IĐọc Nhanh Trong Năm Câu
Người Việt nghe chữ Chính Thống thường hình dung ra một thứ gì nghiêm ngặt và khép kín, hoặc tưởng đây là một nhánh nhỏ tách ra từ Công Giáo. Cả hai hình dung đều trượt. Chữ này dịch từ tiếng Hy Lạp Ὀρθοδοξία, đọc là Orthodoxia, ghép từ orthos là ngay thẳng và doxa vừa có nghĩa là niềm tin vừa có nghĩa là sự tôn vinh, nên người trong đạo hiểu nó là tin cho ngay và tôn vinh cho đúng. Tiếng Nga gọi là Православие, Pravoslavie, tức tôn vinh cho đúng.
Chính Thống Giáo là Kitô Giáo của nửa phía đông thế giới La Mã cũ, nói tiếng Hy Lạp rồi lan sang các dân tộc Slav, Rumani và Gruzia. Đạo không có một người đứng đầu cầm quyền tài phán trên toàn khối, mà là một gia đình gồm chừng mười bốn giáo hội tự chủ, chung một đức tin, một phụng vụ và bảy công đồng chung. Bước vào một nhà thờ Chính Thống, thứ đầu tiên người ta thấy là một vách thánh tượng ngăn gian cung thánh, ánh nến, mùi trầm, và ở nhiều nơi giáo dân đứng suốt buổi lễ.
Điều thứ nhất. Chính Thống Giáo là một trong ba khối lớn của Kitô Giáo, tuyên xưng một Thiên Chúa Ba Ngôi và tin Chúa Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa làm người, và theo Pew Research Center năm 2017 thì khối này có gần 260 triệu người khi tính gộp cả các giáo hội Cổ Đông Phương. Điều thứ hai. Đạo tự coi mình là sự tiếp nối liền mạch của Giáo hội các tông đồ, không nhận mình được lập ra năm 1054, và coi bảy công đồng chung từ năm 325 tới năm 787 là nền giáo lý. Điều thứ ba. Cái lõi của giáo nghĩa là thần hóa, tức con người được mời gọi thông phần vào sự sống của Thiên Chúa, và con đường ấy đi qua phụng vụ, các mầu nhiệm và lời cầu nguyện. Điều thứ tư. Đạo có một nền nghệ thuật phụng vụ riêng là thánh tượng, hay ikon, và phần lớn các giáo hội còn tính lễ Phục Sinh theo lịch Julius. Điều thứ năm. Tại Việt Nam, đạo có mặt qua mấy giáo xứ nhỏ của cộng đồng nói tiếng Nga, giáo xứ đầu tiên lập ở Vũng Tàu năm 2002, và chưa có trong danh sách các tôn giáo được Nhà nước công nhận.
Trang này là trang thứ ba của thư viện về Kitô Giáo: trang Công Giáo kể phần lịch sử chung của mười thế kỷ đầu và khối hiệp thông với Rôma, trang Tin Lành kể cuộc Cải Cách năm 1517, còn trang này đi theo khối phía đông từ Constantinople trở đi và chỉ nhắc lại phần chung khi cần để đọc cho liền.
Bài đi theo mười lăm mục. Lối viết của thư viện là thuật lại chứ không phân xử. Điều các giáo hội Chính Thống dạy ghi bằng một giọng, điều sử học khảo được ghi bằng một giọng khác, để cạnh nhau cho quý vị tự đối chiếu. Cuộc phân ly năm 1054 được ghi như sự kiện, kèm cách mỗi phía nhìn nó. Thánh tượng được giới thiệu qua vai trò của nó trong phụng vụ chứ không tả dung mạo các bậc thánh, theo luật không tạo hình người của thư viện. Bài dừng ở phần giáo hội học và không đi vào những chuyện quyền tài phán còn đang được bàn giữa các giáo hội thời nay.
IINửa Phía Đông Của Thế Giới La Mã
Kitô Giáo khởi đầu ở Giêrusalem nhưng lớn lên bằng tiếng Hy Lạp. Tân Ước được viết bằng thứ tiếng Hy Lạp thông dụng của vùng Đông Địa Trung Hải, các thư của thánh Phaolô gửi tới Côrintô, Thêxalônica, Êphêsô, Philípphê, toàn những thành phố nói tiếng Hy Lạp. Suốt ba thế kỷ đầu, phần đông các cộng đoàn Kitô hữu sống ở nửa phía đông đế quốc La Mã. Nói theo cách của người Chính Thống thì đạo của họ không đi ra từ đâu cả, nó vẫn ở nguyên chỗ nó sinh ra.
Tòa của thánh Phêrô và thánh Phaolô, được mọi bên nhận là đứng đầu về danh dự trong thiên niên kỷ thứ nhất. Chỗ hai phía hiểu khác nhau về sau là danh dự ấy đi kèm quyền tài phán tới đâu.
Khánh thành làm kinh đô mới năm 330 và được gọi là Rôma mới. Công đồng năm 381 xếp tòa này đứng thứ hai sau Rôma, điều khoản 28 của Công đồng Chalcedon năm 451 nhắc lại và mở rộng thứ bậc ấy.
Tòa theo truyền thống do thánh Máccô lập, trung tâm thần học lớn của thế kỷ bốn và năm.
Nơi các môn đệ lần đầu được gọi là Kitô hữu theo sách Công vụ Tông đồ. Tòa Chính Thống nay đặt tại Damascus.
Nơi Chúa Giêsu chịu chết và sống lại theo Tin Mừng. Được Công đồng Chalcedon năm 451 nâng lên hàng thượng phụ, đứng thứ năm.
Năm tòa trên được sử học gọi là ngũ tòa, pentarchia. Trong suốt thiên niên kỷ thứ nhất, cả năm hiệp thông với nhau như một Giáo hội. Nhưng trong lòng sự hiệp thông ấy, hai nửa đông và tây lớn lên theo hai lối khác nhau. Phía tây nói tiếng Latinh, phía đông nói tiếng Hy Lạp, và tới thế kỷ sáu thì ít người ở bên này còn đọc được sách của bên kia. Phía tây dần dùng bánh không men trong Thánh Lễ và buộc linh mục sống độc thân, phía đông giữ bánh có men và cho phép người đã lập gia đình chịu chức linh mục. Không điều nào đủ làm vỡ hiệp thông, nhưng cộng dồn qua nhiều thế kỷ thì chúng tạo ra hai thế giới Kitô Giáo không còn quen mặt nhau.
Còn một chỗ khác biệt nằm sâu hơn cả, là câu hỏi Giáo hội được điều hành ra sao. Phía đông quen với hình ảnh các giám mục ngồi lại trong công đồng để cùng quyết định, và coi quyền đứng đầu của Rôma là quyền đứng đầu về danh dự giữa các tòa ngang hàng. Phía tây ngày càng nhấn vào quyền của giám mục Rôma như người kế vị thánh Phêrô trên toàn Giáo hội. Cuộc phân ly năm 1054 sẽ nổ ra quanh hai câu hỏi ấy, một về chữ Filioque trong Kinh Tin Kính và một về quyền của Rôma, được kể ở mục thứ tư.
IIIDòng Thời Gian Hai Nghìn Năm
Dòng thời gian dưới đây ghi các mốc tôn giáo. Các năm của thiên niên kỷ thứ nhất là lịch sử chung của Kitô Giáo mà cả Chính Thống, Công Giáo và phần lớn Tin Lành cùng nhận. Các mốc về chính sự chỉ được nhắc khi thiếu chúng thì không hiểu được mốc tôn giáo đi liền sau.
- Khoảng năm 30 tới 33Lễ Ngũ Tuần tại GiêrusalemTheo sách Công vụ Tông đồ chương 2, Thánh Thần ngự xuống trên các tông đồ. Giáo nghĩa Chính Thống coi đây là ngày Giáo hội ra đời.
- 325Công đồng chung thứ nhất tại NicaeaXác định Chúa Con đồng bản thể với Chúa Cha, soạn phần đầu Kinh Tin Kính.
- 381Công đồng chung thứ hai tại ConstantinopleHoàn chỉnh Kinh Tin Kính Nicea Constantinople mà Chính Thống đọc tới nay, không có chữ Filioque.
- 451Công đồng ChalcedonXác định Chúa Kitô là một ngôi vị trong hai bản tính. Các giáo hội Copt, Syria, Armenia và Ethiopia không nhận công đồng này, và từ đây hình thành gia đình Chính Thống Cổ Đông Phương.
- 726 tới 843Hai đợt bài trừ thánh tượngĐợt thứ nhất từ khoảng năm 726 tới năm 787, đợt thứ hai từ năm 815 tới năm 843. Công đồng chung thứ bảy tại Nicaea năm 787 xác định việc tôn kính thánh tượng là chính đáng.
- 843Chúa nhật Chiến Thắng của Chính ThốngViệc tôn kính thánh tượng được lập lại dứt khoát. Ngày này được mừng vào Chúa nhật thứ nhất Mùa Chay Cả cho tới hôm nay.
- 863Cyrillô và Mêthôđiô tới MoraviaHai anh em người Thêxalônica soạn bộ chữ Glagolitic và dịch sách phụng vụ sang tiếng Slav, mở đường cho Chính Thống Giáo của các dân tộc Slav.
- 988Rus Kiev nhận phép rửaTheo biên niên sử Rus, đại vương công Vladimir nhận phép rửa và đưa dân chúng theo Kitô Giáo phương đông.
- 1054Dứt phép thông công giữa Rôma và ConstantinopleMốc quen dùng cho cuộc phân ly Đông Tây, được kể kỹ ở mục thứ tư.
- 1439Công đồng FlorenceHai phía ký một văn kiện hợp nhất, nhưng văn kiện ấy không được hàng giáo sĩ và giáo dân phương đông đón nhận và rốt cuộc không thành.
- 1453Đế quốc Byzantine chấm dứtTòa Thượng phụ Constantinople vẫn tiếp tục tồn tại, nay đặt tại khu Phanar của Istanbul.
- 7 tháng 12 năm 1965Xóa bỏ vạ tuyệt thông năm 1054Đức Giáo hoàng Phaolô VI tại Rôma và Thượng phụ Athênagôra tại Constantinople cùng ngày tuyên bố xóa bỏ các vạ tuyệt thông năm 1054.
- 2002Giáo xứ Chính Thống đầu tiên tại Việt NamNgày 17 tháng 7 năm 2002, Thánh Công Đồng của Giáo hội Chính Thống Nga cho mở giáo xứ tại Vũng Tàu, nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh.
- Tháng 6 năm 2016Công đồng Thánh và Lớn tại đảo CreteCuộc họp liên Chính Thống được chuẩn bị hơn nửa thế kỷ, có mười giáo hội tự chủ tham dự, bốn giáo hội không dự.
IVNăm 1054 Và Hai Cách Nhìn Một Cuộc Chia Tay
Sự kiện được ghi lại khá rõ. Mùa xuân năm 1054, Đức Giáo hoàng Lêô IX gửi một phái đoàn do hồng y Humbert thành Silva Candida dẫn đầu tới Constantinople để bàn các điểm bất đồng với Thượng phụ Micae Cêrulariô. Cuộc gặp không thành. Ngày 16 tháng 7 năm 1054, trong giờ phụng vụ, phái đoàn bước vào thánh đường Hagia Sophia và đặt lên bàn thờ một sắc chỉ dứt phép thông công vị thượng phụ. Ngày 20 tháng 7, một thượng hội đồng gồm hai mươi mốt tổng giám mục và giám mục do Micae chủ tọa ra vạ tuyệt thông các vị đặc sứ, và công bố việc ấy ngày 24 tháng 7.
Có một chi tiết mà sử gia nào cũng nhắc: Đức Giáo hoàng Lêô IX đã qua đời từ ngày 19 tháng 4 năm 1054, tức gần ba tháng trước khi sắc chỉ được đặt lên bàn thờ, nên thẩm quyền của phái đoàn lúc ấy vẫn còn bị bàn cãi. Và cả hai vạ tuyệt thông đều nhắm vào những con người cụ thể, không nhắm vào cả một Giáo hội.
Hai điểm bất đồng chính
Filioque là chữ Latinh nghĩa là và từ Chúa Con. Kinh Tin Kính năm 381 nói Thánh Thần phát xuất từ Chúa Cha. Phía tây dần thêm chữ Filioque, bắt đầu ở Tây Ban Nha từ thế kỷ sáu, và theo các nguồn sử thường dẫn thì năm 1014 bản kinh có chữ ấy lần đầu được hát trong Thánh Lễ tại Rôma. Phía đông phản đối cả về nội dung thần học lẫn về việc một phía tự sửa bản kinh của công đồng chung.
Phía đông nhận Rôma đứng đầu về danh dự, và nhiều nhà thần học Chính Thống ngày nay nhận cả một vai trò phục vụ hiệp nhất, nhưng không nhận quyền tài phán trực tiếp trên mọi giáo hội. Phía tây coi quyền ấy thuộc về chức vụ kế vị thánh Phêrô.
Bánh có men hay không men, luật độc thân của linh mục, cách giữ chay. Về sau cả hai phía coi đây là khác biệt tập tục có thể sống chung.
Phần đông sử gia hôm nay không coi năm 1054 là ngày Kitô Giáo tách làm đôi, mà coi đó là một mốc trong một quá trình dài. Trước đó đã có những lần gián đoạn hiệp thông, lần đáng kể nhất là cuộc tranh chấp quanh Thượng phụ Phôtiô trong thập niên 860. Sau năm 1054, giáo dân hai bên vẫn qua lại ở nhiều nơi, và người đương thời không thấy ngay đó là chia cắt vĩnh viễn.
Hai lần tìm cách nối lại cũng cho thấy vết rạn đã sâu tới mức nào. Công đồng Lyon năm 1274 và Công đồng Florence năm 1439 đều ra văn kiện hợp nhất có chữ ký của đại diện phương đông, nhưng cả hai lần văn kiện đều không được hàng giáo sĩ và giáo dân ở nhà đón nhận. Bởi thế, khi được hỏi Đông Tây chia tay năm nào, nhiều sử gia trả lời rằng không có một năm, mà có cả một khoảng từ thế kỷ chín tới thế kỷ mười lăm.
Phía Chính Thống nhìn cuộc chia tay
Theo cách trình bày quen thuộc trong sách giáo lý Chính Thống, Giáo hội Chính Thống không tách ra khỏi ai. Họ giữ nguyên Kinh Tin Kính của công đồng chung, giữ nguyên cách điều hành bằng công đồng của thiên niên kỷ thứ nhất, và coi việc thêm chữ Filioque cùng việc mở rộng quyền của Rôma là những thay đổi do phía tây đơn phương đưa vào. Bởi vậy người Chính Thống ít khi dùng chữ ly giáo để nói về chính mình, và không coi năm 1054 là năm lập đạo.
Phía Công Giáo nhìn cuộc chia tay
Theo cách trình bày của Giáo hội Công Giáo, sự hiệp thông với giám mục Rôma, người kế vị thánh Phêrô, là một dấu chỉ thiết yếu của sự hiệp nhất, nên cuộc chia tay là việc các giáo hội phương đông rời khỏi sự hiệp thông trọn vẹn ấy. Đồng thời sắc lệnh về đại kết của Công đồng Vaticanô II năm 1964 nhìn nhận các giáo hội Chính Thống có bí tích thật và hàng giáo phẩm kế vị tông đồ. Trang Công Giáo của thư viện kể thêm phía này.
Hai phía gặp nhau ở một văn kiện. Ngày 7 tháng 12 năm 1965, Đức Giáo hoàng Phaolô VI tại Rôma và Thượng phụ Athênagôra tại Constantinople cùng ra một tuyên bố chung, bày tỏ sự hối tiếc về những lời lẽ và việc làm năm 1054 và xóa các vạ tuyệt thông năm ấy khỏi ký ức của Giáo hội. Tuyên bố ấy không khôi phục hiệp thông. Hai phía vẫn không cùng dâng chung một Thánh Lễ, và các khác biệt về Filioque cùng quyền của Rôma nay được bàn trong một ủy ban đối thoại thần học chung.
Người ta hay nói Chính Thống Giáo ra đời năm 1054. Nói vậy là dùng con mắt của một phía. Cả hai Giáo hội đều nhận mình là sự tiếp nối của Giáo hội các tông đồ, và cả hai đều có chung mười thế kỷ lịch sử trước đó, chung các thánh, chung bảy công đồng đầu. Năm 1054 là năm hai tòa dứt phép thông công với nhau, không phải năm một đạo mới được lập.
VBảy Công Đồng Chung
Nếu phải chọn một thứ làm xương sống cho giáo lý Chính Thống thì đó là bảy công đồng chung. Công đồng là cuộc họp của các giám mục, và công đồng chung là cuộc họp mà quyết định của nó được cả Giáo hội đón nhận. Người Chính Thống thường gọi Giáo hội của mình là Giáo hội của bảy công đồng. Giáo hội Công Giáo đếm hai mươi mốt công đồng chung, trong đó bảy công đồng đầu trùng với danh sách của Chính Thống, còn mười bốn công đồng sau diễn ra ở phía tây sau khi hai bên đã chia tay nên Chính Thống không nhận là công đồng chung.
| Công đồng | Năm | Nơi họp | Điều được xác định |
|---|---|---|---|
| Thứ nhất | 325 | Nicaea, Tiểu Á | Chúa Con đồng bản thể với Chúa Cha, chữ Hy Lạp là ὁμοούσιος, homoousios. Soạn phần đầu Kinh Tin Kính. |
| Thứ hai | 381 | Constantinople | Thánh Thần là Thiên Chúa, được thờ phượng cùng Chúa Cha và Chúa Con. Hoàn chỉnh Kinh Tin Kính. |
| Thứ ba | 431 | Êphêsô | Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, chữ Hy Lạp là Θεοτόκος, Theotokos. |
| Thứ tư | 451 | Chalcedon | Chúa Kitô là một ngôi vị trong hai bản tính, thần tính và nhân tính, không lẫn lộn và không tách rời. |
| Thứ năm | 553 | Constantinople | Làm rõ thêm giáo lý Chalcedon, lên án một số bản văn bị coi là nghiêng về phía tách đôi Chúa Kitô. |
| Thứ sáu | 680 tới 681 | Constantinople | Chúa Kitô có hai ý chí, ý chí thần linh và ý chí nhân loại, hòa hợp với nhau. |
| Thứ bảy | 787 | Nicaea | Việc tôn kính thánh tượng là chính đáng, phân biệt với việc thờ phượng chỉ dành cho Thiên Chúa. |
Kinh Tin Kính Nicea Constantinople được đọc hoặc hát trong mọi Phụng Vụ Thánh của Chính Thống, đúng như bản của năm 381, mở đầu bằng câu tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha toàn năng, và ở đoạn về Thánh Thần thì nói Ngài phát xuất từ Chúa Cha, không thêm chữ nào. Với người Chính Thống, giữ nguyên bản kinh này là giữ nguyên đức tin của các tông đồ mà các công đồng chung đã diễn thành lời.
Còn một chỗ tinh tế về cách các công đồng được nhận. Theo giáo nghĩa Chính Thống, một công đồng không trở thành công đồng chung chỉ vì được triệu tập đủ trọng thể hay vì có chữ ký của các tòa lớn. Nó thành công đồng chung khi cả Giáo hội đón nhận nó qua thời gian, gồm hàng giáo phẩm, các đan sĩ và giáo dân. Vì thế Công đồng Florence năm 1439 có đủ chữ ký mà vẫn không thành. Cách hiểu ấy gọi là tính công đồng, người Nga gọi là sobornost.
VIGiáo Nghĩa Cốt Lõi
Phần lớn những gì người Chính Thống tin thì người Công Giáo cũng tin: một Thiên Chúa Ba Ngôi, Chúa Kitô là Thiên Chúa làm người, chịu chết và sống lại, các bí tích, sự sống đời sau. Mục này không nhắc lại phần chung ấy mà đi vào những chỗ làm nên giọng riêng của Chính Thống: cách họ hiểu truyền thống, mục đích đời người, lối cầu nguyện và cách họ nói về Thiên Chúa. Nhiều điều dưới đây không phải là những tín điều khác, mà là những điểm nhấn khác trên cùng một nền.
Thánh Truyền, một dòng sống chảy liền
Người Tin Lành nói duy Kinh Thánh, người Công Giáo nói Kinh Thánh và Thánh Truyền. Người Chính Thống thường nói Thánh Truyền bao gồm cả Kinh Thánh. Theo cách họ hiểu, Thánh Truyền không phải một kho văn bản đặt cạnh Kinh Thánh mà là đời sống liên tục của Giáo hội dưới sự dẫn dắt của Thánh Thần, trong đó Kinh Thánh là phần cốt lõi, rồi tới Kinh Tin Kính và các quyết định của bảy công đồng chung, các trước tác của các giáo phụ, phụng vụ, thánh tượng và đời sống các thánh.
Hệ quả thực tế là giáo lý Chính Thống ít khi được trình bày bằng các định nghĩa mới. Khi có câu hỏi, người ta thường tìm câu trả lời trong những gì các giáo phụ đã nói và trong lời các bài thánh ca phụng vụ, vì theo một câu hay được nhắc, luật cầu nguyện là luật đức tin. Người ta tin điều mình cầu nguyện, và muốn biết Giáo hội tin gì thì hãy nghe Giáo hội hát gì.
Ba Ngôi, bắt đầu từ Chúa Cha
Khi nói về Thiên Chúa Ba Ngôi, thần học phương đông thường khởi đi từ Chúa Cha như nguồn cội của Chúa Con và Thánh Thần: Chúa Con được sinh ra từ Chúa Cha, Thánh Thần phát xuất từ Chúa Cha. Đó là lý do chữ Filioque không phải một chi tiết chữ nghĩa với họ. Các nhà thần học Chính Thống lập luận rằng nói Thánh Thần phát xuất từ cả Chúa Cha và Chúa Con là làm mờ vai trò nguồn cội duy nhất của Chúa Cha. Phía Công Giáo trả lời rằng chữ ấy chỉ diễn đạt điều các giáo phụ Latinh đã dạy, và không có ý đặt hai nguồn. Nhiều nhà thần học hai bên nay cho rằng một phần bất đồng đến từ khác biệt giữa tiếng Hy Lạp và tiếng Latinh.
Thần hóa, mục đích của đời người
Thánh Athanasiô thành Alexandria viết trong sách Về sự Nhập Thể của Ngôi Lời, chương 54, câu mà thần học Chính Thống nhắc lại suốt mười bảy thế kỷ: Thiên Chúa đã làm người để con người được thần hóa. Theo giáo nghĩa, con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và được mời gọi nên giống Thiên Chúa. Mục đích đời người Kitô hữu không dừng ở chỗ được tha tội, mà là được kết hợp với Thiên Chúa, thông phần vào sự sống của Ngài nhờ ân sủng.
Chữ Hy Lạp là θέωσις, theosis. Nghe chữ thần hóa, người mới đọc dễ hiểu lầm rằng con người sẽ thành một vị thần hay hòa tan vào Thiên Chúa. Giáo nghĩa Chính Thống nói rõ là không. Con người vẫn là tạo vật, Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa, và sự kết hợp diễn ra mà không lẫn lộn. Hình ảnh quen dùng là thanh sắt trong lò lửa: sắt nóng đỏ, sáng và nóng như lửa, nhưng vẫn là sắt.
Yếu tính và năng lực
Nếu con người được kết hợp với Thiên Chúa, vậy con người có biết được Thiên Chúa như chính Ngài là không. Câu trả lời của Chính Thống được thánh Grêgôriô Palamas, sống từ năm 1296 tới năm 1359, trình bày và được các công đồng tại Constantinople giữa thế kỷ mười bốn xác nhận. Ông phân biệt yếu tính của Thiên Chúa, tiếng Hy Lạp οὐσία, ousia, là điều không tạo vật nào thấu tới được, với năng lực của Thiên Chúa, ἐνέργειαι, energeiai, là cách Thiên Chúa tỏ mình và tác động trong thế giới. Con người không bao giờ nắm được yếu tính, nhưng thật sự thông phần vào năng lực, và năng lực ấy chính là Thiên Chúa chứ không phải một thứ gì trung gian.
Sự phân biệt này đi liền với thần học phủ định: nói về Thiên Chúa bằng cách nói Ngài không phải là gì, vì mọi khái niệm của con người đều nhỏ hơn Ngài.
Tĩnh tu và Lời Cầu Chúa Giêsu
Palamas viết để bênh vực một lối cầu nguyện đã có từ lâu nơi các đan sĩ, gọi là tĩnh tu, theo chữ Hy Lạp ἡσυχία, hesychia, nghĩa là sự tĩnh lặng. Người tu theo lối này lặp đi lặp lại một lời cầu ngắn, gọi là Lời Cầu Chúa Giêsu, thường đi cùng nhịp thở, với mong muốn đưa lời cầu từ môi miệng xuống tâm hồn cho tới khi nó cầu nguyện không ngừng. Bản thường gặp bằng tiếng Hy Lạp là Κύριε Ἰησοῦ Χριστέ, Υἱὲ τοῦ Θεοῦ, ἐλέησόν με, nghĩa là lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, xin thương xót con, có bản thêm mấy chữ là kẻ tội lỗi ở cuối.
Nhiều người hay đem lối cầu này so với việc niệm danh hiệu trong Phật Giáo hay với thiền định. Người Chính Thống thường lưu ý chỗ khác: đây là lời gọi một Đấng có ngôi vị để xin lòng thương xót, không nhằm làm trống tâm, và người tập được khuyên đi theo một vị linh hướng. Chuỗi nút len, tiếng Hy Lạp gọi là komboskini, dùng để đếm lời cầu.
Tội tổ tông theo cách nói phương đông
Cả hai phía cùng dạy rằng tội của nguyên tổ đã làm hư hỏng thân phận con người. Chỗ khác nằm ở cách diễn đạt. Nhiều nhà thần học Chính Thống ưa nói tội tổ tiên hơn là tội nguyên tổ, và nhấn vào việc con người thừa hưởng sự chết và sự yếu đuối do tội ấy gây ra hơn là thừa hưởng chính mắc tội. Cách nói này có gốc từ các giáo phụ Hy Lạp và khác với lối trình bày theo thánh Augustinô vốn ảnh hưởng mạnh ở phương tây. Hệ quả dễ thấy là Chính Thống không có tín điều riêng về việc Đức Maria được gìn giữ khỏi tội nguyên tổ, dù họ tôn kính Đức Maria là tinh tuyền và rất thánh.
Đức Mẹ Thiên Chúa
Đức Maria có một chỗ rất lớn trong đời sống Chính Thống. Tên gọi phổ biến nhất là Theotokos, Mẹ Thiên Chúa, theo quyết định của Công đồng Êphêsô năm 431, và gần như bài kinh nào trong phụng vụ cũng có đoạn hướng về Đức Mẹ. Lễ Đức Mẹ An Giấc ngày 15 tháng 8 là một trong mười hai đại lễ, đi trước là hai tuần chay. Theo giáo nghĩa, việc tôn kính Đức Maria luôn quy về Chúa Kitô, vì danh xưng Mẹ Thiên Chúa trước hết là một lời tuyên xưng về Chúa Kitô: người con mà bà sinh ra là Thiên Chúa thật.
Sự chết và lời cầu cho người đã khuất
Chính Thống Giáo cầu nguyện cho người đã khuất rất thường xuyên, với các buổi tưởng niệm vào ngày thứ ba, ngày thứ chín, ngày thứ bốn mươi sau khi mất và vào ngày giỗ, cùng mấy ngày thứ Bảy trong năm dành riêng cho người quá cố. Trong các buổi này người ta dâng đĩa lúa mì luộc gọi là koliva, gợi hình ảnh hạt giống gieo xuống để nảy mầm. Tuy vậy Chính Thống không có tín điều về luyện ngục theo cách Công Giáo định nghĩa. Họ dạy rằng linh hồn người chết ở trong một trạng thái chờ đợi cuộc phán xét chung, và lời cầu của Giáo hội có ích cho họ, còn cụ thể ra sao thì thuộc về điều được giữ trong mầu nhiệm.
VIIThánh Tượng, Nghệ Thuật Của Phụng Vụ
Ikon, chữ Hy Lạp εἰκών, eikon, nghĩa đen là hình ảnh. Trong Chính Thống Giáo, một bức ikon không phải tranh trang trí và cũng không phải một tác phẩm để người họa sĩ bày tỏ cái riêng của mình. Nó là một vật thánh có chỗ trong phụng vụ: được làm phép, được xông hương, được hôn kính, được rước đi, và được đặt đúng vị trí trong nhà thờ theo một trật tự có ý nghĩa. Người Chính Thống thường gọi ikon là cửa sổ, vì theo cách hiểu của họ, người nhìn không dừng ở tấm gỗ mà nhìn qua nó hướng tới Đấng được hình ảnh ấy chỉ về.
Lý lẽ của Chính Thống đặt trên sự Nhập Thể. Thánh Gioan Đamascênô, viết trong ba chuyên luận bênh vực thánh tượng quãng năm 730, lập luận rằng Thiên Chúa vô hình thì không thể vẽ, nhưng khi Ngôi Lời đã làm người và được người ta thấy tận mắt, thì việc làm hình ảnh về Ngài là việc tuyên xưng rằng Ngài đã thật sự làm người. Công đồng chung thứ bảy năm 787 lấy lại một câu của thánh Basiliô Cả: sự tôn kính dành cho hình ảnh được chuyển tới nguyên mẫu. Người ta hôn bức ikon không phải để thờ gỗ và màu, mà để tôn kính người được hình ảnh ấy đại diện.
Công đồng năm 787 phân biệt rõ hai chữ. λατρεία, latreia, là sự thờ phượng, chỉ dành cho Thiên Chúa. προσκύνησις, proskynesis, là sự tôn kính, cúi mình và hôn kính, được dành cho thánh tượng, thánh giá, sách Tin Mừng và các thánh. Sự phân biệt ấy là toàn bộ câu trả lời của Chính Thống cho câu hỏi họ có thờ tranh không.
Cuộc tranh chấp chia làm hai đợt, từ khoảng năm 726 tới năm 787 và từ năm 815 tới năm 843. Trong hai đợt ấy, việc làm và tôn kính thánh tượng bị cấm ở nhiều nơi trong đế quốc Byzantine, và nhiều ikon bị hủy. Sử học còn bàn về nguyên nhân, từ tranh luận thần học về việc có được vẽ Chúa Kitô hay không tới ảnh hưởng của các cộng đồng lân cận vốn không dùng hình ảnh nơi thờ, và thường đồng ý rằng không một nguyên nhân nào đủ giải thích trọn vẹn. Một hệ quả được ghi nhận là rất ít ikon trước thế kỷ tám còn lại tới nay, phần lớn những bức cổ nhất còn giữ được nằm ở tu viện Thánh Catarina trên núi Sinai.
Vách thánh tượng
Trong nhà thờ Chính Thống, gian cung thánh có bàn thờ được ngăn với gian giáo dân bằng một bức vách phủ ikon, gọi là vách thánh tượng, iconostasis. Vách có ba cửa. Cửa giữa là cửa hoàng gia, chỉ linh mục và phó tế đi qua vào những lúc nhất định của phụng vụ. Hai cửa bên dành cho phó tế và người giúp lễ. Các ikon được xếp theo một trật tự quy định: bên phải cửa giữa luôn là ikon Chúa Kitô, bên trái luôn là ikon Đức Mẹ, cạnh đó là ikon vị thánh hoặc biến cố mà nhà thờ mang tên. Ở vùng Slav, vách có thể cao nhiều tầng, mỗi tầng một chủ đề.
Người mới tới hay nghĩ vách dựng ra để giấu bàn thờ. Cách giải thích trong đạo thì ngược lại: vách ấy nối chứ không ngăn, nó bày ra trước mắt giáo dân cả lịch sử cứu độ.
Những quy ước của người làm ikon
Tiếng Hy Lạp dùng cùng một động từ cho viết và vẽ, nên người Chính Thống quen nói viết một bức ikon. Theo truyền thống, người viết ikon chuẩn bị bằng chay tịnh và cầu nguyện, theo sát các mẫu đã được Giáo hội nhận chứ không tự sáng tác bố cục, và thường không ký tên. Gỗ được phủ lớp thạch cao mịn, màu pha bằng lòng đỏ trứng, nền thường thếp vàng. Mỗi bức phải có tên của người hoặc biến cố được viết trên đó, vì chính cái tên làm tấm ikon thành ikon của người ấy.
Các quy ước về hình thức cũng có lý lẽ riêng. Ikon không dùng phối cảnh xa gần của hội họa Phục Hưng mà thường dùng lối gọi là phối cảnh đảo ngược, nền vàng được giải thích là ánh sáng không do tạo vật phát ra, và bố cục tránh gợi cảm giác một cảnh đời thường. Tất cả nhằm nói rằng đây không phải một bức chân dung mà là hình ảnh của một thực tại đã được biến đổi. Truyền thống Chính Thống, nhất là vùng Slav, hầu như không dùng tượng tròn tạc nổi trong nhà thờ, chỉ dùng hình phẳng hoặc chạm nổi thấp.
Người đứng ngoài thấy tín hữu hôn tranh, thắp nến và cúi mình trước tranh thì dễ nghĩ đó là thờ tranh. Giáo nghĩa Chính Thống phân biệt thờ phượng chỉ dành cho Thiên Chúa với tôn kính dành cho hình ảnh, và coi mọi sự tôn kính trước ikon là hướng về người được hình ảnh ấy đại diện. Một bức ikon mòn hỏng theo lệ không bị vứt bỏ mà được đốt hoặc chôn một cách trang trọng, như người ta xử một vật thánh.
VIIIKinh Thánh, Các Giáo Phụ Và Sách Phụng Vụ
Kinh Thánh của Chính Thống có Tân Ước hai mươi bảy quyển, giống hệt Công Giáo và Tin Lành. Chỗ khác nằm ở Cựu Ước. Phía đông đọc Cựu Ước theo bản Bảy Mươi, Septuaginta, bản dịch Hy Lạp làm ở Alexandria trong mấy thế kỷ trước Công nguyên và là bản mà chính các tác giả Tân Ước hay trích. Bản này có thêm một số sách và đoạn không có trong danh mục Híp-ri, và Chính Thống giữ nhiều hơn cả Công Giáo vài quyển. Một điểm đáng chú ý: không có công đồng chung nào của Chính Thống khóa cứng danh mục Cựu Ước, nên số quyển được in trong Kinh Thánh của các giáo hội Hy Lạp, Nga, Rumani hay Gruzia có chênh nhau đôi chút.
| Phần | Chính Thống | Công Giáo | Tin Lành |
|---|---|---|---|
| Tân Ước | 27 quyển | 27 quyển | 27 quyển |
| Cựu Ước, phần chung | 39 quyển theo cách đếm của Tin Lành | 39 quyển | 39 quyển |
| Các sách Công Giáo gọi là đệ nhị quy điển | Có, gồm Tôbia, Giuđitha, Khôn Ngoan, Huấn Ca, Barúc, 1 và 2 Macabê cùng các đoạn thêm của Étte và Đanien | Có, cùng danh mục này | Không xếp vào kinh điển |
| Sách chỉ có trong truyền thống phía đông | Thường có 1 Étra, 3 Macabê, Lời nguyện của vua Manasê, Thánh vịnh 151, và 4 Macabê in ở phụ lục trong bản Hy Lạp | Không xếp vào kinh điển | Không xếp vào kinh điển |
| Danh mục được khóa bởi | Không có công đồng chung nào khóa, các thượng hội đồng địa phương như Giêrusalem năm 1672 có liệt kê | Công đồng Trentô năm 1546 | Các bản tuyên tín thế kỷ 16 và 17 |
Các giáo phụ
Nếu Kinh Thánh là lõi của Thánh Truyền thì trước tác các giáo phụ, những giám mục và đan sĩ của các thế kỷ đầu, là cách Giáo hội đã đọc Kinh Thánh. Chính Thống không đóng lại thời các giáo phụ ở một thế kỷ nào, nên có những vị được tôn là giáo phụ sống tới thế kỷ mười bốn.
| Vị giáo phụ | Thời | Vì sao được nhắc nhiều |
|---|---|---|
| Athanasiô thành Alexandria | Khoảng 296 tới 373 | Bênh vực giáo lý Nicaea, tác giả sách Về sự Nhập Thể của Ngôi Lời. |
| Basiliô Cả | Khoảng 330 tới 379 | Viết luật đan tu cho phía đông, soạn nền của Phụng Vụ Thánh mang tên ông. |
| Grêgôriô thành Nazianzô | Khoảng 329 tới 390 | Được phía đông gọi là Nhà Thần Học vì các bài giảng về Ba Ngôi. |
| Gioan Kim Khẩu | Khoảng 347 tới 407 | Nhà giảng thuyết lớn nhất phía đông, tên ông gắn với bản Phụng Vụ Thánh dùng hằng Chúa nhật. |
| Gioan Đamascênô | Khoảng 675 tới 749 | Tác giả ba chuyên luận bênh vực thánh tượng và bản tóm lược đức tin chính thống. |
| Grêgôriô Palamas | 1296 tới 1359 | Bênh vực lối tu tĩnh lặng và sự phân biệt yếu tính với năng lực. |
Sách phụng vụ và Philokalia
Người Chính Thống học đạo qua phụng vụ nhiều hơn qua sách giáo lý. Phụng vụ được chép trong cả một tủ sách lễ, sách giờ kinh và sách thánh ca, và phần lớn giáo lý một giáo dân biết là nghe hát từ các sách ấy. Bên cạnh đó có Philokalia, nghĩa là lòng yêu điều đẹp, tuyển tập các bản văn của các đan sĩ từ thế kỷ bốn tới thế kỷ mười lăm về cầu nguyện và tĩnh tu, in lần đầu tại Venezia năm 1782.
IXPhụng Vụ Thánh Và Các Mầu Nhiệm
Buổi lễ chính của Chính Thống gọi là Phụng Vụ Thánh, tiếng Hy Lạp Θεία Λειτουργία, Theia Leitourgia, tương ứng với Thánh Lễ của Công Giáo. Theo cách người Chính Thống mô tả, phụng vụ là nơi trời và đất gặp nhau, và biên niên sử Rus kể rằng các sứ giả của đại vương công Vladimir khi dự phụng vụ ở Hagia Sophia đã nói họ không biết mình đang ở trên trời hay dưới đất.
Ba bản phụng vụ
Hằng Chúa nhật và phần lớn các ngày lễ dùng Phụng Vụ thánh Gioan Kim Khẩu. Mười lần mỗi năm, gồm năm Chúa nhật Mùa Chay, thứ Năm và thứ Bảy Tuần Thánh, áp lễ Giáng Sinh, áp lễ Hiển Linh và ngày lễ thánh Basiliô mồng 1 tháng 1, dùng Phụng Vụ thánh Basiliô Cả, dài hơn và có kinh nguyện thánh hiến khác. Trong các ngày thường Mùa Chay Cả, vì là mùa sám hối nên không cử hành trọn phụng vụ, thay vào đó là Phụng Vụ Của Lễ Đã Truyền Phép, rước lễ bằng bánh đã được thánh hiến từ Chúa nhật trước. Ngôn ngữ phụng vụ là tiếng Hy Lạp, tiếng Slav cổ của Giáo hội, hoặc tiếng bản xứ, vì phía đông từ sớm chủ trương dịch phụng vụ sang tiếng từng dân tộc.
Một buổi Phụng Vụ Thánh gồm phần chuẩn bị lễ vật do linh mục cử hành trước, phần Lời Chúa có cuộc rước sách Tin Mừng gọi là Nhập Lễ Nhỏ, rồi phần hiến tế có cuộc rước lễ vật gọi là Nhập Lễ Lớn trong tiếng hát bài Thánh ca Kêrubim. Câu Κύριε ἐλέησον, Kyrie eleison, lạy Chúa xin thương xót, được hát đi hát lại suốt buổi. Phần lớn là hát, thường không có nhạc cụ.
Bảy mầu nhiệm
Chữ mà Công Giáo gọi là bí tích, phía đông gọi là mầu nhiệm, theo chữ Hy Lạp μυστήριον, mysterion. Việc kể đúng bảy mầu nhiệm thành lệ ở phía đông khoảng từ thế kỷ mười ba, và nhiều nhà thần học Chính Thống hôm nay lưu ý rằng con số bảy là cách sắp xếp chứ không giới hạn, vì cả đời sống Giáo hội đều mang tính mầu nhiệm.
| Mầu nhiệm | Cách cử hành trong Chính Thống | Chỗ khác với thói quen Công Giáo Latinh |
|---|---|---|
| Rửa tội | Dìm trọn người xuống nước ba lần nhân danh Cha, Con và Thánh Thần, kể cả với trẻ sơ sinh. | Phía Latinh phần lớn đổ nước lên đầu. |
| Thêm sức | Xức dầu thánh myron ngay sau khi rửa tội. | Phía Latinh thường để tới tuổi thiếu niên và do giám mục cử hành. |
| Thánh Thể | Bánh có men và rượu nho, giáo dân rước cả hai bằng một chiếc thìa nhỏ. Trẻ em được rước lễ ngay từ khi chịu phép rửa. | Phía Latinh dùng bánh không men và thường cho trẻ rước lễ lần đầu quãng bảy tám tuổi. |
| Sám hối | Người xưng tội đứng trước ikon Chúa Kitô, linh mục đứng bên như chứng nhân rồi đọc lời tha. | Không dùng tòa giải tội có vách ngăn. |
| Truyền chức | Ba bậc giám mục, linh mục, phó tế. Người đã lập gia đình trước khi chịu chức phó tế có thể làm linh mục, còn giám mục chọn trong hàng đan sĩ. | Phía Latinh buộc linh mục độc thân, trừ một số trường hợp riêng. |
| Hôn phối | Trọng tâm là nghi thức đội mão cho đôi tân hôn, rồi đôi hôn nhân cùng uống chung một chén rượu và đi quanh bàn ba vòng. | Giáo hội có thể cho phép kết hôn lần thứ hai và thứ ba theo nguyên tắc châm chước, với nghi thức mang tính sám hối. |
| Xức dầu | Dành cho người đau yếu về thể xác hoặc tinh thần, không chỉ người sắp qua đời. Ở nhiều nơi cả cộng đoàn cùng được xức dầu vào thứ Tư Tuần Thánh. | Phía Latinh trước Công đồng Vaticanô II quen dành cho người lâm tử. |
Ăn chay
Người ngoài nhìn vào thường ngạc nhiên vì lịch chay của Chính Thống. Theo luật truyền thống, mỗi năm có bốn mùa chay: Mùa Chay Cả bốn mươi ngày cộng thêm Tuần Thánh trước lễ Phục Sinh, mùa chay các Thánh Tông Đồ sau lễ Ngũ Tuần, chay Đức Mẹ An Giấc từ mồng 1 tới 14 tháng 8, và chay Giáng Sinh từ 15 tháng 11 tới 24 tháng 12. Ngoài ra còn hầu hết các ngày thứ Tư và thứ Sáu trong năm. Chay theo nghĩa chặt là kiêng thịt, sữa, trứng, cá, có ngày kiêng cả dầu và rượu. Trên thực tế mức giữ chay khác nhau nhiều, và linh mục thường châm chước cho người đau yếu, người già, trẻ nhỏ.
Đời đan tu và Núi Athos
Chính Thống không chia thành nhiều dòng tu như Công Giáo. Chỉ có một đời đan tu, theo luật của thánh Basiliô và theo lệ của từng tu viện. Trung tâm đan tu lớn nhất là Núi Athos trên một bán đảo ở miền bắc Hy Lạp, người Chính Thống gọi là Núi Thánh, có hai mươi tu viện lớn cùng nhiều tu viện nhỏ và am thất, được UNESCO ghi vào danh mục Di sản Thế giới năm 1988. Theo một lệ đã có từ nhiều thế kỷ, phụ nữ không được vào bán đảo này.
XLịch Julius Và Lễ Phục Sinh
Đây là chỗ người ngoài dễ thấy nhất sự khác biệt giữa Chính Thống với Công Giáo và Tin Lành. Lịch Julius được dùng trong đế quốc La Mã từ năm 45 trước Công nguyên, mỗi năm dài hơn năm mặt trời thật khoảng mười một phút, nên cứ quãng một trăm hai mươi tám năm thì lệch một ngày. Năm 1582, Đức Giáo hoàng Grêgôriô XIII ban hành lịch Gregorius để sửa độ lệch ấy, và dần dần cả thế giới dùng lịch này làm lịch dân sự. Các giáo hội Chính Thống không theo cuộc cải cách do Rôma khởi xướng, và nhiều giáo hội vẫn tính năm phụng vụ theo lịch Julius tới hôm nay. Từ năm 1900 tới năm 2100, lịch Julius chậm hơn lịch Gregorius mười ba ngày.
Năm 1923, một hội nghị liên Chính Thống tại Constantinople đề xuất lịch Julius sửa đổi, khớp với lịch Gregorius tới năm 2800. Các giáo hội Constantinople, Alexandria, Antiochia, Hy Lạp, Síp, Rumani, Bungari và Albania về sau dùng lịch này cho các lễ cố định. Các giáo hội Giêrusalem, Nga, Serbia, Gruzia và các tu viện Núi Athos giữ lịch Julius cũ. Bởi thế cùng một lễ Giáng Sinh ngày 25 tháng 12, người Hy Lạp mừng cùng ngày với phương tây, còn người Nga và người Serbia mừng vào ngày 7 tháng 1 theo lịch dân sự, vì 25 tháng 12 lịch Julius rơi vào đúng ngày ấy.
Lễ Phục Sinh, lễ của các lễ
Với người Chính Thống, Phục Sinh, tiếng Hy Lạp Πάσχα, Pascha, đứng trên mọi lễ khác, không nằm trong danh sách mười hai đại lễ mà vượt lên trên cả danh sách ấy. Đêm canh thức bắt đầu trong bóng tối, rồi ngọn lửa được thắp từ bàn thờ và truyền dần ra từng cây nến trong tay giáo dân. Cả cộng đoàn rước quanh nhà thờ, và khi trở lại trước cửa, linh mục cất tiếng Χριστὸς ἀνέστη, Christos anesti, Chúa Kitô đã sống lại, cộng đoàn đáp Ἀληθῶς ἀνέστη, Alithos anesti, Ngài đã sống lại thật. Người Nga nói Христос воскресе và đáp Воистину воскресе. Câu chào ấy được dùng thay lời chào thường ngày suốt bốn mươi ngày sau lễ.
Cả Chính Thống lẫn phương tây cùng giữ nguyên tắc mà Công đồng Nicaea năm 325 thường được coi là đã đặt ra: Phục Sinh là Chúa nhật sau ngày trăng tròn đầu tiên kể từ xuân phân. Chỗ khác là phần lớn các giáo hội Chính Thống, kể cả những giáo hội dùng lịch Julius sửa đổi cho lễ cố định, vẫn tính xuân phân và trăng tròn theo lịch Julius cùng các bảng tính cổ. Kết quả là lễ Phục Sinh hai bên có năm trùng nhau, có năm cách một tuần, có năm cách tới năm tuần. Giáo hội Chính Thống Phần Lan là trường hợp ngoại lệ, mừng Phục Sinh theo lịch Gregorius.
| Năm | Phục Sinh phương tây | Phục Sinh Chính Thống | Chênh lệch |
|---|---|---|---|
| 2025 | 20 tháng 4 | 20 tháng 4 | Trùng ngày |
| 2026 | 5 tháng 4 | 12 tháng 4 | Một tuần |
| 2027 | 28 tháng 3 | 2 tháng 5 | Năm tuần |
| 2028 | 16 tháng 4 | 16 tháng 4 | Trùng ngày |
| 2029 | 1 tháng 4 | 8 tháng 4 | Một tuần |
| 2030 | 21 tháng 4 | 28 tháng 4 | Một tuần |
| 2031 | 13 tháng 4 | 13 tháng 4 | Trùng ngày |
Năm phụng vụ và mười hai đại lễ
Năm phụng vụ Chính Thống bắt đầu ngày 1 tháng 9. Mười hai đại lễ gồm tám lễ về Chúa Kitô và bốn lễ về Đức Mẹ: Sinh nhật Đức Mẹ 8 tháng 9, Suy tôn Thánh Giá 14 tháng 9, Đức Mẹ dâng mình vào Đền thờ 21 tháng 11, Giáng Sinh 25 tháng 12, Hiển Linh 6 tháng 1 mừng Chúa chịu phép rửa, Dâng Chúa vào Đền thờ 2 tháng 2, Truyền Tin 25 tháng 3, Chúa vào thành Giêrusalem Chúa nhật trước Phục Sinh, Thăng Thiên, Ngũ Tuần, Biến Hình 6 tháng 8, và Đức Mẹ An Giấc 15 tháng 8. Với giáo hội theo lịch Julius cũ, cộng thêm mười ba ngày để ra ngày dân sự.
XICác Giáo Hội Tự Chủ, Không Một Người Đứng Đầu
Chính Thống Giáo không phải một giáo hội có một trung tâm điều hành, mà là một khối hiệp thông của các giáo hội tự chủ. Chữ Hy Lạp là αὐτοκέφαλος, autokephalos, nghĩa đen là tự mình làm đầu. Một giáo hội tự chủ tự bầu vị đứng đầu của mình, tự điều hành bằng thượng hội đồng giám mục riêng, và chỉ gắn với các giáo hội khác bằng sự hiệp thông trong cùng một đức tin và một bàn thánh. Dưới bậc tự chủ còn có các giáo hội tự trị, tự điều hành việc nội bộ nhưng vị đứng đầu được giáo hội mẹ phê chuẩn, như Giáo hội Phần Lan thuộc Constantinople hay Giáo hội núi Sinai thuộc Giêrusalem.
Thượng phụ Đại kết của Constantinople được các giáo hội Chính Thống nhận là đứng đầu về danh dự, theo công thức Latinh quen dùng là primus inter pares, người thứ nhất giữa những người ngang hàng. Ngài có quyền triệu tập các cuộc họp liên Chính Thống và được coi là người điều phối sự hiệp nhất, nhưng không có quyền tài phán trên các giáo hội tự chủ khác. Theo giáo nghĩa Chính Thống, thẩm quyền tối cao trong Giáo hội thuộc về công đồng các giám mục chứ không thuộc về một cá nhân.
| Thứ tự | Giáo hội | Tòa | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| 1 | Tòa Thượng phụ Đại kết Constantinople | Istanbul | Một trong năm tòa cổ, đứng đầu về danh dự từ sau năm 1054. |
| 2 | Tòa Thượng phụ Alexandria | Alexandria | Tòa cổ, coi sóc các cộng đồng Chính Thống khắp châu Phi. |
| 3 | Tòa Thượng phụ Antiochia | Damascus | Tòa cổ, tín hữu phần lớn nói tiếng Ả Rập. |
| 4 | Tòa Thượng phụ Giêrusalem | Giêrusalem | Tòa cổ, coi sóc nhiều nơi thánh gắn với cuộc đời Chúa Giêsu. |
| 5 | Giáo hội Nga | Moskva | Tự chủ trên thực tế từ năm 1448, thành tòa thượng phụ năm 1589. Đông tín hữu nhất. |
| 6 | Giáo hội Serbia | Beograd | Tự chủ từ năm 1219 với thánh Sava. |
| 7 | Giáo hội Rumani | Bucureşti | Tự chủ năm 1885, thành tòa thượng phụ năm 1925. |
| 8 | Giáo hội Bungari | Sofia | Có tòa thượng phụ từ thế kỷ mười, lập lại tổ chức tự chủ vào thế kỷ mười chín và hai mươi. |
| 9 | Giáo hội Gruzia | Tbilisi | Truyền thống Gruzia đặt mốc tự chủ vào thế kỷ năm. |
| 10 | Giáo hội Síp | Nicosia | Tự chủ được Công đồng Êphêsô năm 431 nhìn nhận. |
| 11 | Giáo hội Hy Lạp | Athens | Tuyên bố tự chủ năm 1833, được Constantinople nhìn nhận năm 1850. |
| 12 | Giáo hội Ba Lan | Warszawa | Được Constantinople trao quyền tự chủ năm 1924. |
| 13 | Giáo hội Albania | Tirana | Được Constantinople nhìn nhận tự chủ năm 1937. |
| 14 | Giáo hội vùng đất Séc và Slovakia | Prešov | Được trao quyền tự chủ trong thế kỷ hai mươi, hai tòa Moskva và Constantinople nhìn nhận vào hai thời điểm khác nhau. |
Gia đình thứ hai: các giáo hội Chính Thống Cổ Đông Phương
Còn một nhóm giáo hội cũng mang chữ Chính Thống trong tên mà không thuộc khối hiệp thông kể trên. Đó là các giáo hội Copt của Ai Cập, Ethiopia Tewahedo, Eritrea Tewahedo, Syria, Tông truyền Armenia và Malankara ở miền nam Ấn Độ, thường được gọi chung là Chính Thống Cổ Đông Phương. Các giáo hội này không nhận Công đồng Chalcedon năm 451 và chỉ nhận ba công đồng chung đầu. Họ không chấp nhận cái nhãn độc tính mà người khác từng gán, và gọi giáo lý của mình về Chúa Kitô là một bản tính hợp nhất của Ngôi Lời nhập thể. Cuối thế kỷ hai mươi, đối thoại thần học giữa hai gia đình đã ra những tuyên bố chung, nhưng hiệp thông trọn vẹn chưa được khôi phục. Trang này viết về gia đình thứ nhất, còn gia đình thứ hai được nhắc vì nó làm thay đổi hẳn con số tín đồ.
XIISố Tín Đồ, Và Vì Sao Phải Hỏi Đếm Ai
Với Chính Thống, câu hỏi bao nhiêu người phải đi kèm câu hỏi đếm ai. Hai tổ chức nghiên cứu lớn đưa ra hai con số chênh nhau hơn ba mươi triệu, và cả hai đều gộp chung hai gia đình Chính Thống Đông Phương và Cổ Đông Phương. Nếu tách riêng gia đình thứ nhất thì con số nhỏ đi đáng kể.
Bốn chỗ làm lệch phép đếm
Pew Research Center ước rằng các giáo hội Cổ Đông Phương chiếm khoảng một phần năm tổng số người Chính Thống, riêng Giáo hội Ethiopia Tewahedo đã có khoảng 36 triệu người. Bảng nào gộp, bảng nào tách, con số nhảy theo.
Ở nhiều nước Trung và Đông Âu, phần lớn dân số tự nhận là Chính Thống như một bản sắc văn hóa, trong khi theo khảo sát của Pew chỉ một phần nhỏ đi lễ hằng tuần. Đếm người tự nhận và đếm người thực hành cho ra hai con số rất xa nhau.
Mỗi giáo hội tự chủ tự đếm theo cách của mình, có nơi đếm người đã chịu phép rửa, có nơi dựa vào điều tra dân số của nước sở tại. Không có một cơ quan nào cộng sổ cho cả khối.
Nhiều cộng đồng Chính Thống sống ở các nước mà điều tra dân số không hỏi tôn giáo, hoặc là người lao động và du học sinh ở ngắn hạn, như trường hợp tại Việt Nam, nên không ai đếm họ.
| Phạm vi và nguồn | Con số | Năm dữ liệu | Cách xếp loại |
|---|---|---|---|
| Toàn cầu, Pew Research Center | Gần 260 triệu người, bằng khoảng 12 phần trăm số Kitô hữu và 4 phần trăm dân số thế giới | báo cáo công bố ngày 8 tháng 11 năm 2017 | Gộp cả hai gia đình Đông Phương và Cổ Đông Phương. |
| Toàn cầu, Trung tâm Nghiên cứu Kitô Giáo Toàn cầu thuộc Gordon Conwell | 291.580.000 người | giữa năm 2025 | Khối Chính Thống theo cách xếp của World Christian Database, gồm cả các giáo hội Cổ Đông Phương. |
| Tỷ trọng lịch sử, Pew | Khoảng 20 phần trăm số Kitô hữu và 7 phần trăm dân số thế giới | năm 1910 | Pew so với tỷ trọng 12 và 4 phần trăm hiện nay. |
| Nước đông tín hữu nhất, Pew | Hơn 100 triệu tại Nga | báo cáo năm 2017 | Người tự nhận là Chính Thống. |
| Giáo hội Ethiopia Tewahedo, Pew | Khoảng 36 triệu, gần 14 phần trăm tổng số người Chính Thống | báo cáo năm 2017 | Thuộc gia đình Cổ Đông Phương. |
| Phân bố theo châu lục, Pew | 77 phần trăm sống ở châu Âu, so với 91 phần trăm một thế kỷ trước | báo cáo năm 2017 | Gộp cả hai gia đình. |
Mấy điều rút ra. Thứ nhất, con số thư viện đưa ra là một khoảng, từ khoảng 260 tới 292 triệu, và đó là con số của cả hai gia đình cộng lại. Thứ hai, theo Pew thì số người Chính Thống tăng về tuyệt đối trong thế kỷ qua nhưng giảm về tỷ trọng, vì dân số ở các vùng Chính Thống truyền thống tăng chậm hơn các vùng Kitô Giáo khác ở châu Phi hạ Sahara, Mỹ Latinh và châu Á.
XIIIChính Thống Giáo Tại Việt Nam
Chính Thống Giáo có mặt ở Việt Nam ở quy mô rất nhỏ, gần như chỉ gồm các cộng đồng người nói tiếng Nga sống và làm việc tại đây, cùng một số ít người Việt theo đạo. Mục này chỉ ghi các giáo xứ, nơi thờ phượng và tư cách pháp lý theo những gì nguồn công khai cho phép nói.
Giáo xứ Vũng Tàu, giáo xứ đầu tiên
Theo trang của giáo phận Chính Thống Nga coi sóc Philippines và Việt Nam, ngày 17 tháng 7 năm 2002 Thánh Công Đồng của Giáo hội Chính Thống Nga quyết định mở giáo xứ tại Vũng Tàu, nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh sau sắp xếp hành chính ngày 1 tháng 7 năm 2025, và ngay năm ấy Phụng Vụ Thánh cùng lễ Phục Sinh đầu tiên được cử hành tại đây. Giáo xứ mang tên Thánh tượng Đức Mẹ Kazan, và theo trang của giáo phận thì giáo xứ phục vụ quãng một nghìn người nói tiếng Nga làm việc cho liên doanh dầu khí Vietsovpetro cùng gia đình họ. Con số ấy là quy mô cộng đồng mà giáo xứ hướng tới, không phải số tín đồ đã được đếm.
Ngày 27 tháng 2 năm 2024, theo bản tin của Ban Đối ngoại Giáo hội thuộc Tòa Thượng phụ Moskva, một ngôi nhà thờ đặt trong một tòa nhà, tiếng Nga gọi là nhà thờ gia cư, được thánh hiến tại Vũng Tàu mang tên Thánh tượng Đức Mẹ Kazan, với nội thất được vẽ ikon. Giáo xứ có phụng vụ vào các Chúa nhật và ngày lễ.
Các giáo xứ khác
| Nơi | Tên giáo xứ | Mốc | Nơi cử hành |
|---|---|---|---|
| Vũng Tàu, nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh | Thánh tượng Đức Mẹ Kazan | Quyết định mở ngày 17 tháng 7 năm 2002, nhà thờ thánh hiến ngày 27 tháng 2 năm 2024 | Nhà thờ gia cư của giáo xứ |
| Hà Nội | Thánh nữ Xenia thành Peterburg | Phụng Vụ Thánh đầu tiên năm 2009, nhận vào quyền coi sóc chính thức năm 2019 | Theo trang giáo phận, mỗi tháng một lần, mượn một nhà nguyện Công Giáo. Có nguồn ghi từng cử hành tại Trung tâm Khoa học và Văn hóa Nga |
| Thành phố Hồ Chí Minh | Đức Mẹ Che Chở | Nhận vào quyền coi sóc chính thức năm 2019 | Theo trang giáo phận, hai ba tuần một lần, tại một cơ sở của cộng đồng người Nga |
| Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa | Thánh Nicôla | Lập năm 2024 | Nguồn công khai chưa ghi rõ nơi cử hành thường xuyên |
Tư cách pháp nhân
Danh sách 16 tôn giáo được Nhà nước công nhận mà báo VietNamNet dẫn theo số liệu của Ban Tôn giáo Chính phủ không có Chính Thống Giáo. Thư viện cũng không tìm thấy văn bản công khai nào công nhận tư cách pháp nhân cho một tổ chức Chính Thống Giáo tại Việt Nam, và không có số tín đồ nào do cơ quan Việt Nam công bố. Vì vậy thư viện không đưa ra con số tín đồ, và sẽ bổ sung nếu tra được văn bản chính thức.
Thư viện hiện chưa có trang nơi thờ tự nào của Chính Thống Giáo, tại Việt Nam cũng như ở nước ngoài.
XIVTrong Con Mắt Phong Thủy
Mục này cần một câu rào trước. Chính Thống Giáo không dạy phong thủy. Không có một dòng nào trong Kinh Thánh, trong các quyết định của bảy công đồng hay trong luật của bất cứ giáo hội Chính Thống nào bàn tới việc chọn hướng theo tuổi, xem khí đất hay bày vật khí. Thư viện đặt mục này ở đây vì đây là thư viện của một người làm nghề mệnh lý, và bạn đọc quen lối cổ truyền Việt Nam cần một chỗ đối chiếu. Đây là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền Việt Nam, không phải giáo huấn của đạo.
Chính Thống Giáo có quy tắc hướng công trình của riêng mình, và quy tắc ấy chặt hơn cả Công Giáo. Nhà thờ Chính Thống theo truyền thống dựng sao cho bàn thờ nằm ở phía đông và cửa chính mở ở phía tây, để cả cộng đoàn khi cầu nguyện cùng quay mặt về hướng mặt trời mọc. Lý do được nêu trong truyền thống là phía đông là hướng của ánh sáng và của Chúa Kitô phục sinh, và là hướng mà theo cách đọc Tin Mừng Mátthêu chương 24, Chúa sẽ trở lại. Trong nghi thức rửa tội, người dự tòng quay về phía tây để từ bỏ điều ác, rồi quay về phía đông để tuyên xưng đức tin. Trong nhà, nhiều gia đình Chính Thống dành một góc phía đông làm góc thánh tượng, bày ikon và một ngọn đèn dầu nhỏ thắp thường xuyên.
Mặt bằng và mái vòm
Mặt bằng quen thuộc nhất của nhà thờ Chính Thống là kiểu chữ thập nội tiếp hình vuông, với mái vòm lớn ở giữa. Theo cách giải thích trong đạo, nhà thờ là hình ảnh của vũ trụ được thánh hóa: mái vòm là bầu trời, nền nhà là mặt đất, và phụng vụ là nơi hai thứ ấy nối với nhau. Ở vùng Slav, mái vòm thường có dạng củ hành. Nguồn gốc dạng mái này còn được bàn, từ giả thuyết khí hậu nhiều tuyết tới giả thuyết biểu tượng ngọn lửa, và chưa giả thuyết nào được nhận chung.
Đọc theo con mắt cổ truyền Việt Nam
Nếu đặt một ngôi nhà thờ Chính Thống vào khung nhìn phong thủy cổ truyền, xin nhắc lại đây là kiến giải của thư viện, thì mấy điểm sau sẽ được người trong nghề để ý. Tọa và hướng. Với người xem đất, cái hướng của một công trình là phía mặt tiền nhìn ra. Theo cách tính ấy, nhà thờ Chính Thống có cửa chính mở về phía tây nên là thế tọa đông hướng tây, lưng dựa vào hướng Chấn thuộc Mộc là nơi mặt trời mọc. Chỗ thú vị là cái trọng tâm của ngôi nhà, tức bàn thờ, lại nằm đúng ở phía Chấn ấy, và mọi người trong nhà đều quay mặt về đó. Minh đường. Trước nhiều nhà thờ Chính Thống có sân rộng để rước quanh nhà thờ trong đêm Phục Sinh, thứ mà lối cổ truyền gọi là minh đường, nhưng cái sân ấy có là do nghi thức rước kiệu. Ánh sáng. Ánh sáng trong nhà thờ Chính Thống thường dịu và tụ, đến từ các cửa sổ quanh chân mái vòm và từ ánh nến, khác với lối sáng đều và thoáng của nhà thờ Tin Lành. Lối cổ truyền vốn quý chỗ khí tụ ở nơi thờ, nên đây là chỗ hai cách nhìn gặp nhau dù từ hai lý lẽ khác hẳn.
Góc thánh tượng và bàn thờ gia tiên
Chỗ gần gũi nhất với người Việt có lẽ là góc thánh tượng. Cũng như bàn thờ gia tiên, nó là chỗ trang trọng nhất trong nhà, có ngọn đèn giữ lửa, có hương, có lời khấn nguyện sáng tối, và là chỗ khách bước vào nhà phải kính cẩn trước tiên. Nhưng khác biệt cũng rõ: góc thánh tượng hướng về Thiên Chúa và các thánh, còn việc tưởng nhớ người đã khuất của gia đình Chính Thống diễn ra chủ yếu qua các buổi tưởng niệm ở nhà thờ, qua đĩa koliva và các ngày giỗ mà Giáo hội ấn định. Người Việt quen chọn hướng bàn thờ theo tuổi gia chủ, còn người Chính Thống chọn hướng theo phía mặt trời mọc, giống nhau cho mọi nhà. Trang Thờ Cúng Tổ Tiên của thư viện giúp đặt hai lối cạnh nhau.
Nếu quý vị là người Chính Thống, trang này không khuyên quý vị xem phong thủy, và thẩm quyền đúng để hỏi về việc bày góc thánh tượng hay dựng nhà thờ là linh mục của giáo xứ mình. Nếu quý vị không có đạo và bước vào một nhà thờ Chính Thống thấy tối hơn nhà thờ Công Giáo, thấy vách thánh tượng che bàn thờ, thấy người ta đứng suốt buổi lễ, thì đó không phải thiếu sót của công trình mà là chủ ý của một truyền thống phụng vụ đã hơn một nghìn năm.
XVNhững Chỗ Hay Hiểu Lầm
Phần cuối gom lại các câu thư viện nghe nhiều nhất. Phần lớn đi ra từ cùng một gốc: người Việt biết Kitô Giáo chủ yếu qua Công Giáo và Tin Lành, nên hay áp khuôn của hai khối ấy lên một khối được dựng theo lối khác.
Cả hai Giáo hội đều nhận mình là sự tiếp nối của Giáo hội các tông đồ và có chung mười thế kỷ đầu. Năm 1054 là mốc hai tòa Rôma và Constantinople dứt phép thông công, và sử học coi cuộc chia tay là một quá trình kéo dài nhiều thế kỷ. Về quy mô, đây là khối Kitô Giáo lớn thứ ba với khoảng 260 tới 292 triệu người khi tính cả hai gia đình, theo Pew năm 2017 và Gordon Conwell năm 2025.
Chính Thống gồm chừng mười bốn giáo hội tự chủ, có cả các tòa cổ Alexandria, Antiochia, Giêrusalem với nhiều tín hữu nói tiếng Ả Rập, cùng các giáo hội Serbia, Rumani, Bungari, Gruzia và cộng đồng ở khắp các châu. Tên gọi Chính Thống Hy Lạp là cách gọi cũ theo ngôn ngữ phụng vụ ban đầu, không có nghĩa chỉ người Hy Lạp.
Không. Ngài đứng đầu về danh dự, là người thứ nhất giữa những người ngang hàng, nhưng không có quyền tài phán trên các giáo hội tự chủ khác. Thẩm quyền cao nhất theo giáo nghĩa Chính Thống thuộc về công đồng các giám mục.
Không. Mọi giáo hội đều mừng Giáng Sinh ngày 25 tháng 12. Các giáo hội giữ lịch Julius cũ tính ngày 25 tháng 12 theo lịch ấy, và từ năm 1900 tới năm 2100 ngày này rơi vào 7 tháng 1 của lịch dân sự Gregorius. Người Hy Lạp dùng lịch Julius sửa đổi nên mừng cùng ngày với phương tây.
Người đã lập gia đình trước khi chịu chức phó tế có thể được truyền chức linh mục và vẫn sống với gia đình. Người đã chịu chức rồi thì không được kết hôn nữa. Riêng giám mục được chọn trong hàng đan sĩ độc thân, theo luật từ thế kỷ bảy.
Thánh giá ba thanh ngang, cũng là ấn ký thư viện chọn cho trang này, phổ biến nhất ở các giáo hội Slav. Theo cách giải thích truyền thống, thanh trên là tấm bảng ghi tội danh, thanh giữa là chỗ dang tay, thanh dưới xiên là chỗ đặt chân, đầu nhấc lên chỉ về người trộm lành. Các giáo hội Hy Lạp thường dùng thánh giá hai thanh đơn giản, và cả hai kiểu đều là của Chính Thống.
Không ngược mà theo một thứ tự khác. Người Chính Thống chụm ba ngón đầu tượng trưng Ba Ngôi, gập hai ngón còn lại tượng trưng hai bản tính của Chúa Kitô, rồi chạm trán, ngực, vai phải trước rồi vai trái. Phía Công Giáo Latinh chạm vai trái trước.
?Hỏi Đáp Nhanh
Chính Thống Giáo và Công Giáo khác nhau thế nào?
Cả hai cùng tin một Thiên Chúa Ba Ngôi, cùng nhận bảy công đồng chung đầu tiên, cùng có các bí tích và hàng giáo phẩm kế vị tông đồ, và chung nhau mười thế kỷ lịch sử trước khi dứt phép thông công năm 1054. Bốn chỗ khác chính: Chính Thống không nhận chữ Filioque thêm vào Kinh Tin Kính, không nhận quyền tài phán của Đức Giáo hoàng trên mọi giáo hội, cho người đã lập gia đình chịu chức linh mục, và phần lớn tính lễ Phục Sinh theo lịch Julius. Ngoài ra Chính Thống dùng bánh có men, cho trẻ sơ sinh rước lễ và lấy thánh tượng làm trung tâm của nghệ thuật phụng vụ.
Chính Thống Giáo có giáo hoàng không?
Không. Chính Thống là một khối hiệp thông của chừng mười bốn giáo hội tự chủ, mỗi giáo hội tự bầu vị đứng đầu, thường mang danh hiệu thượng phụ, tổng giám mục hoặc giáo chủ. Thượng phụ Đại kết của Constantinople được nhận là đứng đầu về danh dự, người thứ nhất giữa những người ngang hàng, có quyền triệu tập các cuộc họp chung, nhưng không có quyền tài phán trên các giáo hội khác. Theo giáo nghĩa Chính Thống, thẩm quyền cao nhất thuộc về công đồng các giám mục.
Vì sao Chính Thống Giáo mừng Giáng Sinh ngày 7 tháng 1?
Không phải mọi giáo hội Chính Thống đều mừng ngày 7 tháng 1. Các giáo hội Giêrusalem, Nga, Serbia, Gruzia và các tu viện Núi Athos giữ lịch Julius cũ, nên ngày 25 tháng 12 theo lịch ấy rơi vào ngày 7 tháng 1 của lịch dân sự, vì từ năm 1900 tới năm 2100 hai lịch lệch nhau mười ba ngày. Các giáo hội Constantinople, Hy Lạp, Rumani, Bungari và mấy giáo hội khác đã dùng lịch Julius sửa đổi đề xuất năm 1923 nên mừng Giáng Sinh ngày 25 tháng 12 như phương tây.
Lễ Phục Sinh Chính Thống năm 2027 vào ngày nào?
Theo quy tắc tính của các giáo hội Chính Thống, lễ Phục Sinh năm 2027 rơi vào ngày 2 tháng 5, trong khi lễ Phục Sinh của Công Giáo và Tin Lành rơi vào ngày 28 tháng 3, tức hai bên cách nhau năm tuần. Năm 2026 lễ Phục Sinh Chính Thống là ngày 12 tháng 4, và năm 2028 hai bên trùng nhau vào ngày 16 tháng 4. Sự chênh lệch đến từ việc phía Chính Thống vẫn tính xuân phân và trăng tròn theo lịch Julius cùng các bảng tính cổ.
Ở Việt Nam có nhà thờ Chính Thống Giáo không?
Có, ở quy mô rất nhỏ. Theo trang của giáo phận Chính Thống Nga coi sóc Philippines và Việt Nam, giáo xứ Thánh tượng Đức Mẹ Kazan ở Vũng Tàu, nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh, được mở năm 2002 cho cộng đồng người nói tiếng Nga, và nhà thờ của giáo xứ được thánh hiến ngày 27 tháng 2 năm 2024. Ngoài ra có các giáo xứ nhỏ ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Nha Trang. Chính Thống Giáo không có trong danh sách 16 tôn giáo được Nhà nước công nhận.
Người Chính Thống có thờ tranh thánh không?
Theo giáo nghĩa thì không thờ mà tôn kính. Công đồng chung thứ bảy họp tại Nicaea năm 787 phân biệt thờ phượng, tiếng Hy Lạp latreia, chỉ dành cho Thiên Chúa, với sự tôn kính, proskynesis, dành cho thánh tượng, thánh giá và các thánh. Khi hôn một bức ikon hay thắp nến trước nó, người Chính Thống hiểu là mình tôn kính người mà hình ảnh ấy đại diện chứ không tôn kính gỗ và màu. Lý lẽ nền tảng là sự Nhập Thể: vì Thiên Chúa đã làm người nên có thể làm hình ảnh về Ngài.
Chính Thống Giáo có bao nhiêu tín đồ?
Pew Research Center, trong báo cáo công bố ngày 8 tháng 11 năm 2017, ghi gần 260 triệu người, bằng khoảng 12 phần trăm số Kitô hữu và 4 phần trăm dân số thế giới. Bảng Status of Global Christianity 2025 của Gordon Conwell ghi 291.580.000 người vào giữa năm 2025. Cả hai con số đều gộp các giáo hội Chính Thống Cổ Đông Phương như Copt, Ethiopia và Armenia. Nước đông tín hữu nhất là Nga, với hơn 100 triệu người theo Pew.