IĐọc Nhanh Trong Năm Câu
Bái Hỏa Giáo là tên tiếng Việt, mượn từ chữ Hán 拜火教, của đạo mà sách phương Tây gọi là Zoroastrianism, theo tên Hy Lạp của vị khai đạo. Người trong đạo không tự gọi mình là người thờ lửa. Họ gọi mình là người thờ Mazda, mazdayasna trong tiếng Avesta, và gọi đạo của mình là Đạo Tốt Lành. Đạo khởi từ lời giảng của Zarathustra, một vị tư tế sống ở miền đông cao nguyên Iran vào một thời điểm mà giới học giả còn bàn cãi, biên độ chênh nhau tới cả nghìn năm, rồi gắn với ba triều đại Ba Tư nối nhau trong hơn một nghìn năm.
Ngày nay đạo này nhỏ, cả thế giới quãng một trăm mười hai nghìn tới một trăm hai mươi hai nghìn tín đồ theo một khảo sát năm 2012, đông nhất là cộng đồng Parsi ở Ấn Độ. Nhưng những ý niệm mà kinh văn của đạo ghi lại, về cuộc chọn lựa giữa chân lý và dối trá, về sự phán xét linh hồn và về ngày thế giới được làm mới, vẫn là đề tài lớn của sử học tôn giáo.
Một, đạo tôn thờ Ahura Mazda, nghĩa là Đấng Chúa Minh Triết, và dạy rằng cái ác không đến từ đấng ấy. Hai, cốt lõi của giáo nghĩa là cuộc chọn lựa giữa asha, tức chân lý và trật tự, với druj, tức dối trá, gói trong ba điều nghĩ tốt, nói tốt, làm tốt. Ba, lửa là biểu tượng của chân lý và là chỗ tín đồ hướng lòng khi cầu nguyện, không phải vị thần tối cao. Bốn, kinh của đạo là Avesta, trong đó mười bảy chương Gathas được tuyên xưng là lời của chính Zarathustra. Năm, đạo sống tiếp qua người Parsi ở Ấn Độ, người Bái Hỏa ở Iran và một lớp hải ngoại, còn tại Việt Nam thì không có mặt tổ chức.
Trang này gồm mười lăm mục và viết theo lối mô tả. Thư viện thuật lại điều đạo tuyên xưng, thuật lại điều sử học khảo được, và giữ hai thứ ấy tách bạch bằng hai loại hộp riêng. Ở đạo này chỗ vênh giữa các nguồn nhiều hơn hẳn thường lệ: niên đại Zarathustra, năm người Parsi tới Ấn Độ, mức ảnh hưởng lên các đạo sau, và cả số tín đồ. Chỗ nào vênh, trang ghi đủ các giả thuyết kèm tên người nêu. Thời các đế quốc Ba Tư cổ chỉ được kể như bối cảnh tôn giáo. Thuật ngữ Avesta chỉ ghi phiên âm Latinh, vì chữ Avesta hiếm phông hiển thị và thư viện chưa kiểm được từng nét.
IIThế Giới Ấn Iran Cổ
Muốn hiểu Bái Hỏa Giáo phải lùi về một khối cư dân mà ngôn ngữ học gọi là Ấn Iran: những nhóm người nói các thứ tiếng rất gần nhau, sống bằng chăn nuôi, có chung một hệ thần và một hệ lễ dâng cúng quanh lửa và quanh một thứ nước ép thiêng. Trong thiên niên kỷ thứ hai trước Công nguyên, khối ấy tách làm hai nhánh. Một nhánh xuống tiểu lục địa Ấn Độ và để lại bộ Rigveda, nhánh kia tỏa ra cao nguyên Iran và để lại kinh Avesta. Tiếng Avesta cổ của các bài Gathas gần tiếng Phạn Veda tới mức nhiều câu chỉ cần đổi vài quy luật biến âm là đọc được sang nhau, và chính độ gần ấy là một căn cứ để đoán niên đại của Zarathustra.
| Tiếng Avesta | Tiếng Phạn Veda | Nghĩa chung | Chỗ hai bên đi khác nhau |
|---|---|---|---|
| ahura | asura | bậc chúa, bậc có quyền năng | Ở Avesta thành danh xưng của đấng tối cao. Ở lớp Veda muộn dần chỉ hàng chống lại các thần |
| daeva | deva | vị thần | Ở Avesta thành loài bị bác bỏ. Ở Veda vẫn là các thần |
| asha | rta | chân lý, trật tự | Hai bên đều hiểu là trật tự vũ trụ đồng thời là lẽ phải trong đời người |
| haoma | soma | cây và nước ép dùng trong lễ | Loài cây gốc là gì thì còn bàn |
| yasna | yajna | lễ tế, sự dâng cúng | Tên của lễ chính và của quyển kinh chính trong Avesta |
Hai hàng đầu của bảng được bàn nhiều nhất: bên Iran tôn ahura và gạt daeva, bên Ấn Độ về sau tôn deva và đẩy asura xuống hàng đối nghịch. Có thuyết cho đó là dấu vết một cuộc tách nhóm tôn giáo, có thuyết cho rằng nó diễn ra chậm và riêng rẽ ở mỗi bên. Chưa thuyết nào được nhận rộng rãi.
Thấy nhiều chữ trùng nhau thì dễ kết luận rằng Bái Hỏa Giáo là một nhánh của Ấn Độ Giáo, hoặc ngược lại. Cả hai cách nói đều không đúng. Hai truyền thống giống nhau như hai anh em có chung một ông tổ, và về sau khác nhau nhiều: Bái Hỏa Giáo không có hệ varna, không có tượng thần trong đền, không có thuyết luân hồi.
IIIZarathustra Và Câu Hỏi Niên Đại
Trang này không mô tả diện mạo của Zarathustra và không gợi một chân dung nào, vì mọi bức vẽ quen thuộc đều do đời sau hình dung. Tên ông trong tiếng Avesta là Zarathushtra, người Hy Lạp chép thành Ζωροάστρης, phiên âm Zoroastres, tiếng Ba Tư ngày nay viết زرتشت, phiên âm Zartosht. Phần sau của tên, ushtra, là chữ chỉ con lạc đà, nên cái tên thường được hiểu là người có đàn lạc đà. Đó là tên của một người trong xã hội chăn nuôi, không phải tên một nhân vật huyền thoại.
Theo truyền thống của đạo, Zarathustra thuộc dòng Spitama, được đào tạo làm tư tế từ nhỏ. Năm ba mươi tuổi, khi xuống sông lấy nước cho lễ lúc bình minh, ông được Vohu Manah, tức Thiện Tâm, dẫn tới trước Ahura Mazda và nhận lời dạy. Ông rao giảng mười năm mà chỉ có người anh họ theo. Bước ngoặt đến khi vua Vishtaspa nhận lời dạy, và từ triều đình ấy đạo lan ra. Truyền thống ghi ông mất năm bảy mươi bảy tuổi. Đạo tuyên xưng ông là con người, là vị tiên tri được Ahura Mazda chọn, không phải thần, và không thờ ông.
Nguồn gần ông nhất chỉ có các bài Gathas, trong đó người nói xưng tên Zarathustra, tự nhận là một zaotar, tức tư tế dâng lễ, và than về việc bị xua đuổi. Mọi chi tiết khác về đời ông nằm trong các văn bản soạn xong ở thế kỷ 9 và 10 sau Công nguyên, nên được xử lý như truyền thống. Về nơi ông sống, giới nghiên cứu gần như thống nhất rằng đó là phía đông cao nguyên Iran hoặc Trung Á chứ không phải miền tây Iran, còn cụ thể thì mỗi người một ý: Gherardo Gnoli nghiêng về Sistan, Richard Frye về Bactria và Chorasmia, Mary Boyce về vùng thảo nguyên xa hơn về phía bắc.
Sáu giả thuyết về niên đại
| Giả thuyết | Niên đại đề xuất | Căn cứ | Người nêu hoặc người giữ |
|---|---|---|---|
| Truyền thống Hy Lạp | Sáu nghìn năm trước khi Xerxes vào Hy Lạp năm 480 trước Công nguyên | Có lẽ do hiểu nhầm chu kỳ vũ trụ mười hai nghìn năm trong giáo nghĩa | Xanthus, Eudoxus, Aristotle, Hermippus theo các bản dẫn lại |
| Truyền thống Bái Hỏa muộn | Hai trăm năm mươi tám năm trước Alexander, quãng thế kỷ 6 trước Công nguyên | Phép tính ngược theo đời người lập ra sau thời Alexander | Sách Pahlavi, nay phần đông học giả cho là tính muộn |
| Rất sớm | 1700 tới 1000, về sau thu hẹp còn quãng 1500 tới 1000 trước Công nguyên | Tiếng Avesta cổ gần tiếng Rigveda, xã hội trong Gathas là xã hội chăn nuôi chưa có thành thị | Mary Boyce |
| Thiên niên kỷ thứ hai | Quãng ba nghìn năm trăm năm trước ngày nay | Chủ yếu dựa vào ngôn ngữ | Almut Hintze |
| Quãng năm 1000 | Khoảng 1000 trước Công nguyên, cộng trừ một thế kỷ | Cân đối bằng chứng ngôn ngữ và bằng chứng xã hội | William Malandra, Jean Kellens, theo họ đang dần thành đồng thuận |
| Muộn | 650 tới 600, hoặc 559 tới 522 trước Công nguyên | Đồng nhất vua Vishtaspa của truyền thống với cha của Darius I cùng tên | Một số học giả, nay ít người theo |
Nhiều sách phổ thông, kể cả sách tiếng Việt, ghi Zarathustra sinh năm 628 và mất năm 551 trước Công nguyên như một sự thật. Cặp số ấy đi ra từ phép tính hai trăm năm mươi tám năm trước Alexander, là cách tính mà phần đông giới nghiên cứu hôm nay không nhận. Gặp một con số dứt khoát như thế, nên hiểu đó là một giả thuyết chứ không phải một mốc đã biết.
IVDòng Thời Gian Ba Nghìn Năm
Mốc thứ nhất vênh tới cả nghìn năm, và các mốc về các đế quốc Ba Tư cổ chỉ được ghi ở phần liên quan tới tôn giáo.
- Khoảng 1500 tới 600 trước Công nguyênZarathustra và các bài GathasBiên độ gom mọi giả thuyết học thuật đã nêu ở mục trên.
- 550 tới 330 trước Công nguyênThời AchaemenidVăn bia của vua chúa nhắc tên Ahuramazda nhiều lần, nổi tiếng nhất là bia Behistun của vua Darius I quãng năm 520. Văn bia không nhắc tên Zarathustra, nên việc các vua này có theo đạo của ông hay không vẫn còn bàn.
- Giữa thế kỷ 5 trước Công nguyênHerodotus tả tục thờ của người Ba TưNgười Ba Tư không dựng tượng, không xây đền, dâng lễ trên đỉnh núi, còn tư tế Magi để xác người chết cho chim và chó trước khi chôn.
- 224 tới 651Thời SasanidGiới tư tế tổ chức chặt. Đại tư tế Kartir để lại văn bia ở thế kỷ 3. Chữ Avesta được dựng quãng thế kỷ 5 tới 6 để chép kinh vốn chỉ truyền miệng, và bộ kinh chia thành hai mươi mốt quyển gọi là nask.
- Thế kỷ 7 tới 10Iran dần chuyển sang Hồi GiáoSau khi triều Sasanid chấm dứt, cư dân chuyển đạo dần dần trong nhiều thế kỷ. Các tư tế soạn những sách Pahlavi lớn như Denkard và Bundahishn để giữ giáo nghĩa.
- 716, 785 hoặc 936Người Parsi tới SanjanBa năm cùng được đề xuất, tùy cách tính ngược từ một văn bản viết năm 1599.
- 1323Bản chép tay Avesta xưa nhất còn giữMọi bản Avesta còn lại đều muộn hơn năm này.
- 1478 tới 1773Các thư RivayatNgười Parsi gửi thư hỏi các tư tế ở Iran về luật và lễ, và hai mươi sáu lá thư trả lời thành một nguồn luật lớn.
- 1742Ngọn lửa Iranshah về UdvadaNgọn lửa bậc cao nhất mang từ Sanjan, sau nhiều lần dời chỗ, được đặt ở Udvada, bang Gujarat, tới nay.
- 1771Bản dịch Avesta đầu tiên ở châu ÂuHọc giả Pháp Anquetil-Duperron in bản dịch sau nhiều năm học với tư tế Parsi ở Surat.
- 1862Martin Haug và GathasHọc giả Đức Martin Haug nêu rằng Gathas là lời của chính Zarathustra và đọc chúng theo hướng nhất thần, ảnh hưởng mạnh tới dòng cải cách trong người Parsi.
- Cuối thế kỷ 19 tới đầu thế kỷ 20Người Irani sang Ấn ĐộMột làn sóng tín đồ từ Yazd và Kerman sang Bombay, thành cộng đồng Irani.
- 2009Nowruz vào danh sách của UNESCOTết Nowruz được ghi vào Danh sách Di sản Văn hóa Phi vật thể Đại diện của Nhân loại như di sản chung của nhiều dân tộc.
VKinh Avesta, Gathas Và Sách Pahlavi
Trong hơn một nghìn năm, kinh của Bái Hỏa Giáo chỉ sống trong trí nhớ của giới tư tế, được đọc thuộc lòng trong lễ và truyền từ thầy sang trò. Mãi tới thời Sasanid người ta mới dựng một hệ chữ riêng có đủ ký hiệu cho từng âm để chép ra. Vì kinh được giữ bằng miệng nên độ chính xác về âm được đặt rất cao: đọc sai một âm là làm hỏng lễ.
Đạo tuyên xưng Avesta là lời thiêng, và Gathas là lời Zarathustra nói với Ahura Mazda và về Ahura Mazda. Kinh là manthra, lời có sức mạnh khi đọc đúng cách, nên tín đồ tụng bằng nguyên ngữ Avesta, kể cả khi không hiểu từng chữ. Lời cầu thiêng nhất là Ahuna Vairya, người Parsi quen gọi là Yatha Ahu Vairyo.
| Phần | Nội dung | Quy mô | Dùng vào lúc nào |
|---|---|---|---|
| Yasna | Lễ văn của lễ dâng cúng chính | 72 chương, có Gathas ở các chương 28 tới 34, 43 tới 51 và 53 | Đọc trọn trong lễ Yasna |
| Visperad | Các đoạn thêm vào Yasna | 24 phần | Các dịp lễ mùa Gahambar |
| Vendidad, còn viết Videvdad | Luật tịnh uế và cách chống các daeva | 22 chương | Một lễ ban đêm, và là nguồn của phần lớn luật thanh tịnh |
| Khordeh Avesta | Tập kinh nhỏ cho người thường | 21 bài Yasht, 5 bài Niyayesh, 5 bài Gah cùng các bài khác | Cầu nguyện hằng ngày |
Gathas, năm bài ca trong mười bảy chương
Gathas là phần cổ nhất và khó nhất của Avesta, gồm năm bài ca theo năm thể thơ: Ahunavaiti bảy chương từ 28 tới 34, Ushtavaiti bốn chương từ 43 tới 46, Spenta Mainyu bốn chương từ 47 tới 50, Vohu Khshathra là chương 51, và Vahishta Ishti là chương 53. Ngôn ngữ cô đặc tới mức cùng một đoạn mà các bản dịch có thể khác nhau khó nhận ra, nên trang này thuật ý chứ không trích bản dịch nào. Trong Gathas không có chuyện kể hay luật chi tiết, chỉ có lời cầu, lời hỏi và lời dạy về chân lý, về hai tinh thần và về cuộc chọn lựa của con người.
Sách Denkard thế kỷ 9 và 10 còn tóm tắt hai mươi mốt quyển của bộ Avesta thời Sasanid, và khi đối chiếu thì các nhà nghiên cứu thấy chỉ quãng một phần tư số câu được dẫn thời ấy còn tìm thấy hôm nay. Phần mất nhiều nhất là luật, sử truyền và truyện kể. Phần còn lại chủ yếu là những gì đọc trong lễ, vì chính việc đọc hằng ngày đã giữ chúng lại. Bản chép tay xưa nhất còn giữ có niên đại năm 1323. Theo ngôn ngữ, tiếng Avesta cổ của Gathas được xếp quãng 1500 tới 900 trước Công nguyên, tiếng Avesta muộn của phần còn lại quãng 900 tới 400, và cả hai là ước đoán ngôn ngữ học.
Sách Pahlavi
Ngoài Avesta có một kho sách bằng tiếng Pahlavi, tức tiếng Ba Tư trung đại, phần lớn soạn xong ở thế kỷ 9 và 10: Denkard là bách khoa về giáo nghĩa và luật, Bundahishn kể về sự tạo dựng và ngày tận cùng, Arda Viraf Namag kể chuyện một tư tế thăm cõi sau khi chết. Nhiều điều người ta hay nói về đạo, như thứ tự ngày tận thế hay các chu kỳ vũ trụ, được kể đầy đủ trong sách Pahlavi chứ không phải trong Gathas. Các sách ấy giữ những truyền thống cổ hơn chúng, nhưng chính chúng ra đời muộn, và đó là mấu chốt của cuộc tranh luận về ảnh hưởng của đạo mà mục cuối nhắc tới.
VIGiáo Nghĩa Cốt Lõi
Giáo nghĩa có thể thu về một câu: thế giới do một đấng hoàn toàn tốt tạo ra, cái ác là kẻ xâm nhập, và mỗi con người được gọi tới để tự chọn đứng về phía chân lý. Mục này đi qua từng khái niệm theo thứ tự ấy, và nói rõ khái niệm nào đã có trong Gathas, khái niệm nào chỉ được triển khai đầy đủ trong sách Pahlavi muộn.
Ahura Mazda, Đấng Chúa Minh Triết
Đạo tuyên xưng Ahura Mazda là đấng không do ai tạo ra, hoàn toàn tốt, hoàn toàn minh triết, đấng tạo dựng thế giới tinh thần và thế giới vật chất, nguồn của chân lý và ánh sáng, và không phải nguồn của cái ác. Lửa, nước, đất, cây cỏ, gia súc và con người đều là tạo vật của Ahura Mazda.
Ahura nghĩa là chúa, cùng gốc với chữ asura của tiếng Phạn. Mazda nghĩa là minh triết. Trong Gathas hai chữ đứng tách và đổi chỗ khá tự do, về sau mới dính thành một tên riêng, sang tiếng Ba Tư trung đại mòn thành Ohrmazd. Đạo không có tượng Ahura Mazda, và đền lửa không đặt hình ảnh nào của đấng ấy.
Hai tinh thần và quyền chọn lựa
Đoạn được dẫn nhiều nhất của Gathas nằm ở chương 30 của Yasna, nói về hai tinh thần nguyên sơ, một bên chọn chân lý và sự sống, một bên chọn dối trá, và rằng người khôn chọn đúng, kẻ dại chọn sai. Tinh thần tốt về sau gọi là Spenta Mainyu, Tinh Thần Thánh Thiện. Tinh thần xấu là Angra Mainyu, Tinh Thần Phá Hoại, sang tiếng Ba Tư trung đại thành Ahriman.
Chữ then chốt là chọn. Cái ác được mô tả như kết quả của một sự lựa chọn chứ không như số phận, và con người cũng đứng trước đúng cuộc chọn ấy. Không ai sinh ra đã bị định phải xấu, và không ai được miễn trách nhiệm cho việc mình làm. Nhiều nhà nghiên cứu coi ý niệm về ý chí tự do này là nét đặc trưng nhất của đạo.
Asha và druj, chân lý và dối trá
Đạo dạy rằng asha là chân lý, là trật tự đúng của vũ trụ, là lẽ phải trong đời người, và là con đường Ahura Mazda muốn loài người đi. Người đi theo asha là ashavan, người chính trực. Đối nghịch là druj, sự dối trá và hỗn loạn. Lời cầu ngắn Ashem Vohu mà tín đồ đọc nhiều lần trong ngày mở đầu bằng câu asha là điều tốt nhất.
Asha khó dịch vì nó gộp ba thứ mà tiếng Việt tách rời: trật tự tự nhiên như mùa tới đúng mùa, lẽ phải đạo đức như giữ lời và nói thật, và sự đúng đắn của nghi lễ. Theo lối nghĩ ấy, người nói dối không chỉ phạm một lỗi riêng mà làm rối trật tự của cả thế giới. Herodotus đã ghi rằng người Ba Tư dạy con trai cưỡi ngựa, bắn cung và nói thật, và coi nói dối là điều đáng hổ thẹn nhất.
Ba điều: nghĩ tốt, nói tốt, làm tốt
Nếu phải chọn một câu để tín đồ nhớ, đó là humata, hukhta, hvarshta: nghĩ tốt, nói tốt, làm tốt. Ba chữ ấy không đòi một phép tu cao siêu mà đòi sự nhất quán giữa ba tầng của một con người. Trẻ em đọc lời cam kết theo ba điều ấy trong lễ nhập đạo, và trong đời thường, công việc, sự trung thực trong buôn bán, việc giúp người nghèo đều được hiểu là cách góp phần vào phía chân lý.
Sáu Amesha Spenta
Amesha Spenta nghĩa là những Đấng Bất Tử Thánh Thiện. Trong Gathas họ xuất hiện như phẩm tính của Ahura Mazda và cũng là phẩm tính con người có thể đạt tới. Ở Avesta muộn và sách Pahlavi, mỗi vị che chở một phần của thế giới tạo dựng, và lối gắn này giải thích vì sao đạo coi trọng việc giữ sạch đất, nước, lửa và cây cỏ. Tạo vật thứ bảy là con người, đặt dưới sự che chở của Spenta Mainyu hoặc của chính Ahura Mazda.
Phẩm tính của suy nghĩ tốt, vị dẫn Zarathustra tới trước Ahura Mazda. Che chở gia súc.
Hiện thân của asha. Che chở lửa, một lý do lửa là biểu tượng của chân lý.
Quyền năng chính đáng. Che chở kim loại và bầu trời.
Lòng sùng kính và khiêm nhường. Che chở đất.
Sức khỏe, sự đầy đủ. Che chở nước.
Sự sống không tàn. Che chở cây cỏ.
Các yazata
Yazata nghĩa là đấng đáng được dâng lễ, một hàng rộng những đấng thiêng dưới Ahura Mazda, phần nhiều có gốc từ hệ thần Ấn Iran xưa. Những vị được nhắc nhiều nhất là Mithra, giữ giao ước và lời thề, Anahita, gắn với nước, Sraosha, che chở linh hồn, Tishtrya, ngôi sao đem mưa, và Atar, tức lửa. Mỗi ngày trong lịch Bái Hỏa mang tên một yazata hoặc một Amesha Spenta. Các yazata được dâng lời ca trong các bài Yasht nhưng không đứng ngang hàng với Ahura Mazda.
Thế giới vật chất là tốt
Vì thế giới do Ahura Mazda tạo ra, nó tốt tự bản chất, còn bệnh tật, bẩn thỉu, cái chết là thứ từ ngoài xâm nhập. Hệ quả là đạo không đề cao khổ hạnh, không đề cao sống độc thân, không khuyến khích nhịn ăn hành xác. Lấy vợ lấy chồng, sinh con, làm ruộng, buôn bán ngay thẳng đều là việc thiện. Cũng từ đó mà có cả một hệ luật thanh tịnh: làm ô uế đất, nước, lửa là đứng về phía cái ác, nên luật về xác người, về rác, về việc giữ lửa sạch đều đi ra từ ý ấy.
Sau cái chết: cây cầu Chinvat
Đạo dạy rằng linh hồn ở lại gần thân xác ba đêm, rạng sáng ngày thứ tư thì tới cây cầu Chinvat, Cầu Phân Định, nơi việc nghĩ, nói và làm suốt đời được cân bởi các yazata Mithra, Sraosha và Rashnu. Ở đầu cầu, linh hồn gặp daena của chính mình, tức hiện thân của lương tâm và việc làm. Với người chính trực, cầu mở rộng và linh hồn qua tới Nhà Của Lời Ca. Với người theo dối trá, cầu hẹp lại như lưỡi dao và linh hồn rơi xuống Nhà Của Dối Trá. Ai có thiện và ác ngang nhau thì ở cõi giữa Hamistagan.
Theo giáo nghĩa, cõi dữ không vĩnh viễn. Nó chỉ kéo dài tới ngày thế giới được làm mới, khi mọi linh hồn đều được thanh lọc, tức đích cuối cùng là sự phục hồi của tất cả chứ không phải sự chia đôi mãi mãi.
Frashokereti, ngày thế giới được làm mới
Frashokereti nghĩa là sự làm cho tươi mới, ngày cái ác bị đẩy hẳn ra khỏi thế giới. Gathas đã nói về việc làm tươi mới thế giới như mục đích mà con người góp sức vào. Sách Pahlavi kể chi tiết hơn nhiều: các vị cứu độ Saoshyant xuất hiện, người chết sống lại, một dòng kim loại nóng chảy tràn qua thế gian để thanh lọc, người chính trực thấy nó ấm như sữa, rồi Angra Mainyu bị tiêu diệt. Theo truyền thống, lịch sử thế giới dài mười hai nghìn năm chia bốn chu kỳ, và Zarathustra xuất hiện ở đầu chu kỳ cuối, đúng khung thời gian mà người Hy Lạp có lẽ đã hiểu nhầm.
Fravashi và Faravahar
Fravashi là phần tinh thần có trước khi người ta sinh ra và còn sau khi mất, vừa là một phần của người chính trực vừa che chở người ấy. Theo truyền thống, fravashi của tổ tiên về thăm con cháu những ngày cuối năm, gốc của mười ngày Muktad trước Tết, một lối nhớ tổ tiên có nét gần tục cúng giỗ của người Việt nhưng khung giáo nghĩa khác hẳn.
Từ chữ ấy mà có tên Faravahar, một biểu tượng có cánh trên các phù điêu thời Achaemenid, nay là biểu tượng quốc tế của đạo. Nó đại diện cho gì thì chưa thống nhất: có người cho là Ahura Mazda, có người cho là fravashi, có người cho là khvarenah, ánh hào quang thiêng của vương quyền. Người Parsi ngày nay phần đông hiểu là fravashi.
Một thần hay hai thần
Một phía nhấn vào Ahura Mazda là đấng tạo dựng duy nhất và gọi đạo là nhất thần. Phía kia nhấn vào việc cái ác có nguồn riêng và gọi đạo là nhị nguyên. Cách dung hòa hay gặp là nhất thần về đối tượng thờ phụng, nhị nguyên về đạo đức, với hai lực không ngang hàng và cuộc đối đầu có kỳ hạn. Thời Sasanid từng có khuynh hướng Zurvan, đặt Thời Gian vô tận làm nguồn của cả Ohrmazd lẫn Ahriman như hai anh em sinh đôi. Khuynh hướng ấy về sau bị gạt đi và nay không còn người theo.
Chỗ hay lầm là hình dung đạo thờ hai vị thần thiện ác ngang sức, đánh nhau mãi mãi. Theo giáo nghĩa thì không phải thế. Angra Mainyu không được thờ, không được dâng lễ, không phải đấng tạo dựng mà là kẻ phá hoại tạo vật, và sẽ bị đẩy lùi hẳn vào ngày cuối. Chỉ Ahura Mazda được thờ.
VIILửa Thiêng Và Đền Lửa
Lửa là thứ người ngoài thấy trước tiên và cũng hiểu sai nhiều nhất. Tín đồ cầu nguyện hướng về một nguồn sáng: mặt trời ban ngày, mặt trăng, ngọn đèn trong nhà hay ngọn lửa trong đền. Lửa là tạo vật thanh khiết nhất, là biểu tượng của asha. Trong nhà người Parsi, ngọn đèn dầu nhỏ gọi là divo được giữ cháy ở góc thờ.
Đạo tôn kính lửa dưới tên Atar, một yazata mà Avesta muộn gọi là con của Ahura Mazda. Lửa được dâng củi thơm, được chăm như một đấng sống, được ca ngợi trong lời cầu Atash Niyayesh. Nhưng tín đồ thờ phụng Ahura Mazda, và lửa là chỗ họ đứng trước mặt khi thờ phụng. Người Parsi hay giải thích rằng họ hướng về lửa như người Hồi Giáo hướng về Kaaba, tức hướng về một biểu tượng chứ không tôn biểu tượng làm thần tối cao.
Herodotus ghi rằng người Ba Tư giữa thế kỷ 5 trước Công nguyên không xây đền mà lên đỉnh núi dâng lễ cho bầu trời, mặt trời, mặt trăng, đất, lửa, nước và gió, tức lửa đã thiêng nhưng chưa có đền lửa. Mary Boyce đưa giả thuyết rằng đền lửa ra đời quãng cuối thời Achaemenid, như cách đáp lại việc dựng tượng thờ Anahita. Dấu tích được nhận diện sớm nhất ở núi Khajeh vùng Sistan, xếp tạm vào thế kỷ 3 hoặc 4 trước Công nguyên. Tới thời Sasanid, đền lửa đã thành trung tâm của đời sống đạo.
Ba bậc lửa
| Bậc | Cách lập ngọn lửa | Số tư tế | Thời gian lập |
|---|---|---|---|
| Atash Behram, bậc cao nhất | Gom mười sáu loại lửa, trong đó có lửa do sét, lửa giàn hỏa táng, lửa lò của nhiều nghề và lửa bếp, mỗi loại qua nhiều lần tinh lọc rồi hợp lại | Ba mươi hai | Có thể tới gần một năm |
| Atash Adaran, bậc giữa | Gom lửa bếp của bốn tầng lớp xã hội xưa | Tám | Hai tới ba tuần |
| Atash Dadgah, bậc thường | Lập bằng việc đọc bảy mươi hai chương Yasna. Chữ này cũng chỉ lửa bếp và đèn thờ trong nhà | Hai | Vài giờ |
Chín ngọn lửa bậc cao nhất
Cả thế giới có chín đền Atash Behram. Tám ngôi ở Ấn Độ: Udvada từ 1742, Navsari từ 1765, hai ngôi ở Surat cùng lập năm 1823, và bốn ở Mumbai lập các năm 1783, 1830, 1845 và 1897. Ngôi thứ chín ở Yazd, miền trung Iran, trong tòa nhà dựng năm 1934, giữ ngọn lửa mà truyền thống cộng đồng ghi là cháy liên tục từ quãng năm 470, con số thư viện chưa thấy nguồn độc lập kiểm chứng. Tính cả ba bậc, theo số liệu năm 2021 được nhiều nguồn dẫn lại, thế giới có quãng 167 đền lửa: 45 ở Mumbai, 105 ở nơi khác trên đất Ấn Độ và 17 ở các nước còn lại. Tiếng Ba Tư gọi đền lửa là آتشکده, phiên âm âtashkade, nhà của lửa, còn người Parsi gọi đền bậc thường là agiary.
Iranshah, ngọn lửa từ Sanjan
Ngọn lửa ở Udvada mang tên Iranshah, vua của Iran, và là ngọn lửa đáng kính nhất với người Parsi. Theo truyền thống, những người di cư đầu tiên lập nó tại Sanjan, nên năm lập vênh theo đúng những năm vênh của cuộc di cư. Ngọn lửa được dời nhiều lần, vào các hang Bahrot, sang Vansda, về Navsari hơn ba trăm năm, rồi năm 1742 về Udvada. Ngôi đền hiện nay dựng năm 1742 và sửa lớn năm 1894.
Bên trong một ngôi đền lửa
Ngọn lửa đặt trong chiếc lư kim loại lớn mà người Parsi gọi là afarganyu, trên bệ đá, trong một gian riêng. Theo truyền thống Parsi, nắng không được rọi thẳng vào gian lửa. Tư tế mặc áo trắng, che miệng bằng mảnh vải padan để hơi thở không chạm lửa, và đầu mỗi thời trong ngày làm lễ boi, dâng củi đàn hương, đọc kinh, rung chuông. Người tới lễ mang củi đàn hương, cầu nguyện trước lửa rồi chấm chút tro thiêng lên trán. Ở Ấn Độ, theo tập quán cộng đồng, người không theo đạo không được vào những gian nhìn thấy ngọn lửa. Một số đền ở Iran, như ở Yazd, cho khách nhìn lửa qua vách kính.
Cái tên Bái Hỏa, tức lạy lửa, gieo chỗ hiểu lầm. Nói người Bái Hỏa không liên quan gì tới lửa là sai, mà nói họ thờ lửa như thần cũng sai. Cách nói gần nhất với cách tín đồ tự hiểu là: họ thờ Ahura Mazda, và lửa là biểu tượng, là chỗ hướng lòng của sự thờ phụng ấy.
VIIINghi Lễ, Lịch Và Lễ Tiết
Đời sống đạo xoay quanh ba nhịp: nhịp một đời người mở bằng lễ nhập đạo và khép bằng lễ tang, nhịp một ngày chia năm thời cầu nguyện, nhịp một năm với Tết, sáu lễ mùa và mười ngày nhớ tổ tiên. Lễ tang để sang mục sau.
Lễ nhập đạo: áo sudreh và dây kusti
Người Parsi gọi lễ nhập đạo là Navjote, người Iran gọi là Sedreh-pushi, làm cho trẻ em thường từ bảy tới mười lăm tuổi tùy cộng đồng. Đứa trẻ tắm gội thanh tịnh, mặc chiếc áo lót trắng mỏng gọi là sudreh, rồi được tư tế thắt quanh bụng sợi dây kusti và đọc lời cam kết. Áo sudreh có một túi nhỏ ở cổ, được giải thích là túi đựng việc thiện. Dây kusti dệt từ bảy mươi hai sợi len cừu, ứng với bảy mươi hai chương Yasna, quấn ba vòng ứng với ba điều thiện. Tín đồ tháo ra thắt lại kusti nhiều lần trong ngày kèm lời cầu ngắn, và mặc sudreh cùng kusti suốt đời.
Năm thời, thanh tịnh và giới tư tế
Một ngày chia năm thời gọi là gah: Havan từ bình minh tới trưa, Rapithwin từ trưa tới quãng ba giờ chiều, Uzerin tới lúc mặt trời lặn, Aiwisruthrem tới nửa đêm, Ushahin tới rạng sáng. Luật thanh tịnh có nhiều bậc, từ padyab rửa mặt tay chân trước khi cầu nguyện, nahn tắm gội trước các dịp lớn, tới bareshnum kéo dài chín đêm mà tư tế phải qua trước khi làm lễ bên trong đền.
Giới tư tế theo truyền thống là cha truyền con nối. Người qua lễ thụ phong đầu tiên gọi là ervad, mobed là tư tế nói chung, dastur là vị tư tế cao cấp đứng đầu một đền lớn hoặc một cộng đồng. Ở một số cộng đồng hải ngoại, việc mở vai trò trong lễ cho người ngoài gia đình tư tế và cho phụ nữ đang được bàn.
Lễ Yasna và lễ Jashan
Lễ quan trọng nhất về giáo lý là Yasna, do hai tư tế cử hành trong một khu đã thanh tịnh của đền: đọc trọn bảy mươi hai chương Yasna, giã cành haoma làm nước dâng, cầm bó barsom, xưa là cành cây, nay thường là que kim loại. Lễ người thường gặp nhiều nhất là Jashan, lễ tạ ơn và cầu phúc trong các dịp vui buồn của gia đình và cộng đồng, tư tế ngồi quanh lư lửa, bày hoa quả, sữa, nước, đọc các bài Afrinagan.
Ba bộ lịch
Lịch Bái Hỏa có mười hai tháng ba mươi ngày cộng năm ngày Gatha cuối năm, mỗi ngày và mỗi tháng mang tên một Amesha Spenta hoặc một yazata. Lịch cổ không có ngày nhuận nên cứ bốn năm trôi đi một ngày so với mùa. Vì thế người Parsi chia theo ba bộ lịch: Shahenshahi của đa số, Kadmi được một nhóm ở Surat theo từ năm 1745 và lệch lịch kia một tháng, và Fasli ra đời đầu thế kỷ 20, thêm ngày nhuận để gắn Tết vào ngày xuân phân. Hệ quả là Tết của phần đông người Parsi theo lịch Shahenshahi hiện rơi vào tháng Tám dương lịch.
Nowruz, Gahambar và Muktad
Nowruz, tiếng Ba Tư viết نوروز, nghĩa là ngày mới. Ngoài Tết theo lịch của từng nhóm, nhiều người Parsi giữ thêm Jamshedi Navroz vào ngày xuân phân quãng 21 tháng Ba. Khordad Sal mừng ngày sinh của Zarathustra theo truyền thống. Ở Iran còn có Sadeh, lễ đốt lửa lớn giữa mùa đông. Sáu lễ mùa Gahambar, mỗi lễ năm ngày, là dịp cả cộng đồng ăn chung, mỗi lễ ứng với một tạo vật. Cuối năm là mười ngày Muktad, các gia đình bày hoa, đọc kinh, đón fravashi tổ tiên về thăm.
Ứng với bầu trời.
Ứng với nước.
Ứng với đất.
Ứng với cây cỏ.
Ứng với gia súc.
Ứng với con người, rơi vào năm ngày Gatha và nối với mười ngày Muktad.
IXTháp Im Lặng Và Nghi Thức Tang
Tục tang là phần gây ngạc nhiên nhất với người ngoài và cũng cần viết cẩn trọng nhất. Tên tháp im lặng dịch từ tên tiếng Anh Tower of Silence, mà nhiều sách tham khảo ghi là do một người phiên dịch cho chính quyền Anh ở Bombay đặt năm 1832. Tên trong đạo là dakhma, tiếng Ba Tư viết دخمه.
Đạo dạy rằng cái chết là việc của Angra Mainyu. Khi con người chết, thân xác bị lực ô uế nasu chiếm lấy, và nếu chạm vào đất, nước hay lửa thì sẽ làm ô uế các tạo vật tốt ấy. Vì thế xác người không chôn xuống đất, không thả xuống nước, không thiêu bằng lửa, mà đặt nơi cao dưới ánh mặt trời cho chim và nắng xử lý, tới khi chỉ còn xương khô.
Người mất được tắm rửa, mặc sudreh và thắt kusti. Tư tế đọc kinh bên cạnh, một con chó được dẫn tới nhìn người mất, nghi thức gọi là sagdid, vì theo truyền thống cái nhìn của chó xua được nasu. Người khiêng chuyên trách gọi là nasasalar đi theo cặp, đoàn đưa tiễn cũng đi theo cặp, và từ cổng tháp vào chỉ người khiêng được đi tiếp. Gia đình đọc kinh ba ngày, rạng sáng ngày thứ tư làm lễ Chaharom, đúng lúc linh hồn tới cầu Chinvat. Tháp là khối tường tròn trên chỗ cao, mặt sàn chia ba vòng cho đàn ông, phụ nữ và trẻ em, giữa là hố gom xương, nước mưa chảy qua lớp lọc cát và than trước khi thấm ra ngoài.
Herodotus ghi rằng các tư tế Magi để xác cho chim hoặc chó xé trước khi chôn, còn người Ba Tư nói chung bọc sáp rồi chôn, và không nhắc tới tháp. Các vua Achaemenid được đặt trong lăng khoét vào vách đá. Giới nghiên cứu vì thế cho rằng tục tang đã thay đổi qua nhiều thời, và tháp đá như hôm nay là hình thức muộn hơn thời cổ đại.
Những thay đổi thời gần đây
Ở Iran, từ đầu thế kỷ 20, cộng đồng dần bỏ tháp để chôn trong huyệt lát xi măng, để thân xác vẫn không chạm đất trực tiếp, và các tháp cũ ở Yazd, Kerman nay chỉ còn là di tích. Ở Ấn Độ tháp vẫn được dùng, nhưng số kền kền giảm hơn chín mươi bảy phần trăm tới năm 2008, chủ yếu vì chim ăn xác gia súc đã dùng thuốc thú y diclofenac từ thập niên 1990. Cộng đồng thử đặt gương hội tụ nắng trên tháp, và một phần người Parsi nay chọn hỏa táng hoặc chôn cất. Đây là cuộc bàn luận đang diễn ra ngay trong cộng đồng.
Người ngoài dễ nghĩ đó là cách đối xử lạnh lùng với người đã khuất. Trong khung nghĩ của đạo thì ngược lại: đó là cách giữ đất, nước và lửa khỏi ô uế, đi kèm nhiều ngày kinh cầu cho linh hồn. Trong cộng đồng Parsi còn có một cách giải thích quen thuộc, rằng để thân mình nuôi chim trời là việc bố thí cuối cùng của một đời người.
XParsi, Irani Và Đường Lan Tỏa
Đạo sống tiếp qua hai cộng đồng mang hai lịch sử khác nhau. Một là những người ở lại Iran sau khi đất nước dần chuyển sang Hồi Giáo, tập trung ở Yazd và Kerman rìa sa mạc miền trung. Hai là những người sang miền tây Ấn Độ, gọi là Parsi, tức người xứ Pars, tiếng Gujarati viết પારસી.
Nguồn chính kể việc người Parsi tới Ấn Độ là Qissa-i Sanjan, trường ca tiếng Ba Tư do tư tế Bahman Kaikobad viết năm 1599, nhiều thế kỷ sau sự kiện. Theo văn bản, một nhóm tín đồ rời Khorasan, dừng trên đảo Diu mười chín năm rồi tới bờ Gujarat. Vị vua địa phương, chép là Jadi Rana, cho họ ở lại với bốn điều kiện: dùng tiếng địa phương, phụ nữ mặc y phục địa phương, không mang vũ khí, làm lễ cưới vào buổi tối. Năm cập bờ có ba đề xuất là 716, 785 và 936, vì văn bản chỉ cho các khoảng thời gian tròn. Cộng đồng nhìn chung nhận văn bản là đúng, giới nghiên cứu coi nó là tư liệu quý về cách người Parsi nhớ về mình nhưng xử lý chi tiết như truyền thuyết. Chứng cứ độc lập sớm nhất là bộ tấm đồng Kollam năm 849 có chữ ký Pahlavi, và các dòng chữ Pahlavi ở hang Kanheri gần Mumbai quãng cuối thế kỷ 10 đầu thế kỷ 11.
Câu chuyện vị vua gửi bát sữa đầy để nói đất đã chật, và vị tư tế thả vào một nhúm đường để nói người mới tới sẽ hòa vào mà làm ngọt thêm, không có trong Qissa-i Sanjan. Đó là truyền thuyết lưu truyền về sau, nói nhiều về cách người Parsi tự hiểu chỗ đứng của mình, nhưng không nên dẫn như sử liệu.
Người Parsi và người Irani
Nhiều thế kỷ, người Parsi sống ở các thị trấn ven biển Gujarat như Sanjan, Navsari, Surat, nói tiếng Gujarati như tiếng mẹ đẻ, và liên tục gửi thư sang Iran hỏi về luật và lễ. Từ thế kỷ 17 và 18, nhiều gia đình dời tới Bombay, nay là Mumbai, thành trung tâm lớn nhất của cộng đồng. Người Parsi có mặt đông trong thương mại, đóng tàu, giáo dục và y khoa, và lập nhiều bệnh viện, trường học, khu nhà ở từ các quỹ từ thiện, một nếp mà chính họ coi là cách sống theo ba điều thiện.
Cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, một lớp tín đồ nữa từ Yazd và Kerman sang Ấn Độ, gọi là Irani để phân biệt với người Parsi tới trước cả nghìn năm. Hai nhóm cùng đạo, cùng đền, nhưng khác tiếng nói, một phần tập quán và lịch. Năm 1854, ông Manekji Limji Hataria được một quỹ của người Parsi ở Bombay cử sang giúp cộng đồng ở Iran mở trường và sửa đền, nối lại liên hệ giữa hai nhánh.
Sang Trung Hoa, và ra hải ngoại
Theo con đường tơ lụa, chủ yếu qua thương nhân người Sogdia, đạo từng tới Trung Hoa. Sách Hán thời Đường gọi đạo là 祆教, âm Hán Việt Hiên Giáo, và ở Trường An, Lạc Dương từng có đền của đạo. Từ giữa thế kỷ 9, cùng các đạo ngoại lai khác, Hiên Giáo mất chỗ đứng ở Trung Hoa.
Từ thế kỷ 19, người Parsi theo đường buôn tới Aden, Hồng Kông, Thượng Hải, Singapore. Người Parsi đầu tiên được ghi nhận ở Singapore là năm 1827, và hội cộng đồng ở đó lập năm 1954, nay có hơn hai trăm năm mươi hội viên. Nửa sau thế kỷ 20, người Parsi lẫn người Bái Hỏa từ Iran di cư đông sang Bắc Mỹ, Anh và Úc, và ở hải ngoại hai nhánh thường chung đền, chung hội.
XICác Nhóm Trong Đạo Và Cách Tổ Chức
Đạo không chia thành các giáo phái tách hẳn nhau. Chỗ phân nhóm chạy theo nhiều trục cắt ngang: lịch sử di cư, bộ lịch, cách đọc kinh, và quan điểm về việc nhận người mới. Một người Parsi ở Mumbai có thể cùng lúc theo lịch Shahenshahi, theo lối truyền thống trong lễ, và cởi mở về chuyện hôn nhân.
| Trục phân nhóm | Các nhóm | Khác nhau ở đâu |
|---|---|---|
| Theo lịch sử cộng đồng | Parsi, Irani, người Bái Hỏa ở Iran | Thời điểm rời Iran, tiếng nói, một số tập quán trong lễ |
| Theo bộ lịch | Shahenshahi, Kadmi, Fasli | Ngày Tết và ngày lễ lệch nhau |
| Theo cách đọc kinh | Truyền thống, cải cách, Ilm-e Khshnoom | Coi trọng toàn bộ nghi lễ, hay nhấn vào Gathas và đạo đức, hay đọc kinh theo lối huyền học |
| Theo việc nhận người mới | Không nhận, nhận có điều kiện, nhận rộng | Ai được coi là tín đồ và ai được dự lễ trong đền |
| Trong lịch sử | Khuynh hướng Zurvan thời Sasanid | Nay không còn người theo |
Truyền thống, cải cách và chuyện nhận người mới
Từ giữa thế kỷ 19, sau khi Martin Haug nêu rằng Gathas là lời của chính Zarathustra, trong người Parsi hình thành dòng cải cách, lấy Gathas làm chuẩn và coi một phần luật Vendidad cùng nhiều nghi lễ là lớp phụ về sau. Dòng truyền thống coi toàn bộ Avesta và hệ nghi lễ là một khối không tách được. Đầu thế kỷ 20 xuất hiện Ilm-e Khshnoom do ông Behramshah Shroff khởi xướng ở Bombay, đọc kinh theo lối huyền học và giữ nghi lễ còn chặt hơn dòng truyền thống.
Chuyện nhận người mới là chỗ bàn cãi sôi nổi nhất, và thư viện chỉ ghi các quan điểm. Theo quan niệm truyền thống của người Parsi, một người là Parsi khi có cha là Parsi và đã qua lễ Navjote, và đạo không nhận người cải đạo. Một số hội hải ngoại, nhất là ở Bắc Mỹ, cởi mở hơn. Bên này nhấn vào việc giữ một cộng đồng đã giữ đạo hơn một nghìn năm, bên kia nhấn vào việc Gathas nói với tất cả mọi người.
Không có giáo hội trung ương
Đạo không có một vị đứng đầu chung và không có cơ quan ra quyết định cho mọi tín đồ. Mỗi đền lớn có vị dastur riêng. Việc chung do các hội đồng địa phương lo, người Parsi gọi là anjuman hoặc panchayat, trong đó Parsi Panchayat ở Bombay là tổ chức lâu đời và lớn nhất, quản lý nhiều quỹ từ thiện, khu nhà ở và khu tháp im lặng ở Mumbai. Ở Bắc Mỹ có Liên đoàn các Hội Bái Hỏa Giáo Bắc Mỹ, lập năm 1987.
XIISố Tín Đồ Ngày Nay
Nguồn tổng hợp được dẫn nhiều nhất là khảo sát nhân khẩu của Liên đoàn các Hội Bái Hỏa Giáo Bắc Mỹ, do bà Roshan Rivetna tổng hợp, đăng trên FEZANA Journal năm 2013 với số liệu năm 2012: toàn cầu 111.691 hoặc 121.962 người, tùy lấy số nào cho Iran. Chính người tổng hợp ghi rằng đây là khảo sát kiểu tạp chí dựa trên số của các điều phối viên, không phải điều tra thống kê chuẩn. Pew Research Center không đếm riêng đạo này mà gộp vào nhóm các tôn giáo khác.
| Nơi | Số tín đồ | Nguồn và năm |
|---|---|---|
| Toàn cầu | 111.691 hoặc 121.962 | Khảo sát FEZANA, số liệu năm 2012 |
| Ấn Độ | 57.264 | Điều tra dân số Ấn Độ năm 2011, so với 69.601 năm 2001 |
| Ấn Độ | Khoảng 61.000 | Khảo sát FEZANA, số liệu năm 2012 |
| Iran | 23.109 | Tổng điều tra dân số Iran năm 2016 |
| Iran | 15.000 hoặc 25.271 | Khảo sát FEZANA năm 2012, hai con số do hai cách lấy nguồn |
| Hoa Kỳ | Khoảng 14.400 | Khảo sát FEZANA, số liệu năm 2012 |
| Canada | 7.285 | Điều tra dân số Canada năm 2021, khảo sát FEZANA năm 2012 ghi 6.442 |
| Anh | Khoảng 5.500 | Khảo sát FEZANA, số liệu năm 2012 |
| Úc | Khoảng 2.600 | Khảo sát FEZANA, số liệu năm 2012 |
| Pakistan | 2.348 | Điều tra dân số Pakistan năm 2023, khảo sát FEZANA năm 2012 ghi 1.675 |
Hai chỗ vênh cần ghi thẳng. Với Ấn Độ, điều tra dân số năm 2011 đếm 57.264 người Parsi, khảo sát FEZANA năm 2012 ghi quãng 61.000. Với Iran, FEZANA đưa hai con số cách nhau hơn mười nghìn, còn điều tra dân số năm 2016 ghi 23.109. Mọi nguồn đều cho thấy số người Parsi ở Ấn Độ giảm qua các cuộc điều tra, từ 91.266 năm 1971 xuống 69.601 năm 2001 rồi 57.264 năm 2011, trong khi số tín đồ ở hải ngoại tăng.
Vì sao mọi con số đều là ước tính
Phép đếm gặp bốn chỗ khó. Thứ nhất, cộng đồng quá nhỏ để các khảo sát mẫu toàn cầu tách riêng được. Thứ hai, nhiều nước không hỏi tôn giáo trong điều tra dân số, nên con số cho Hoa Kỳ hay Anh chỉ lấy được từ danh sách hội viên, và ai không vào hội thì không được đếm. Thứ ba, ai được coi là tín đồ khác nhau tùy nơi: theo quan niệm truyền thống của người Parsi thì người cải đạo không được tính, trong khi một số hội hải ngoại lại tính. Thứ tư, tự nhận và thuộc về cộng đồng là hai chuyện. Một số khảo sát trực tuyến với người trả lời tự chọn tham gia cho ra tỷ lệ tự nhận gắn bó với đạo cao hơn hẳn số điều tra dân số, và nhà nghiên cứu Michael Stausberg, trong một bài đăng năm 2023, lưu ý rằng các số ấy phản ánh sự tự nhận chứ không phải số người thuộc cộng đồng tín đồ.
XIIITại Việt Nam Và Cái Tên Bái Hỏa
Xin nói thẳng: Bái Hỏa Giáo không có mặt tổ chức tại Việt Nam. Đạo không có tên trong danh sách các tôn giáo được công nhận hoặc được cấp đăng ký hoạt động kèm Công văn 6955/BNV-TGCP ngày 28 tháng 12 năm 2020 của Bộ Nội vụ. Thư viện cũng không tìm thấy nguồn đáng tin nào ghi nhận một cộng đồng tín đồ, một đền lửa hay một hội đoàn của đạo trên đất Việt Nam, kể cả thời thuộc địa khi người Ấn tới Sài Gòn làm ăn. Vì thế trang này không ghi con số tín đồ nào cho Việt Nam.
Cái tên đi vào tiếng Việt
Tên gọi đi qua đường chữ Hán. Sách Hán thời Đường gọi đạo là 祆教, âm Hán Việt Hiên Giáo, và từ điển Hán Việt của Trần Văn Chánh giải chữ này là Bái Hỏa Giáo, đạo thờ thần lửa của Ba Tư xưa. Tên 拜火教, Bái Hỏa Giáo, là tên tả theo cái người ngoài nhìn thấy, nghĩa đen là đạo lạy lửa, và vì dễ hiểu nên thành tên phổ biến nhất trong sách tiếng Việt. Thư viện giữ tên này vì đó là tên người đọc tra nhiều nhất, nhưng xin nói rõ nó gây hiểu lầm. Gọi theo cách tín đồ tự gọi thì đúng hơn là đạo thờ Mazda.
Người Việt có thể gặp đạo này ở đâu
Nơi gần nhất có cộng đồng đang hoạt động là Singapore, với người Parsi có mặt từ năm 1827. Xa hơn là Mumbai và các thị trấn Gujarat, nơi có tám trong chín đền Atash Behram của thế giới. Cần nhớ quy tắc của cộng đồng ở Ấn Độ: người không theo đạo không được vào những gian có ngọn lửa thiêng, nên du khách thường chỉ nhìn đền từ bên ngoài.
XIVTrong Con Mắt Phong Thủy
Xin nói trước điều quan trọng nhất. Mục này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền Việt Nam, không phải điều Bái Hỏa Giáo dạy. Đạo này không biết tới phong thủy Trung Hoa, không chọn đất theo long mạch, không tính hướng theo tuổi người dựng. Đạo có quy tắc riêng về hướng cầu nguyện, về gian giữ lửa và về chỗ đặt tháp, và mục này trình bày các quy tắc ấy trước, rồi mới tới phần kiến giải.
Hướng theo ánh sáng, không theo địa bàn
Khác với thánh đường Hồi Giáo quay về Mecca hay nhà thờ Công Giáo xưa quay về hướng đông, tín đồ Bái Hỏa không có một hướng địa lý bắt buộc. Quy tắc là cầu nguyện hướng về một nguồn sáng: buổi sáng quay về mặt trời phía đông, buổi chiều về phía tây, ban đêm về mặt trăng, ngọn đèn hay ngọn lửa. Trong đền, hướng của người cầu nguyện do vị trí gian lửa quyết định. Gian lửa ở các đền Parsi thường nằm sâu bên trong, tường dày, không để nắng rọi thẳng, có lỗ thông khói ở trên. Tháp dakhma đặt trên chỗ cao, xa nơi ở và xa nguồn nước như Vendidad quy định. Cả ba quy tắc đi ra từ giáo nghĩa thanh tịnh, không từ một phép xem đất.
Lửa trong ngũ hành và lửa của Bái Hỏa
Người quen phong thủy sẽ nghĩ ngay tới hành Hỏa. Trong ngũ hành, Hỏa là một trong năm pha của khí, đứng trong vòng sinh khắc: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thủy khắc Hỏa. Không pha nào cao hơn pha nào, và cái hay của một thế đất là sự cân bằng. Trong Bái Hỏa Giáo, lửa không đứng trong vòng nào. Nó là tạo vật thanh khiết gắn với chân lý, được giữ để không bao giờ tắt và không bao giờ bị ô uế. Chỗ gần nhau nằm ở đời thường: người Việt xưa giữ lửa bếp, kiêng làm ô uế bếp, thắp đèn trên bàn thờ, còn người Parsi giữ đèn divo ở góc thờ và coi bếp lửa gia đình là ngọn lửa đáng giữ sạch.
Âm trạch: hai lối nghĩ ngược chiều
Chỗ đối chiếu rõ nhất là việc đặt người chết. Phong thủy âm trạch của người Việt tìm cho người mất một huyệt đất tàng phong tụ thủy, để thân cốt nằm yên trong đất nhận khí lành, và theo quan niệm cổ truyền thì khí ấy phúc ấm tới con cháu. Bái Hỏa Giáo đi đúng chiều ngược lại: thân xác phải được giữ không chạm vào đất, đặt trên mặt sàn lộ thiên dưới nắng chứ không trong huyệt kín gió. Hai truyền thống cùng coi quan hệ giữa người chết với đất là hệ trọng, cùng chọn chỗ đặt rất kỹ, cùng có lễ cầu nhiều ngày sau đó, nhưng đi tới hai kết luận trái ngược. Hai hệ quy tắc có thể cùng nghiêm cẩn mà không dịch được sang nhau.
Phân định ba lớp
Lớp thứ nhất, điều đạo dạy. Cầu nguyện hướng về nguồn sáng, giữ lửa thanh tịnh, đặt tháp nơi cao xa nước và nơi ở. Không có điều khoản nào về long mạch hay tuổi người dựng. Lớp thứ hai, điều người thợ làm theo khí hậu. Đền và nhà của người Bái Hỏa ở Yazd xây gạch bùn, tường dày, có tháp đón gió làm mát, vì đó là cách sống ở rìa sa mạc, còn đền Parsi ở Mumbai mang nét kiến trúc thuộc địa và Gujarat. Lớp thứ ba, kiến giải của thư viện. Tháp dakhma trên đồi cao, có núi làm lưng, xa khu dân cư, nhìn theo lối cổ truyền là chỗ cao ráo thoáng khí. Nhưng chỗ giống ấy là trùng hợp của hai cách nghĩ cùng quan sát đất và nước, không phải giáo huấn của đạo.
Nếu quý vị là tín đồ Bái Hỏa, trang này không khuyên quý vị xem phong thủy, và thẩm quyền đúng để hỏi về hướng lễ là vị tư tế của cộng đồng mình. Nếu quý vị thấy một nét quen thuộc trong cách đặt một đền lửa hay một tháp im lặng, thì cái quý vị đang thấy là một luật thanh tịnh gặp một vùng đất, không phải người Bái Hỏa xem hướng.
XVNhững Chỗ Hay Hiểu Lầm
Phần cuối gom những câu thư viện hay gặp nhất khi người ngoài hỏi về Bái Hỏa Giáo. Chỗ trượt lớn nhất đến từ chính cái tên tiếng Việt, rồi tới việc nhầm đạo này với Minh Giáo, nhầm một biểu tượng có tranh cãi với hình Thượng Đế, nhầm một nhân vật văn học với vị khai đạo, và kết luận quá nhanh về ảnh hưởng của đạo lên các đạo sau.
Không, theo cách tín đồ tự hiểu. Cái tên Bái Hỏa là tên người ngoài đặt theo cái họ nhìn thấy. Tín đồ tự gọi là người thờ Mazda. Họ tôn kính lửa dưới danh hiệu Atar và cầu nguyện trước lửa, nhưng đối tượng thờ phụng là Ahura Mazda, còn lửa là biểu tượng của chân lý và chỗ hướng lòng.
Không chắc, và giới học giả chưa thống nhất: có người hiểu là Ahura Mazda, có người là fravashi, có người là ánh hào quang thiêng khvarenah. Người Parsi ngày nay phần đông hiểu là fravashi. Thư viện không dùng Faravahar làm ấn ký dù đó là biểu tượng quốc tế của đạo, vì hình có dạng người mà thư viện có luật không tạo hình người. Ấn ký của trang là lư lửa thiêng, biểu tượng trung tâm thật sự của đạo.
Không. Minh Giáo là tên chữ Hán của đạo Mani, do ông Mani lập ở Ba Tư thế kỷ 3, sống quãng 216 tới 274 hoặc 277. Đạo Mani vay ý niệm ánh sáng và bóng tối của Bái Hỏa Giáo, nhưng cũng vay của Kitô Giáo và Phật Giáo, và là một đạo riêng. Trong tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung, Minh Giáo được tả là từ Ba Tư sang và tôn lửa thánh, nên nhiều người đọc gộp hai đạo làm một.
Chỉ trùng tên. Cuốn Also sprach Zarathustra, tiếng Việt thường dịch là Zarathustra đã nói như thế, được Friedrich Nietzsche viết từ năm 1883 tới năm 1885. Nhân vật trong sách là hình tượng văn học mượn tên để nói tư tưởng riêng của Nietzsche, nhiều chỗ trái với giáo nghĩa Bái Hỏa.
Không riêng. Nowruz có gốc từ Iran cổ và được lịch Bái Hỏa giữ làm ngày đầu năm, nhưng ngày nay là Tết chung của nhiều dân tộc thuộc nhiều đạo ở Iran, Trung Á, Kavkaz và Nam Á. Năm 2009 UNESCO ghi Nowruz vào danh sách di sản phi vật thể như di sản chung của nhiều nước.
Đây là cuộc tranh luận học thuật chưa ngã ngũ. Mary Boyce và nhiều học giả cho rằng các ý niệm về thiên thần, phán xét cá nhân, sống lại và ngày tận cùng trong Do Thái Giáo thời sau, Kitô Giáo và Hồi Giáo chịu ảnh hưởng từ Bái Hỏa Giáo. Phía dè dặt lưu ý rằng phần lớn chi tiết ấy chỉ được ghi trong sách Pahlavi thế kỷ 9 và 10, muộn hơn Kinh Thánh, nên khó biết chiều ảnh hưởng. Điều chắc là các Magi trong Phúc Âm Matthew là tư tế gốc Iran.
Không. Người Parsi là một cộng đồng tín đồ Bái Hỏa, hậu duệ của những người từ Iran sang Gujarat hơn một nghìn năm trước, và là cộng đồng tín đồ đông nhất thế giới. Người Irani là lớp tới Ấn Độ muộn hơn, còn người Bái Hỏa ở Iran là nhánh ở lại. Ba nhóm cùng một đạo, cùng kinh Avesta và cùng đền lửa.
?Hỏi Đáp Nhanh
Bái Hỏa Giáo là gì?
Bái Hỏa Giáo là tên tiếng Việt của Zoroastrianism, một đạo khởi từ lời giảng của Zarathustra ở miền đông cao nguyên Iran cổ. Đạo tôn thờ Ahura Mazda, đấng Chúa Minh Triết, dạy rằng mỗi người phải tự chọn đi theo chân lý thay vì dối trá, gói trong ba điều nghĩ tốt, nói tốt, làm tốt. Kinh của đạo là Avesta, trong đó các bài Gathas được coi là lời của chính Zarathustra. Đạo từng gắn với các triều đại Ba Tư cổ, ngày nay sống tiếp qua cộng đồng Parsi ở Ấn Độ, cộng đồng tín đồ ở Iran và các cộng đồng hải ngoại.
Bái Hỏa Giáo có thờ lửa không?
Tín đồ tôn kính lửa nhưng không thờ lửa như vị thần tối cao. Theo giáo nghĩa, lửa là tạo vật thanh khiết nhất, là biểu tượng của chân lý, và tín đồ cầu nguyện hướng về một nguồn sáng như mặt trời, ngọn đèn hay ngọn lửa trong đền. Đối tượng thờ phụng là Ahura Mazda. Cái tên Bái Hỏa, tức lạy lửa, là tên người ngoài đặt theo cái họ nhìn thấy, còn tín đồ tự gọi mình là người thờ Mazda. Vì thế cái tên tiếng Việt dễ gây hiểu lầm.
Zarathustra sống vào năm nào?
Không ai biết chắc, và các giả thuyết chênh nhau tới cả nghìn năm. Mary Boyce đặt ông quãng 1500 tới 1000 trước Công nguyên, dựa vào độ gần giữa tiếng Avesta cổ và tiếng Rigveda. Nhiều học giả khác như Jean Kellens và William Malandra nghiêng về quãng năm 1000 trước Công nguyên. Truyền thống muộn của đạo tính ra thế kỷ 6 trước Công nguyên, và cặp năm 628 tới 551 hay gặp trong sách phổ thông đi ra từ cách tính ấy, nhưng phần lớn giới nghiên cứu hôm nay không nhận nó.
Người Parsi là ai?
Người Parsi là cộng đồng tín đồ Bái Hỏa Giáo ở Ấn Độ, hậu duệ của những người từ Iran sang bờ Gujarat hơn một nghìn năm trước. Năm họ tới vênh nhau giữa 716, 785 và 936 tùy cách tính theo văn bản Qissa-i Sanjan viết năm 1599. Họ nói tiếng Gujarati, tập trung đông nhất ở Mumbai, và giữ tám trong chín đền lửa bậc cao nhất thế giới. Theo điều tra dân số Ấn Độ năm 2011, cộng đồng có 57.264 người.
Tháp im lặng là gì?
Tháp im lặng, tiếng Ba Tư gọi là dakhma, là công trình tròn dựng trên chỗ cao, nơi tín đồ Bái Hỏa đặt thi hài người mất dưới nắng cho chim xử lý. Theo giáo nghĩa, xác người mang ô uế, và nếu chôn xuống đất, thả xuống nước hay thiêu bằng lửa thì sẽ làm ô uế các tạo vật tốt ấy. Ngày nay cộng đồng ở Iran đã chuyển sang chôn trong huyệt lát xi măng, còn ở Ấn Độ tháp vẫn được dùng nhưng gặp khó vì số kền kền giảm mạnh, và một phần người Parsi chọn cách khác.
Trên thế giới có bao nhiêu người theo Bái Hỏa Giáo?
Theo khảo sát nhân khẩu của Liên đoàn các Hội Bái Hỏa Giáo Bắc Mỹ với số liệu năm 2012, cả thế giới có 111.691 hoặc 121.962 tín đồ, tùy lấy số nào cho Iran. Đông nhất là Ấn Độ với 57.264 người theo điều tra dân số năm 2011, rồi tới Iran với 23.109 người theo điều tra dân số năm 2016, và Hoa Kỳ với quãng 14.400 người. Chính người tổng hợp khảo sát ghi rằng đây là ước tính, không phải một cuộc điều tra thống kê chuẩn.
Việt Nam có người theo Bái Hỏa Giáo không?
Bái Hỏa Giáo không có mặt tổ chức tại Việt Nam và không có tên trong danh sách các tôn giáo được công nhận hoặc cấp đăng ký hoạt động. Thư viện không tìm thấy nguồn đáng tin nào ghi nhận một cộng đồng tín đồ hay một đền lửa trên đất Việt Nam, nên không có con số tín đồ. Tên Bái Hỏa Giáo đi vào tiếng Việt qua chữ Hán. Cộng đồng gần Việt Nam nhất đang hoạt động là cộng đồng Parsi ở Singapore, có mặt từ năm 1827.