kỳ Na. Trong lòng là chữ vạn, ba chấm, vầng trăng và chấm trên cùng như vừa giảng. Nửa dưới là bàn tay giơ lên, lòng bàn tay có bánh xe hai mươi bốn nan ứng với hai mươi bốn Tirthankara và chữ ahimsa ở giữa, ý nói hãy dừng lại mà nghĩ trước khi làm hại. Dưới cùng là câu kinh các sinh linh nương đỡ lẫn nhau. Ấn ký của khám Kỳ Na trong thư viện này chỉ lấy riêng bàn tay ấy.
Dấu chữ vạn cổ hơn mọi đạo hiện còn. Ở Nam Á, dấu này xuất hiện trên các con dấu của văn minh sông Indus từ quãng 3000 năm trước Công nguyên, ở các di chỉ như Mohenjo-daro. Xa hơn nữa, một tượng nhỏ bằng ngà voi ma mút tìm thấy ở di chỉ Mezine, Đông Âu, có hoa văn gồm những chữ vạn nối nhau, niên đại quãng 10.000 tới 17.000 năm trước Công nguyên. Dấu này có mặt ở rất nhiều nền văn hóa trên thế giới với nghĩa may mắn, mặt trời hoặc vòng quay, và Kỳ Na, Phật Giáo, Ấn Độ Giáo cùng thừa hưởng nó từ lớp văn hóa chung ấy.
Dấu hiệu của Đảng Quốc Xã Đức, tiếng Đức gọi là Hakenkreuz, nghĩa đen là chữ thập có móc, được đảng ấy dùng từ năm 1920. Nó vẽ xoay nghiêng bốn mươi lăm độ, đứng trên một góc chứ không nằm thẳng, tô đen, đặt trong vòng tròn trắng giữa nền đỏ, và không bao giờ đi cùng ba chấm hay vầng trăng. Chữ vạn Kỳ Na đặt thẳng, thường vẽ màu đỏ son, vàng hoặc bằng hạt gạo, luôn gắn với ba chấm và vầng trăng, và mang nghĩa cát tường cùng con đường giải thoát. Việc tiếng Anh dịch chữ Hakenkreuz thành swastika là một lựa chọn dịch thuật về sau, và chính nó góp phần làm hai dấu bị gộp làm một. Nêu chỗ khác nhau này không để bênh hay chê ai, chỉ để quý vị nhìn một chữ vạn trên cửa đền Kỳ Na mà biết đúng nó là gì.
IXTu Sĩ, Cư Sĩ, Ăn Uống Và Lễ Trong Năm
Cộng đồng Kỳ Na gồm bốn chúng: tu sĩ nam, tu sĩ nữ, nam cư sĩ và nữ cư sĩ. Hai chúng xuất gia giữ năm lời nguyện ở mức trọn vẹn, gọi là đại nguyện. Hai chúng tại gia giữ năm lời nguyện ấy ở mức nhỏ hơn, gọi là tiểu nguyện, cộng thêm bảy lời nguyện bổ trợ. Hai bên nương nhau: cư sĩ lo cơm áo cho tu sĩ, tu sĩ dạy đạo cho cư sĩ.
Không làm hại sinh linh nào, bằng thân, lời hay ý.
Nói thật, và không nói lời thật mà gây hại.
Không lấy gì người ta không cho.
Tu sĩ giữ phạm hạnh trọn vẹn, cư sĩ chung thủy trong hôn nhân. Đây là lời nguyện Mahavira thêm vào bốn giới của Parshvanatha.
Tu sĩ bỏ hết sở hữu, cư sĩ tự đặt hạn mức cho của cải.
Đời tu sĩ
Tu sĩ Kỳ Na không có chỗ ở cố định. Họ đi chân đất từ nơi này sang nơi khác, không dùng xe, không ở một chỗ quá vài ngày, trừ bốn tháng mùa mưa gọi là chaturmas, khi đường sá đầy sinh vật nhỏ và đi lại dễ giẫm phải, nên họ dừng lại ở một thị trấn và giảng dạy cho cư sĩ ở đó. Khi xuất gia và định kỳ sau đó, tu sĩ tự nhổ tóc bằng tay, gọi là keshlonch, để tập chịu đau và không lệ thuộc thợ cạo. Tu sĩ không nấu ăn, chỉ nhận thức ăn cư sĩ đã nấu sẵn cho gia đình mình, mỗi nhà một ít để không làm ai phải nấu riêng.
Mỗi dòng có vật dụng riêng để giữ bất hại. Tu sĩ Digambara cầm một cây chổi lông công gọi là pichhi, làm bằng lông công tự rụng, để phẩy nhẹ chỗ sắp ngồi. Họ chỉ ăn một bữa mỗi ngày, đứng mà ăn, nhận thức ăn vào hai lòng bàn tay chụm lại. Tu sĩ Svetambara cầm chổi len mềm gọi là rajoharana để quét nhẹ đường đi, và dùng một mảnh vải gọi là muhpatti che miệng khi nói, để hơi thở và lời nói không làm hại sinh vật nhỏ trong không khí. Tu sĩ Sthanakvasi và Terapanthi đeo mảnh vải ấy suốt ngày.
Đời cư sĩ
Một ngày của cư sĩ Kỳ Na giữ đạo thường mở bằng lời tụng Namokar, rồi tới đền chiêm bái, gọi là darshan. Người Svetambara thờ tượng làm lễ tám thứ gồm nước, đàn hương, hoa, nhang, đèn, gạo, bánh ngọt và trái cây, mỗi thứ gắn một ý nghĩa về con đường gỡ nghiệp. Nhiều người ngồi samayika, bốn mươi tám phút tĩnh tâm giữ mình không thiên không ghét, và làm pratikramana, nghi thức sám hối điểm lại những lỗi đã phạm với mọi loài trong ngày.
Ăn uống
Không thịt, cá, trứng. Sữa theo truyền thống vẫn được dùng. Một bộ phận người trẻ ở hải ngoại chuyển sang ăn thuần thực vật với lý do bất hại.
Người giữ nghiêm không ăn khoai tây, hành, tỏi, cà rốt, củ cải, vì nhổ củ lên là giết cả cây, và giáo nghĩa cho rằng trong củ rễ có vô số sinh linh rất nhỏ.
Lấy mật là hại đàn ong, còn rượu vừa sinh từ lên men có vô số vi sinh, vừa làm mờ tâm.
Người giữ nghiêm không ăn sau khi trời tối, vì côn trùng dễ rơi vào thức ăn mà không thấy. Có người giữ cả không uống nước sau hoàng hôn.
Nước uống được lọc qua vải và nhiều nhà đun sôi, để không nuốt sinh vật nhỏ và giảm số sinh vật phải chết trong nước để lâu.
Nhịn ăn là pháp tu tiêu nghiệp chính, từ nhịn một bữa, một ngày tới tám ngày, một tháng, luôn có thầy hướng dẫn và cộng đồng cùng tùy hỷ.
Lễ lớn trong năm
| Lễ | Thời điểm | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| Paryushana và Das Lakshana | Tháng Bhadrapada theo lịch Ấn, thường rơi vào tháng 8 hoặc tháng 9 dương lịch | Mùa lễ lớn nhất năm. Svetambara giữ tám ngày, gọi là Paryushana. Digambara giữ mười ngày, gọi là Das Lakshana, mỗi ngày một đức tính. Người ta nhịn ăn, nghe giảng, đọc Kalpa Sutra. |
| Samvatsari | Ngày cuối mùa Paryushana | Ngày sám hối chung. Người Kỳ Na nói với nhau câu tiếng Prakrit मिच्छामि दुक्कडं, phiên âm micchami dukkadam, xin cho mọi lỗi tôi đã phạm với người được hóa thành vô hiệu. |
| Mahavir Jayanti | Ngày mười ba trăng lên tháng Chaitra, thường vào tháng 3 hoặc tháng 4 dương lịch | Ngày sinh Mahavira. Rước kiệu, giảng đạo, làm việc thiện. |
| Diwali | Đêm không trăng tháng Kartika, thường vào tháng 10 hoặc tháng 11 dương lịch | Với người Kỳ Na là đêm Mahavira nhập niết bàn. Ngày hôm sau mở đầu năm mới theo kỷ nguyên Vira Nirvana Samvat. |
| Akshaya Tritiya | Ngày mùng ba trăng lên tháng Vaishakha, thường vào tháng 4 hoặc tháng 5 | Tưởng nhớ Rishabhanatha dứt kỳ nhịn ăn dài một năm bằng nước mía. Người giữ pháp nhịn cách nhật suốt năm kết thúc kỳ tu vào ngày này. |
| Mahamastakabhisheka | Mười hai năm một lần, gần nhất năm 2018 | Lễ tắm pho tượng lớn ở Shravanabelagola bằng nước, sữa, nghệ và hoa, từ giàn giáo dựng quanh tượng. |
Sallekhana
Kinh Kỳ Na, trong đó có Tattvartha Sutra, nói tới sallekhana सल्लेखना, lời nguyện của người biết cái chết đã tới gần do tuổi già hay bệnh không chữa được, tự giảm dần thức ăn và nước uống trong tỉnh giác, dưới sự hướng dẫn của thầy và với sự đồng ý của gia đình. Giáo nghĩa phân biệt rõ việc này với việc tự hủy hoại: nó chỉ được làm khi cái chết không còn tránh được, và phải làm trong trạng thái không giận, không sợ, không mong cầu. Đây là một thực hành hiếm, gây nhiều thảo luận trong và ngoài cộng đồng, và trang này chỉ ghi lại đúng điều kinh sách nói.
XĐền Kỳ Na Và Những Núi Hành Hương
Đền Kỳ Na có nhiều tên theo vùng: người Gujarat gọi là derasar, người Karnataka gọi đền Digambara là basadi. Trung tâm đền là tượng một hay nhiều Tirthankara, nhận ra nhau qua biểu trưng khắc dưới bệ chứ không qua nét mặt, vì theo giáo nghĩa mọi Tirthankara đều đạt cùng một trạng thái. Đền không phải chỗ cầu xin mà là chỗ đứng trước một mẫu người đã giải thoát. Nhiều đền cấm mang đồ da vào trong, và người vào chiêm bái rửa sạch, bỏ giày ở cổng.
| Nơi | Vùng, nay thuộc | Dòng | Vì sao quan trọng |
|---|---|---|---|
| Sammed Shikharji | Bang Jharkhand | Cả hai dòng | Theo truyền thống, hai mươi trong hai mươi bốn Tirthankara nhập niết bàn trên dãy đồi này, trong đó có Parshvanatha. Là nơi hành hương thiêng nhất. |
| Pavapuri | Bang Bihar | Cả hai dòng | Nơi Mahavira nhập niết bàn. Có đền Jal Mandir bằng cẩm thạch trắng giữa một hồ sen. |
| Shatrunjaya, Palitana | Bang Gujarat | Svetambara | Một ngọn đồi phủ kín đền, hàng trăm ngôi mà các nguồn đếm khác nhau. Người hành hương leo lên từ sáng sớm và phải xuống trước khi trời tối, vì theo tục, núi là chỗ ở của thần thánh, không ai ngủ lại. |
| Girnar | Bang Gujarat | Cả hai dòng | Núi nơi Neminatha nhập niết bàn. Trên núi có cả đền Kỳ Na và đền Ấn Độ Giáo. |
| Shravanabelagola | Bang Karnataka | Digambara | Pho tượng Bahubali nguyên khối cao quãng 17 mét, dựng quãng 981 tới 983, cùng nơi truyền thống cho là Bhadrabahu và Chandragupta Maurya dừng chân cuối đời. |
| Dilwara, núi Abu | Bang Rajasthan | Svetambara | Cụm đền cẩm thạch trắng thế kỷ 11 tới 13, nổi tiếng về chạm trổ trần vòm. |
| Ranakpur | Bang Rajasthan | Svetambara | Đền thế kỷ 15 thờ Rishabhanatha, kiểu bốn mặt, tương truyền có 1.444 cột chạm không cột nào giống cột nào. |
Điều dễ thấy khi nhìn bảng trên là núi. Nhiều nơi thiêng nhất của Kỳ Na là đỉnh đồi, vì đó là nơi các Tirthankara và nhiều vị tu sĩ chọn để nhịn ăn và thiền định lần cuối trước khi giải thoát. Những nơi ấy gọi là siddhakshetra, cõi đất nơi có người đã thành siddha. Người hành hương leo núi bằng chân, hàng nghìn bậc đá, và chính việc leo được coi là một phần của pháp tu.
XIKỳ Na Và Phật Giáo: Cùng Thời, Cùng Vùng, Khác Đường
Hai đạo này là anh em cùng lứa: cùng sinh trong phong trào sa môn, cùng quanh vùng Magadha, cùng bác thẩm quyền của Veda, cùng có người khai đạo xuất thân dòng quý tộc chiến binh rời nhà năm ba mươi tuổi hoặc gần ba mươi. Người đọc Việt đã quen Phật Giáo nên dễ đọc Kỳ Na như một bản sao, và đó là chỗ nhầm. Bảng dưới đặt hai đạo cạnh nhau. Muốn đọc trọn về Phật Giáo, xin xem trang riêng của thư viện.
| Điểm | Kỳ Na Giáo | Phật Giáo |
|---|---|---|
| Người khai đạo | Mahavira, vị thứ hai mươi tư trong chuỗi Tirthankara, người khôi phục đạo cũ | Đức Phật Thích Ca, người tự tìm ra con đường |
| Linh hồn | Có linh hồn thường hằng, mỗi sinh vật một linh hồn | Vô ngã, không có bản ngã thường hằng |
| Nghiệp | Hạt vật chất vi tế bám vào linh hồn | Hành động có chủ ý và quán tính nó để lại |
| Khổ hạnh | Là pháp tu chính để tiêu nghiệp cũ | Bị coi là một cực phải tránh, chọn trung đạo |
| Phạm vi sự sống | Cả đất, nước, lửa, gió, cây cỏ đều mang linh hồn | Không mở rộng tới đất, nước, lửa, gió |
| Giải thoát | Linh hồn bay lên đỉnh vũ trụ, ở lại Siddhashila | Niết bàn, dập tắt tham sân si, không phải một nơi chốn |
| Lan tỏa | Gần như chỉ ở Ấn Độ, cùng cộng đồng di cư | Lan khắp châu Á rồi ra thế giới |
Kinh Pali nhắc tới Nigantha Nataputta nhiều lần, như trong kinh Sa Môn Quả ở Trường Bộ, nơi ông được kể là một trong sáu vị thầy nổi tiếng đương thời, và kinh Upali ở Trung Bộ kể một cư sĩ của ông chuyển sang theo Đức Phật. Kinh Làng Sama kể tin ông mất ở Pava và đệ tử chia rẽ sau đó. Về phía Kỳ Na, kinh sách ít nhắc tới Đức Phật hơn. Các đoạn kinh Phật ghi giáo thuyết Kỳ Na theo con mắt của người ngoài và mang tính tranh luận, nên được đọc như chứng cứ cho sự có mặt của đạo này, không phải như một bản trình bày đúng giáo nghĩa của nó.
Một câu hỏi hay được nêu: vì sao Phật Giáo gần như biến mất khỏi Ấn Độ sau thế kỷ 12 mà Kỳ Na thì còn tới nay. Giới nghiên cứu nêu vài cách giải thích, không cách nào được coi là trọn vẹn. Kỳ Na gắn tu sĩ với cư sĩ rất chặt, cư sĩ có lời nguyện và nghi thức riêng hằng ngày, nên đạo không dồn hết vào vài đại tự. Cộng đồng Kỳ Na là giới thương nhân có của, đủ sức tự nuôi đền và tu sĩ qua nhiều đời. Và Kỳ Na không đi ra ngoài Ấn Độ, nên toàn bộ sức lực dồn vào giữ gìn ở chỗ đứng cũ.
XIISố Tín Đồ Ngày Nay
Kỳ Na là một đạo nhỏ về số người. Theo Điều tra dân số Ấn Độ năm 2011, cả nước có 4.451.753 người Kỳ Na, bằng 0,37 phần trăm dân số, giảm tỷ lệ so với 0,41 phần trăm năm 2001 dù số người tăng từ 4.225.053. Tới lúc bài này viết, 2011 vẫn là cuộc điều tra gần nhất của Ấn Độ đã công bố số theo tôn giáo. Pew Research Center không tách riêng Kỳ Na trong báo cáo tháng 6 năm 2025 mà gộp vào nhóm các tôn giáo khác, cùng với Sikh, Bahá'í, Thần Đạo, Đạo Giáo và nhiều đạo nhỏ.
| Nơi | Con số | Nguồn và mốc |
|---|---|---|
| Toàn Ấn Độ | 4.451.753 người, 0,37 phần trăm dân số | Điều tra dân số Ấn Độ 2011 |
| Maharashtra | Quãng 1,40 triệu, 1,25 phần trăm dân số bang | Điều tra dân số Ấn Độ 2011, theo bản phân tích của CPS India |
| Rajasthan | Quãng 622.000, 0,91 phần trăm | Như trên |
| Gujarat | Quãng 580.000, 0,96 phần trăm | Như trên |
| Madhya Pradesh | Quãng 567.000, 0,78 phần trăm | Như trên |
| Karnataka | Quãng 440.000, 0,72 phần trăm | Điều tra dân số Ấn Độ 2011, theo Wikipedia mục Jainism in India |
| Ngoài Ấn Độ | Quãng 250.000 người | World Religion Database, do Pew Research Center dẫn, mốc 2010 |
| Anh và xứ Wales | 24.991 người | Điều tra dân số Anh 2021 |
Pew Research Center ghi rằng một số người Kỳ Na cho con số điều tra dân số Ấn Độ thấp hơn thực tế đáng kể. Một lý do hay được nêu là có người Kỳ Na khai mình là Hindu, vì hai cộng đồng sống xen, lấy nhau và dự lễ của nhau.
Hoa Kỳ và nhiều nước khác không hỏi tôn giáo trong điều tra dân số, nên số người Kỳ Na ở đó chỉ là ước tính của hội đoàn hoặc của các khảo sát mẫu.
Mọi con số đều đếm người tự nhận là Kỳ Na. Mức giữ đạo trong số ấy chênh lệch rất xa, từ người nhịn ăn cả tháng tới người chỉ tới đền vào mùa Paryushana.
Có ba chỗ nguồn vênh nhau, trang này ghi thẳng. Thứ nhất, con số toàn Ấn Độ năm 2011 được Wikipedia ghi là 4.451.753, còn bản phân tích của CPS India chép 4.452.753, lệch đúng một nghìn, nhiều khả năng là lỗi chép, và trang này theo con số thứ nhất. Thứ hai, Wikipedia mục Jainism in India ghi Rajasthan có 1.023.587 người, trong khi CPS India ghi quãng 622.000, và chỉ con số sau khớp với tỷ lệ 0,91 phần trăm dân số bang, nên trang này dùng con số sau. Thứ ba, về người Kỳ Na ngoài Ấn Độ, báo cáo Pew năm 2012 dẫn World Religion Database là chưa tới 250.000, báo cáo Pew năm 2015 dẫn cùng nguồn là quãng 250.000.
XIIITại Việt Nam
Xin nói thẳng: Kỳ Na Giáo không có tổ chức nào tại Việt Nam. Đạo này không nằm trong mười sáu tôn giáo được Nhà nước công nhận, theo danh sách VietnamNet đăng tháng 7 năm 2025 dựa trên số liệu của Ban Tôn giáo Chính phủ. Không có đền Kỳ Na, không có tu sĩ thường trú, không có con số tín đồ chính thức. Trang này không tìm được nguồn đáng tin nào ghi nhận một hội đoàn Kỳ Na hoạt động ở Việt Nam.
Về lịch sử, các nghiên cứu về Champa và về con đường buôn giữa Ấn Độ và Đông Nam Á mà thư viện tra được ghi rõ dấu vết Ấn Độ Giáo và Phật Giáo, nhưng chưa ghi dấu vết chắc chắn nào của Kỳ Na trên đất Việt Nam. Điều này khớp với đặc điểm chung của đạo: Kỳ Na gần như không truyền giáo ra ngoài tiểu lục địa Ấn Độ trước thời cận đại, vì tu sĩ không được đi thuyền hay dùng xe, và thương nhân Kỳ Na đi buôn xa không mang theo tăng đoàn.
Người Việt gặp đạo này ở đâu
Các bản kinh Hán tạng mà chùa Việt dùng gọi người Kỳ Na là Ni Kiền Tử, và gọi tu sĩ không y phục là lõa hình ngoại đạo. Nhiều người Việt tụng kinh đã đọc những cái tên ấy mà không biết đó là một đạo còn sống tới nay.
Trong số người Ấn Độ làm ăn và du lịch tại Việt Nam có người Kỳ Na, nhưng họ giữ đạo trong gia đình, không lập nơi thờ công cộng.
Một số nhà hàng Ấn Độ ở các thành phố lớn và các trang hướng dẫn du lịch cho khách Ấn nhắc tới món ăn kiểu Jain, tức món chay không hành, tỏi và củ rễ. Đó là dấu vết dễ thấy nhất của đạo này trong đời sống Việt Nam hôm nay.
Đừng nhầm Kỳ Na với đạo Bà La Môn của người Chăm Ahiér, vốn là một tôn giáo được công nhận tại Việt Nam và thuộc dòng Shiva giáo đã bản địa hóa. Cũng đừng nhầm với các đạo Ấn Độ khác có đền ở Thành phố Hồ Chí Minh như đền Bà Mariamman, đó là đền Ấn Độ Giáo. Trang riêng về Ấn Độ Giáo của thư viện ghi chi tiết các nơi ấy.
XIVDấu Vết Trong Đời Sống Và Con Mắt Phong Thủy
Xin nói trước khi vào mục. Kỳ Na Giáo không dạy phong thủy, và trang này không gán phong thủy cho đạo ấy. Kỳ Na có quy tắc riêng về chỗ dựng đền, hướng tượng và bố cục, một phần chung với thuật Vastu của Ấn Độ, một phần là của riêng đạo. Mục này trình bày những quy tắc ấy trước. Phần cuối là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền Việt Nam, viết cho bạn đọc quen lối xem đất của người Việt có chỗ đối chiếu, không phải điều người Kỳ Na nghĩ khi dựng đền.
Sách dựng nhà của một thương nhân Kỳ Na
Kỳ Na có sách kiến trúc riêng. Tiêu biểu là Vatthusara, tức Vastusara, do Thakkura Pheru, một thương nhân và nhà kim hoàn Kỳ Na, soạn năm 1315 bằng tiếng Prakrit pha Apabhramsa, gần lời nói thường của thời ấy để thợ nề và thương nhân đọc được. Sách bàn quy tắc dựng nhà, dựng đền, tạc tượng và chọn thời điểm khởi công. Tức là người Kỳ Na có truyền thống chọn hướng và chọn ngày, nhưng truyền thống ấy đi từ hệ Vastu của Ấn Độ, không phải từ la bàn và bát quái của phong thủy Trung Hoa.
Đền bốn mặt
Nhiều đền Kỳ Na lớn dựng theo kiểu chaumukha, nghĩa là bốn mặt: tượng đặt quay ra bốn hướng và đền mở cửa cả bốn phía, như đền Ranakpur. Gốc của kiểu này là hình ảnh samavasarana, hội trường mà chư thiên dựng cho Tirthankara giảng pháp, trong đó theo giáo nghĩa, chúng sinh ngồi ở hướng nào cũng thấy vị Tirthankara quay mặt về mình. Đây là một chỗ khác hẳn lối nghĩ của người Việt, vốn chọn cho mỗi công trình thờ tự một hướng chính và một cửa chính. Đền Kỳ Na kiểu bốn mặt không có hướng chính theo nghĩa ấy.
Núi thiêng là núi của người đã giải thoát
Như mục đền thờ đã nói, nhiều nơi thiêng nhất của Kỳ Na nằm trên đỉnh đồi. Cái lý của chúng không nằm ở thế đất mà ở chuyện đã xảy ra ở đó: đồi thiêng vì có người đã nhịn ăn, thiền định và giải thoát trên ấy. Với người Kỳ Na, một ngọn đồi trở nên thiêng do một đời tu, không do long mạch hay khí.
Đọc theo con mắt cổ truyền Việt Nam
Phần này là kiến giải riêng của thư viện. Nhìn vài nơi thiêng của Kỳ Na bằng con mắt người Việt quen xem đất, có mấy chỗ gợi liên tưởng. Shravanabelagola nằm giữa hai ngọn đồi Vindhyagiri và Chandragiri, giữa là một hồ nước, và tên đất ấy nghĩa là hồ trắng của tu sĩ. Người Việt nhìn vào sẽ gọi đó là thế hai núi ôm lấy một minh đường có nước tụ. Jal Mandir ở Pavapuri là ngôi đền trắng đứng giữa hồ sen, nối bờ bằng một lối đi dài, gợi tới lối thủy đình và những ngôi chùa dựng giữa ao của người Việt.
Chỗ gặp còn nằm ở màu sắc. Kỳ Na chuộng màu trắng: áo tu sĩ Svetambara trắng, đá cẩm thạch trắng ở Dilwara và Pavapuri, sắc trắng là sắc cao nhất trong sáu leshya. Lối ngũ hành cổ truyền xếp trắng vào hành Kim, gắn với sự thu lại, lắng xuống, và cũng là màu tang phục cổ của người Việt. Chính Điện của thư viện chọn cho khám Kỳ Na sắc trắng thuần kèm sắc lục của sự sống được giữ gìn. Đó là lựa chọn của thư viện, không phải một quy định của đạo.
Từ đó có hai hiểu lầm ngược chiều. Một là đem cung mệnh, bát trạch áp lên đền Kỳ Na, hoặc coi chữ vạn Kỳ Na như một lá bùa phong thủy để treo trấn trạch. Cả hai đều áp sai hệ: chữ vạn trong Kỳ Na là một câu giáo nghĩa về con đường thoát luân hồi, không phải vật trấn. Hai là cho rằng đạo không dạy phong thủy thì dựng đền tùy ý. Cũng sai: đền Kỳ Na dựng theo quy tắc chặt của Vastu và của riêng đạo, chỉ có điều quy tắc ấy nói bằng ngôn ngữ khác.
XVNhững Chỗ Hay Hiểu Lầm
Một đạo nhỏ, ở xa, lại có vài thực hành lạ mắt, tất bị hiểu sai nhiều. Phần dưới gom những chỗ hay nhầm nhất trong cách người Việt nói về Kỳ Na, không để bênh vực, chỉ để quý vị nhìn cho đúng.
Không. Hai đạo cùng thời, cùng vùng, cùng là đạo sa môn, nhưng khác ở gốc: Kỳ Na khẳng định có linh hồn thường hằng và coi nghiệp là vật chất, Phật Giáo dạy vô ngã và coi nghiệp là hành động có chủ ý. Kinh Phật còn ghi Nigantha Nataputta như một vị thầy của một đạo khác.
Người ngoài hay nói vậy cho gọn. Theo giáo nghĩa, Mahavira là vị thứ hai mươi tư khôi phục một đạo đã có. Sử học cũng có cơ sở cho thấy trước ông đã có cộng đồng theo Parshvanatha.
Kỳ Na không có đấng sáng thế. Vũ trụ vô thủy vô chung. Các Tirthankara được tôn kính như những người đã giải thoát, không phải thần tạo ra hay cai quản thế giới.
Không. Chữ vạn Kỳ Na đặt thẳng, đi cùng ba chấm và vầng trăng, mang nghĩa cát tường và con đường giải thoát, có trước dấu Quốc Xã hàng nghìn năm. Dấu Quốc Xã xoay nghiêng bốn mươi lăm độ, tô đen trong vòng tròn trắng trên nền đỏ.
Chỉ tu sĩ nam Digambara giữ lối ấy, và đó là bước cuối của lời nguyện không chiếm giữ. Tu sĩ nữ Digambara và mọi tu sĩ Svetambara đều mặc áo trắng.
Mảnh vải muhpatti trước hết là để hơi thở và lời nói không làm hại những sinh vật nhỏ bé trong không khí, và để nhắc người tu giữ lời. Nó có từ lâu trước khi người ta biết tới vi trùng.
Chặt hơn nhiều. Ngoài không thịt cá trứng, người giữ nghiêm còn không ăn củ rễ như hành, tỏi, khoai tây, không ăn mật ong, và không ăn sau khi mặt trời lặn.
Ahimsa của Kỳ Na xét cả lời nói và ý nghĩ, cả việc sai người khác làm hại và việc tán thành việc hại, và mở rộng tới cả những sinh linh chỉ có một giác quan.
Tuyệt đại đa số người Kỳ Na là cư sĩ, đi làm, buôn bán, lập gia đình. Khổ hạnh trọn vẹn là con đường của số ít đã xuất gia, cư sĩ giữ giới ở mức nhẹ hơn và nhịn ăn theo kỳ.
?Hỏi Đáp Nhanh
Kỳ Na Giáo là gì
Kỳ Na Giáo, tiếng Anh là Jainism, là một tôn giáo của Ấn Độ lấy bất hại, tiếng Phạn là ahimsa, làm trục chính. Đạo này dạy rằng mọi sinh vật, kể cả hạt đất, giọt nước và cây cỏ, đều mang linh hồn, và linh hồn bị trói vào vòng sinh tử bởi nghiệp, một thứ vật chất vi tế bám vào khi ta động theo giận, kiêu, dối, tham. Con đường giải thoát là thấy đúng, biết đúng và làm đúng. Vị thầy gần nhất là Mahavira, sống cùng thời với Đức Phật. Kỳ Na không có đấng sáng thế.
Kỳ Na Giáo có bao nhiêu tín đồ
Theo Điều tra dân số Ấn Độ năm 2011, Ấn Độ có 4.451.753 người Kỳ Na, bằng 0,37 phần trăm dân số, đông nhất ở Maharashtra, Rajasthan, Gujarat, Madhya Pradesh và Karnataka. World Religion Database, do Pew Research Center dẫn, ước quãng 250.000 người Kỳ Na sống ngoài Ấn Độ ở mốc 2010, đông ở Hoa Kỳ, Canada, Anh và Kenya. Điều tra dân số Anh năm 2021 ghi 24.991 người ở Anh và xứ Wales. Một số người Kỳ Na cho rằng số điều tra ở Ấn Độ bị đếm thiếu.
Kỳ Na Giáo và Phật Giáo khác nhau thế nào
Hai đạo cùng ra đời ở vùng Magadha, cùng thời, cùng bác thẩm quyền kinh Veda, nên hay bị nhầm. Khác nhau ở gốc: Kỳ Na khẳng định mỗi sinh vật có một linh hồn thường hằng, Phật Giáo dạy vô ngã. Kỳ Na coi nghiệp là hạt vật chất bám vào linh hồn, Phật Giáo coi nghiệp là hành động có chủ ý. Kỳ Na coi khổ hạnh là pháp tu chính để tiêu nghiệp, Phật Giáo chọn trung đạo, tránh cả hưởng thụ lẫn hành xác. Phật Giáo lan khắp châu Á, Kỳ Na gần như chỉ ở Ấn Độ.
Chữ vạn của Kỳ Na Giáo có liên quan gì tới Đức Quốc Xã không
Không. Chữ vạn, tiếng Phạn là svastika, nghĩa là điều tốt lành đang có, đã có mặt ở Nam Á từ thời văn minh sông Indus, hàng nghìn năm trước Đảng Quốc Xã. Trong Kỳ Na, bốn cánh là bốn cảnh giới luân hồi, bên trên có ba chấm là ba viên ngọc và vầng trăng là nơi giải thoát. Chữ vạn Kỳ Na đặt thẳng. Dấu của Đảng Quốc Xã, tiếng Đức gọi là Hakenkreuz, xoay nghiêng bốn mươi lăm độ, tô đen trong vòng tròn trắng trên nền đỏ, khác cả hình, màu lẫn nghĩa.
Vì sao tu sĩ Kỳ Na không mặc quần áo
Chỉ tu sĩ nam dòng Digambara không mặc quần áo. Với họ, áo quần là một thứ sở hữu, phải giặt giũ, cất giữ, và gây hại cho sinh vật nhỏ, nên bỏ áo là bước cuối của lời nguyện không chiếm giữ, gọi là aparigraha. Dòng này tin rằng người còn giữ áo thì chưa buông trọn và chưa đạt được giải thoát. Tu sĩ nữ Digambara mặc áo trắng, và toàn bộ tu sĩ dòng Svetambara, cả nam lẫn nữ, đều mặc áo trắng không khâu.
Người Kỳ Na ăn gì, vì sao không ăn hành tỏi
Người Kỳ Na ăn chay, không thịt, cá, trứng, không mật ong và không rượu, nhưng theo truyền thống vẫn dùng sữa. Người giữ nghiêm không ăn củ rễ như hành, tỏi, khoai tây, cà rốt, vì nhổ củ lên là giết cả cây, và giáo nghĩa cho rằng trong củ rễ có vô số sinh linh rất nhỏ. Nhiều người không ăn sau khi mặt trời lặn để tránh vô ý nuốt côn trùng, và lọc nước trước khi uống. Tất cả đều đi ra từ lời nguyện bất hại.
Ở Việt Nam có đạo Kỳ Na không
Không có tổ chức nào. Kỳ Na Giáo không nằm trong mười sáu tôn giáo được công nhận tại Việt Nam, không có đền, không có tu sĩ thường trú và không có số tín đồ chính thức. Người Việt gặp đạo này chủ yếu trong kinh Phật chữ Hán, nơi người Kỳ Na được gọi là Ni Kiền Tử, và qua những người Ấn Độ làm ăn, du lịch tại Việt Nam, những người giữ đạo trong gia đình. Kỳ Na cũng không liên quan tới đạo Bà La Môn của người Chăm.