IĐọc Nhanh Trong Năm Câu
Do Thái Giáo là đạo của dân Do Thái, và là đạo lâu đời nhất còn sống trong nhóm ba đạo cùng truy nguồn về tổ phụ Abraham, hai đạo kia là Kitô Giáo và Hồi Giáo. Tên gốc trong tiếng Hebrew là יהדות, phiên âm Yahadut, rút từ tên Yehudah, tức Judah, vốn là tên một chi tộc rồi về sau là tên một vương quốc cổ. Chữ Do Thái trong tiếng Việt là âm Hán Việt của 猶太, lối người Trung Hoa phiên âm chính cái tên ấy.
Cả đạo xoay quanh một ý: một Thượng Đế duy nhất đã lập giao ước với một dân, và giao ước ấy được ghi thành Torah, vừa là kinh vừa là luật, mà người Do Thái chép tay, đọc to, tranh luận và sống theo suốt hơn hai nghìn năm. Đạo không có giáo hoàng, không có giáo hội trung ương, không đi tìm người theo. Chỗ đứng của nó là gia đình, bàn ăn, ngày nghỉ thứ Bảy, và hội đường, nơi người ta vừa cầu nguyện vừa học. Với phần đông người Việt, đây có lẽ là đạo xa lạ nhất trong Chính Điện, vì tại Việt Nam chỉ có chừng vài trăm người Do Thái.
Một, Do Thái Giáo không có người sáng lập theo nghĩa một người lập đạo. Theo giáo nghĩa, giao ước khởi từ Abraham và được hoàn tất khi Moshe, tức Moses, nhận Torah trên núi Sinai. Hai, kinh điển gồm hai tầng: Torah viết, nằm trong bộ Tanakh hai mươi bốn quyển, và Torah truyền khẩu, về sau được chép thành Mishnah và Talmud. Ba, đời sống đạo được điều chỉnh bởi halakha, tức hệ luật bao trùm từ bữa ăn theo luật kashrut tới ngày nghỉ Shabbat, từ lời cầu nguyện buổi sáng tới việc chôn cất người chết. Bốn, từ thế kỷ 18 và 19 đạo chia thành nhiều dòng, lớn nhất là Chính thống, Bảo thủ và Cải cách, còn Ashkenazi và Sephardi không phải là dòng mà là hai nhánh truyền thống theo đường tản cư, một nhánh qua Trung Âu và Đông Âu, một nhánh qua bán đảo Iberia. Năm, toàn thế giới có quãng mười lăm triệu người Do Thái, bằng chừng hai phần nghìn dân số loài người, và gần như toàn bộ sống ở mười nước.
Trang này gồm mười lăm mục và viết theo lối mô tả. Điều Do Thái Giáo dạy ghi trong hộp theo giáo nghĩa, điều sử học và khảo cổ khảo được ghi trong hộp theo sử liệu, đặt cạnh nhau để quý vị tự đối chiếu. Chỗ nào hai nguồn ghi khác nhau, như năm Đền Thờ thứ nhất bị phá, năm sinh của Maimonides hay số người Do Thái trên thế giới, thư viện ghi thẳng cả hai. Phần lịch sử kể tới hết thời trung đại, còn thời cận đại chỉ kể phần thuộc về tôn giáo. Thư viện không xét dòng nào đúng hơn dòng nào, không đặt đạo này cao hay thấp hơn đạo nào.
Ba đạo cùng truy về Abraham đều có trang riêng: Công Giáo, Tin Lành và Hồi Giáo. Trang này kể Do Thái Giáo theo cách chính đạo ấy tự hiểu mình, không đọc nó qua lăng kính của hai đạo kia.
IIXứ Canaan Và Một Dân Mang Giao Ước
Vùng đất sinh ra Do Thái Giáo là một dải hẹp ven bờ đông Địa Trung Hải, kẹp giữa Ai Cập và Lưỡng Hà, mà sách cổ gọi là xứ Canaan. Thế giới tôn giáo chung quanh là thế giới đa thần, với điện thần đông đúc và tượng thần đặt trong đền. Trên nền ấy, nét riêng của đạo này, theo cách chính đạo kể lại, là việc thờ một Thượng Đế duy nhất và không có tượng. Tới đâu thì đó là điều có từ đầu và tới đâu là kết quả của một quá trình dài, là chỗ giáo nghĩa và sử học kể khác nhau.
Văn bản ngoài Kinh Thánh sớm nhất nhắc tới cái tên Israel là tấm bia Merneptah của Ai Cập, quãng năm 1208 trước Công nguyên, ghi Israel như tên một dân. Tới thế kỷ 9 trước Công nguyên, vài bia chữ trong vùng đã nhắc tới hai vương quốc Israel và Judah. Các cuộc khai quật cho thấy trong nhiều thế kỷ, việc thờ vị thần riêng của Israel tồn tại song song với các tục thờ khác trong dân gian, và nhiều học giả cho rằng việc thờ độc một Thượng Đế chỉ thành chuẩn mực vững chắc quãng thế kỷ 7 tới 6 trước Công nguyên. Không ai cãi việc có một dân tên Israel ở vùng này từ cuối thiên niên kỷ 2 trước Công nguyên, còn niên biểu từng giai đoạn thì đang được tranh luận, và bản chất của mặc khải nằm ngoài tầm sử học.
Từ đạo của Đền Thờ tới đạo của các rabbi
Lịch sử tôn giáo thời cổ của đạo xoay quanh Đền Thờ tại Jerusalem, nơi duy nhất được dâng lễ vật. Theo giáo nghĩa, Đền Thờ thứ nhất do vua Solomon dựng. Nó bị phá khi Babylon chiếm Jerusalem, tầng lớp trên bị đưa sang Babylon, rồi vua Ba Tư Cyrus cho hồi hương và Đền Thờ thứ hai được dựng lại. Trong thời Đền Thờ thứ hai có nhiều nhóm cùng tồn tại: tư tế trông coi lễ vật, nhóm Pharisee chú trọng luật truyền khẩu, nhóm Sadducee chỉ nhận luật viết, các cộng đồng tu hành sống tách riêng.
Năm 70 sau Công nguyên, Đền Thờ thứ hai bị quân La Mã phá hủy và không được dựng lại. Không còn Đền Thờ thì không còn lễ vật, không còn vai trò của hàng tư tế, chỉ còn Torah và những người học Torah. Theo trình thuật truyền thống, rabbi Yohanan ben Zakkai lập một học viện tại Yavne, và từ đó đạo chuyển trục từ đền thờ sang sách, từ lễ vật sang lời cầu nguyện và việc học. Mọi dòng Do Thái Giáo ngày nay đều đi ra từ bước chuyển ấy.
IIIAbraham, Moshe Và Giao Ước Sinai
Do Thái Giáo không có người sáng lập, vì theo cách đạo tự hiểu thì người ta không lập ra giao ước mà nhận giao ước. Hai nhân vật đứng ở gốc là tổ phụ Abraham và vị ngôn sứ Moshe. Thư viện không mô tả diện mạo của hai vị, và ở đạo này luật ấy trùng với giáo nghĩa, vì điều răn thứ hai cấm làm tượng và hình để thờ.
Theo sách Sáng Thế, Thượng Đế gọi Abraham rời quê cha ở thành Ur xứ Lưỡng Hà để đi tới một vùng đất sẽ được chỉ cho, và hứa rằng dòng dõi ông sẽ thành một dân lớn. Giao ước được đánh dấu bằng phép cắt bì, và từ đó con cháu ông qua Isaac và Jacob, người còn được gọi là Israel, thành mười hai chi tộc. Theo sách Xuất Hành, hậu duệ của các chi tộc ấy sống làm nô lệ ở Ai Cập, rồi được Thượng Đế dẫn ra qua tay Moshe. Tại núi Sinai, cả dân nhận Torah, trong đó có Mười Điều Răn. Đạo tuyên xưng đây là một biến cố mà toàn dân chứng kiến, và rằng Moshe nhận cả phần luật viết lẫn phần giải thích truyền miệng. Moshe được xem là vị ngôn sứ lớn nhất, nhưng vẫn là con người, và đạo không thờ ông.
Ngoài văn bản của chính đạo này, chưa có tư liệu cổ nào nhắc tới Abraham hay Moshe như nhân vật lịch sử, và khảo cổ học chưa tìm được dấu vết trực tiếp của một cuộc di cư lớn từ Ai Cập qua sa mạc Sinai. Có học giả coi các trình thuật ấy là ký ức dân gian được soạn lại muộn, có người cho rằng chúng giữ lõi lịch sử của một nhóm nhỏ từng rời Ai Cập. Về Torah, phần đông học giả hiện đại cho rằng năm quyển đầu được hợp thành từ nhiều nguồn qua nhiều thế kỷ, còn truyền thống xem đó là lời Thượng Đế trao cho Moshe. Hai cách hiểu dựa trên hai loại căn cứ khác nhau, và thư viện không phân xử.
Moshe là cách đọc tiếng Hebrew, Moses là cách đọc qua tiếng Hy Lạp và Latinh, các bản Kinh Thánh tiếng Việt ghi Môisen hoặc Môi-se, còn Hồi Giáo gọi là Musa. Bốn cái tên chỉ một người. Trang này dùng lối gọi gần với cách người Do Thái tự gọi, không có ý rằng lối nào đúng hơn.
IVDòng Thời Gian Ba Nghìn Năm
Càng lùi xa thì biên độ niên đại càng rộng, và chỗ nào các nguồn ghi khác nhau thì thư viện ghi thẳng. Lịch Do Thái đếm năm từ thời điểm sáng thế theo cách tính của các rabbi, nên năm đang chạy lúc trang này được viết là năm 5787, bắt đầu từ tối ngày 11 tháng Chín năm 2026. Niên đại cổ đại lấy theo Britannica.
- Khoảng 1208 TCNBia MerneptahVăn bản Ai Cập sớm nhất nhắc tên Israel như tên một dân sống ở xứ Canaan.
- Thế kỷ 10 TCNĐền Thờ thứ nhất theo giáo nghĩaTheo sách Các Vua, vua Solomon dựng Đền Thờ tại Jerusalem. Khảo cổ chưa tìm được dấu vết trực tiếp của công trình này.
- 587 hoặc 586 TCNĐền Thờ thứ nhất bị phá, lưu đày BabylonHai năm đều gặp trong các sách nghiêm túc vì cách quy đổi niên biểu Babylon khác nhau. Thời lưu đày là lúc nhiều phần kinh văn được gom và soạn lại.
- 538 TCNChiếu chỉ của vua Ba Tư CyrusNgười Judah được phép hồi hương. Một bộ phận lớn ở lại, và cộng đồng Babylon về sau thành trung tâm học thuật lớn nhất của đạo.
- Khoảng 516 TCNĐền Thờ thứ hai hoàn thànhMở đầu thời Đền Thờ thứ hai kéo dài tới năm 70 sau Công nguyên. Một số nguồn ghi năm 515.
- Thế kỷ 3 TCNBản dịch Bảy Mươi tại AlexandriaTorah được dịch sang tiếng Hy Lạp cho cộng đồng Do Thái nói tiếng Hy Lạp ở Ai Cập. Bản dịch này về sau thành nền cho Cựu Ước của Kitô Giáo.
- 164 TCNĐền Thờ được cung hiến lạiSự kiện được tưởng nhớ bằng lễ Hanukkah tám ngày. Talmud kể thêm tích một bình dầu đủ cho một ngày mà cháy được tám ngày.
- 70Đền Thờ thứ hai bị phá hủyHết thời lễ vật và vai trò của hàng tư tế. Học viện Yavne của rabbi Yohanan ben Zakkai mở ra thời Do Thái Giáo theo lối các rabbi.
- Khoảng 200Mishnah được biên tậpRabbi Yehudah HaNasi gom luật truyền khẩu thành sáu phần, sáu mươi ba tiểu luận. Lần đầu tiên phần luật truyền khẩu có một văn bản chuẩn.
- Khoảng 400 và 500 tới 600Hai bộ TalmudTalmud Jerusalem soạn ở vùng Galilee quãng năm 400, Talmud Babylon hoàn chỉnh dần trong thế kỷ 6 và 7. Bộ Babylon thành chuẩn của học thuật Do Thái về sau.
- 1040 tới 1105RashiRabbi Shlomo Yitzhaki ở Troyes, nước Pháp, soạn lời chú giải cho Torah và Talmud mà tới nay vẫn in bên lề hầu hết các ấn bản.
- 1135 hoặc 1138 tới 1204MaimonidesRabbi Moshe ben Maimon, sinh ở Córdoba, mất ở Ai Cập. Năm sinh ghi khác nhau giữa các nguồn. Ông soạn bộ luật Mishneh Torah quãng năm 1180 và mười ba tín điều.
- 1492 và 1497Người Do Thái phải rời Tây Ban Nha rồi Bồ Đào NhaCộng đồng Sephardi tản ra Bắc Phi, đế quốc Ottoman, Ý và về sau Amsterdam.
- 1933 tới 1945Holocaust, tiếng Hebrew gọi là ShoahKhoảng sáu triệu người Do Thái châu Âu bị sát hại, theo Bảo tàng Tưởng niệm Holocaust Hoa Kỳ.
VĐường Tản Cư Và Hai Nhánh Ashkenazi, Sephardi
Đạo này không lan ra thế giới bằng truyền giáo mà bằng việc người Do Thái đi tới đâu thì mang đạo tới đó. Từ thời lưu đày Babylon đã có những cộng đồng sống ngoài vùng đất gốc, và tiếng Hy Lạp gọi hiện tượng ấy là diaspora, nghĩa là sự gieo rải. Mỗi cộng đồng giữ chung Torah, Talmud và khung luật, nhưng qua nhiều thế kỷ thì phát âm, giai điệu cầu nguyện, món ăn ngày lễ và tục lệ chia thành những nhánh riêng, gọi theo tên vùng đất trong tiếng Hebrew thời trung đại: אשכנז, phiên âm Ashkenaz, chỉ vùng sông Rhine, và ספרד, phiên âm Sepharad, chỉ bán đảo Iberia.
| Vùng | Thời điểm có cộng đồng | Nét riêng |
|---|---|---|
| Babylon, nay thuộc Iraq | Từ thế kỷ 6 TCN | Trung tâm học thuật lớn nhất suốt nhiều thế kỷ, nơi soạn Talmud Babylon |
| Vùng sông Rhine và Trung Âu | Từ thế kỷ 10 | Gốc của nhánh Ashkenazi, về sau dời sang Ba Lan và Litva, dùng tiếng Yiddish |
| Bán đảo Iberia | Từ thời La Mã, cực thịnh thế kỷ 10 tới 12 | Gốc của nhánh Sephardi, dùng tiếng Ladino |
| Bắc Phi, Trung Đông, Yemen, Ba Tư | Từ thời cổ đại | Các cộng đồng thường gọi chung là Mizrahi, nghĩa là phương đông, mỗi nơi giữ tục riêng |
| Khai Phong, Trung Hoa | Từ đời Tống, hội đường dựng năm 1163 | Người Hán gọi họ là giáo phái rút gân, vì tục không ăn gân đùi. Bia năm 1489 ghi lịch sử cộng đồng |
| Kerala và Mumbai, Ấn Độ | Từ thời trung đại hoặc sớm hơn | Người Do Thái Cochin ở bờ Malabar và người Bene Israel quanh Mumbai |
| Ethiopia | Không rõ, các giả thuyết khác nhau xa | Cộng đồng Beta Israel, giữ một truyền thống riêng không qua Talmud |
| Amsterdam và châu Mỹ | Từ cuối thế kỷ 16 và giữa thế kỷ 17 | Người Sephardi rời Iberia lập cộng đồng tại Amsterdam, rồi theo đường buôn sang châu Mỹ |
Ashkenazi và Sephardi khác nhau ở đâu
Hai nhánh tin cùng một điều, đọc cùng một Torah và giữ cùng một khung halakha. Cái khác nằm ở tục lệ và phong cách.
Hai nhánh đọc tiếng Hebrew theo hai lối khác nhau ở một số nguyên âm và phụ âm, và giai điệu tụng kinh cùng bộ kinh nguyện, gọi là nusach, cũng khác.
Người Sephardi theo bộ Shulchan Aruch của rabbi Yosef Karo. Người Ashkenazi theo cùng bộ ấy cộng phần chú của rabbi Moshe Isserles ghi các tục riêng.
Ngoài các thứ bột lên men mà ai cũng kiêng, người Ashkenazi theo tục kiêng thêm gạo, các loại đậu và ngô, gọi chung là kitniyot. Phần đông người Sephardi không kiêng nhóm này.
Người Ashkenazi thường chỉ đặt tên con theo người thân đã khuất. Người Sephardi thường đặt tên theo ông bà còn sống, coi đó là một cách tôn vinh.
VITanakh, Torah Và Talmud
Chữ תורה, phiên âm Torah, nghĩa gốc là lời chỉ dạy, có hai nghĩa. Nghĩa hẹp là năm quyển đầu của bộ kinh, chép tay trên cuộn da đặt trong hội đường. Nghĩa rộng là toàn bộ giáo huấn của đạo, cả phần viết lẫn phần truyền khẩu và lời chú giải tích lại qua hai nghìn năm.
Do Thái Giáo theo lối các rabbi tuyên xưng rằng tại núi Sinai, Moshe nhận hai Torah. Torah viết là năm quyển được chép lại, còn Torah truyền khẩu là phần giải thích cách thực hiện, truyền từ thầy sang trò cho tới khi được chép thành Mishnah. Hai phần không tách được: Torah viết dặn không làm việc vào ngày Shabbat, nhưng việc gì là làm việc thì phải nhờ phần truyền khẩu mới biết.
Tanakh, hai mươi bốn quyển
Bộ kinh viết của người Do Thái gọi là תנ״ך, phiên âm Tanakh, chữ ghép từ phụ âm đầu của ba phần: Torah, tức năm quyển luật, נביאים, phiên âm Nevi'im, tức các sách ngôn sứ, và כתובים, phiên âm Ketuvim, tức các sách văn thơ và sử. Tổng cộng là 24 quyển, cùng nội dung với 39 quyển Cựu Ước của Tin Lành vì Tin Lành tách ra những quyển mà người Do Thái để chung. Cựu Ước của Công Giáo có 46 quyển, vì nhận thêm bảy quyển có trong bản dịch Hy Lạp.
Cuộn Torah trong hội đường được chép tay trên da bởi một người thợ chép gọi là sofer, và sai một chữ là cuộn ấy không được dùng tới khi sửa xong. Năm quyển chia thành 54 đoạn, đọc to mỗi tuần một đoạn vào ngày Shabbat, và vòng đọc khép lại rồi mở lại vào lễ Simchat Torah mỗi mùa thu.
| Văn bản | Nội dung | Niên đại hoàn thành | Vị trí trong đạo |
|---|---|---|---|
| Torah | Năm quyển Sáng Thế, Xuất Hành, Lêvi, Dân Số, Đệ Nhị Luật | Theo giáo nghĩa trao tại Sinai. Theo phần đông học giả hoàn chỉnh quãng thế kỷ 6 tới 5 TCN | Tầng cao nhất, đọc trong hội đường mỗi tuần |
| Nevi'im | 8 quyển, từ Joshua tới mười hai ngôn sứ nhỏ | Trước và trong thời Đền Thờ thứ hai | Đọc một đoạn sau phần Torah trong buổi lễ |
| Ketuvim | 11 quyển, trong đó có Thánh Vịnh, Châm Ngôn, Job, Ruth | Muộn nhất quãng thế kỷ 2 TCN | Một số quyển đọc trọn vào các ngày lễ riêng |
| Mishnah | Luật truyền khẩu, 6 phần, 63 tiểu luận, viết bằng tiếng Hebrew | Quãng năm 200 | Nền của Talmud |
| Talmud Babylon | Mishnah kèm Gemara bằng tiếng Aram, ấn bản Vilna 2.711 tờ | Thế kỷ 6 tới 7 | Trung tâm của việc học, chuẩn cho luật về sau |
| Mishneh Torah | Bộ luật hệ thống của Maimonides, 14 quyển | Quãng năm 1180 | Một trong hai bộ luật được tra cứu nhiều nhất |
| Shulchan Aruch | Bộ luật của rabbi Yosef Karo, kèm phần chú của rabbi Moshe Isserles | In năm 1565 | Chuẩn thực hành cho người Chính thống ngày nay |
Một trang Talmud trông như thế nào
Ở giữa một trang Talmud là một đoạn Mishnah ngắn, tiếp theo là phần גמרא, phiên âm Gemara, ghi các cuộc tranh luận của các rabbi qua nhiều thế hệ: một câu hỏi, các ý kiến trái chiều, dẫn chứng, phản bác, và không ít lần kết thúc mà không có kết luận. Bao quanh là lời chú của Rashi ở một bên, của nhóm Tosafot ở bên kia, rồi các lời chú muộn hơn ở lề ngoài. Một trang là cuộc trò chuyện giữa những người sống cách nhau cả nghìn năm.
Lối trình bày ấy nói lên điều cốt lõi về đạo này: ý kiến thiểu số cũng được chép lại và giữ lại, và việc tranh luận nghiêm túc về luật được xem là một hành vi thờ phượng. Người học Talmud truyền thống ngồi theo cặp gọi là chavruta, đọc to và cãi nhau về từng dòng, nên phòng học Talmud xưa nay vốn ồn ào.
Văn bản tiếng Hebrew mà hội đường dùng ngày nay đi theo truyền thống Masorete, tức các học giả thế kỷ 7 tới 10 đã thêm dấu nguyên âm để cố định cách đọc. Hai bản chép tay đầy đủ cổ nhất là bản Aleppo quãng năm 930 và bản Leningrad, mà các nguồn ghi năm 1008 hoặc 1009. Các cuộn sách tìm thấy trong hang Qumran gần Biển Chết từ năm 1947 đem lại những bản chép cổ hơn tới cả nghìn năm, từ thế kỷ 3 trước Công nguyên tới thế kỷ 1 sau Công nguyên. So sánh cho thấy phần lớn văn bản đã rất ổn định, đồng thời thời ấy có nhiều dạng văn bản cùng lưu hành. Giả thuyết cũ về một hội nghị ở Yavne quãng năm 90 khép bộ kinh đã bị phần đông học giả bỏ, và nay người ta cho rằng việc khép bộ kinh diễn ra dần dần.
VIIGiáo Nghĩa Cốt Lõi
Người đi tìm một bản tín điều ngắn gọn của Do Thái Giáo sẽ thấy khó. Đạo này đặt nặng việc làm hơn việc tuyên xưng: câu hỏi thường gặp không phải là anh tin gì mà là anh giữ gì. Có một bản liệt kê tín điều nổi tiếng của Maimonides, nhưng chính bản ấy đã bị bàn cãi ngay từ thời trung đại. Mục này vì vậy đi theo các khái niệm chứ không theo một bảng tín điều, mỗi khái niệm một tiểu mục.
Một Thượng Đế, lời Shema
Câu kinh trung tâm của đạo lấy từ sách Đệ Nhị Luật, chương 6 câu 4, mở đầu bằng שמע ישראל, phiên âm Shema Yisrael, nghĩa là hãy nghe, hỡi Israel, rồi tuyên rằng Thượng Đế là một. Đạo dạy người Do Thái đọc câu này mỗi sáng và mỗi tối, dạy con đọc từ khi biết nói, và theo tục thì đó là câu cuối cùng một người nói trước khi qua đời. Thượng Đế là một, không chia ngôi, không có hình dạng, không nhập thể, là đấng tạo dựng vũ trụ và vẫn quan tâm tới việc của con người.
Tên của Thượng Đế trong Torah được viết bằng bốn phụ âm Hebrew, chuyển tự Latinh là YHWH. Từ thời Đền Thờ thứ hai, người Do Thái không đọc tên ấy lên. Khi gặp trong lúc đọc kinh, họ đọc thành Adonai, nghĩa là Chúa của tôi, còn trong trò chuyện thường ngày thì gọi là HaShem, nghĩa đen là cái Danh. Vì tôn trọng tục ấy, trang này không in bốn chữ gốc. Cũng vì tục ấy mà một số người Do Thái khi viết tiếng Anh ghi chữ God thiếu một chữ cái, để tờ giấy có tên Thượng Đế không bị vứt bỏ tùy tiện.
Giao ước và dân được chọn
ברית, phiên âm brit, nghĩa là giao ước, là khung xương của cả đạo. Theo giáo nghĩa, Thượng Đế lập giao ước với Noah cho cả loài người, rồi với Abraham và dòng dõi ông, và giao ước được làm trọn tại Sinai: Thượng Đế hứa gìn giữ, còn dân nhận giữ các điều răn. Đạo dùng cụm chữ dân được chọn để nói về quan hệ ấy, và theo cách các rabbi giải thích thì được chọn nghĩa là được giao thêm bổn phận, không phải được đặt cao hơn dân khác. Các văn bản rabbi dạy rằng người không phải Do Thái chỉ cần giữ bảy điều luật căn bản của con cháu Noah, như không thờ tượng, không giết người, không trộm cướp và lập tòa xét xử công bằng, là có phần trong đời sau. Vì vậy đạo không cho rằng người khác phải thành người Do Thái mới được cứu, và không đi truyền giáo.
Mitzvot, 613 điều răn
Đời sống đạo dựng trên מצוות, phiên âm mitzvot, số ít là mitzvah, nghĩa là điều răn. Theo truyền thống ghi trong Talmud, Torah chứa 613 điều răn, gồm 248 điều nên làm và 365 điều không được làm. Nhiều điều gắn với Đền Thờ hoặc hàng tư tế nên ngày nay không thực hiện được. Các điều răn trải trên mọi lĩnh vực, từ cầu nguyện và giữ ngày thánh tới trả lương đúng hạn, không nói xấu, đối đãi tử tế với khách lạ. Trong ngôn ngữ đời thường, chữ mitzvah còn chỉ một việc tốt nói chung.
Halakha, con đường
הלכה, phiên âm halakha, rút từ động từ đi, nên nghĩa gần là con đường để đi. Đây là toàn bộ hệ luật cho biết một điều răn được thực hiện cụ thể như thế nào. Halakha không đứng yên: mỗi thời, các rabbi trả lời các câu hỏi mới bằng những bức thư gọi là responsa, dựa trên Talmud và các bộ luật trước. Khi có điện, người ta phải hỏi bật công tắc có phải là nhóm lửa vào ngày Shabbat không. Khi có thang máy, người ta phải hỏi đi thang máy ngày Shabbat thế nào. Những câu hỏi ấy được trả lời bằng cùng một phương pháp mà các rabbi đã dùng từ thời Mishnah.
Cách các dòng nhìn halakha là chỗ khác nhau lớn nhất giữa họ. Dòng Chính thống xem halakha là ràng buộc và chỉ thay đổi trong khuôn khổ các nguyên tắc của chính nó. Dòng Bảo thủ cũng xem halakha là ràng buộc nhưng nhấn mạnh rằng nó đã luôn phát triển theo lịch sử. Dòng Cải cách xem halakha là nguồn hướng dẫn chứ không bắt buộc, và để cho lương tâm cá nhân quyết định.
Tự do chọn lựa và teshuvah
Đạo dạy rằng con người có tự do chọn giữa thiện và ác, và không có khái niệm tội tổ tông truyền lại như trong Kitô Giáo. Khi phạm lỗi, con đường sửa lại gọi là תשובה, phiên âm teshuvah, nghĩa đen là quay trở lại, gồm nhận ra lỗi, hối hận và quyết không tái phạm. Với lỗi đối với người khác, phải xin lỗi và đền bù cho chính người ấy trước, vì lễ Yom Kippur chỉ xóa những lỗi đối với Thượng Đế.
Tzedakah, công bằng chứ không phải bố thí
צדקה, phiên âm tzedakah, thường được dịch là bố thí, nhưng gốc chữ có nghĩa là công bằng. Đạo xem việc giúp người nghèo không phải là lòng tốt tùy ý mà là một bổn phận, như trả một món nợ công lý. Maimonides xếp tám bậc của việc cho, bậc thấp nhất là cho mà mặt nặng mày nhẹ, còn bậc cao nhất là giúp người khác tự đứng được bằng cách cho vay, cho việc làm hoặc góp vốn làm ăn, để người ấy không còn phải nhận nữa. Cụm chữ תיקון עולם, phiên âm tikkun olam, nghĩa là sửa sang thế gian, vốn có gốc trong kinh nguyện và trong Kabbalah, nay được nhiều người Do Thái dùng để nói về trách nhiệm xã hội nói chung.
Đấng Messiah và đời sau
משיח, phiên âm mashiach, nghĩa là người được xức dầu, là chữ gốc của chữ Messiah. Theo giáo nghĩa truyền thống, Messiah là một con người thuộc dòng vua David, sẽ đến trong tương lai, quy tụ dân Do Thái, dựng lại Đền Thờ và mở ra một thời hòa bình cho cả thế gian. Đây là chỗ khác căn bản với Kitô Giáo: Do Thái Giáo không nhận Giêsu là Messiah, và cũng không xem Messiah là thần. Maimonides viết rằng dấu hiệu nhận ra Messiah là những việc người ấy làm được trong thế gian, không phải phép lạ.
Về đời sau, Do Thái Giáo nói ít hơn nhiều đạo khác. Các văn bản rabbi có nói tới olam ha-ba, tức thế giới sẽ đến, và tới sự sống lại của người chết, nhưng mô tả không thống nhất, và trọng tâm của đạo vẫn đặt vào đời sống này. Dòng Cải cách và một số người thuộc dòng Bảo thủ hiểu phần này theo nghĩa biểu tượng.
Mười ba tín điều của Maimonides
Theo halakha truyền thống, người Do Thái là người sinh ra từ mẹ là người Do Thái, hoặc người đã cải đạo theo đúng thể thức trước một tòa ba người am hiểu luật. Dòng Cải cách tại Bắc Mỹ từ năm 1983 nhận cả người có cha là người Do Thái nếu được nuôi dạy theo đạo, còn dòng Chính thống và Bảo thủ thì không. Người sinh ra là người Do Thái vẫn là người Do Thái theo halakha dù không giữ đạo, nên người Do Thái vừa là một cộng đồng tôn giáo vừa là một dân. Chỗ chồng lấn này là lý do lớn nhất khiến phép đếm tín đồ khó.
Người ta hay nghĩ hễ có đạo thì có truyền đạo. Do Thái Giáo thì không đi tìm người theo, và theo tục truyền thống, rabbi còn từ chối người xin cải đạo vài lần để thử lòng. Nhưng đạo không đóng cửa: người thật lòng muốn theo có thể học trong thời gian dài rồi làm lễ nhập đạo. Nhân vật Ruth trong Tanakh là một người ngoại tộc theo đạo, và theo giáo nghĩa là tổ tiên của vua David.
VIIIKashrut Và Shabbat, Bữa Ăn Và Ngày Nghỉ
Hai thứ khiến một gia đình Do Thái giữ đạo khác với nhà hàng xóm là bữa ăn và ngày thứ Bảy. Cả hai lặp lại hằng ngày, hằng tuần, và biến căn nhà thành chỗ giữ đạo chính. Mục này mô tả theo cách phần đông người Chính thống thực hành, còn dòng Bảo thủ và Cải cách giữ ở nhiều mức khác nhau.
Kashrut, luật về thức ăn
כשרות, phiên âm kashrut, là hệ luật về thức ăn, còn thức ăn hợp luật gọi là כשר, phiên âm kasher, người nói tiếng Anh đọc thành kosher. Chữ này nghĩa là thích hợp, không phải là sạch hay được ban phúc. Luật gốc nằm trong sách Lêvi chương 11 và sách Đệ Nhị Luật chương 14, rồi được Talmud và các bộ luật triển khai rất chi tiết.
Thú bốn chân phải vừa có móng chẻ vừa nhai lại, nên bò, cừu, dê được ăn, còn heo, thỏ thì không. Cá phải có vây và vảy, nên tôm, cua, mực, lươn và các loại có vỏ đều không được ăn. Chim thì Torah liệt kê các loài cấm, phần lớn là chim săn mồi.
Thú và chim phải được giết theo phép shechita, do một người được đào tạo riêng thực hiện bằng một lưỡi dao thật sắc và không được mẻ. Con vật có bệnh hoặc vết thương làm hỏng nội tạng thì không được ăn.
Thịt phải được ngâm và xát muối để rút huyết trước khi nấu. Theo tục, người ta cũng không ăn một số phần mỡ và gân đùi sau, gốc từ tích tổ phụ Jacob bị thương ở đùi trong sách Sáng Thế.
Torah ba lần dặn không nấu dê con trong sữa mẹ nó. Các rabbi hiểu thành luật tách hẳn thịt với sữa: không nấu chung, không ăn chung, và nhà giữ đạo thường có hai bộ nồi, hai bộ bát đĩa riêng.
Torah không nói lý do của phần lớn các luật về thức ăn. Nhiều người đời sau đưa ra giải thích về vệ sinh hay sức khỏe, nhưng các rabbi nói rõ rằng cơ sở của kashrut là điều răn, còn lợi ích sức khỏe nếu có chỉ là chuyện phụ. Tại Việt Nam, các trung tâm Chabad cung cấp suất ăn kosher cho người Do Thái sinh sống và du khách.
Shabbat, ngày thứ bảy
שבת, phiên âm Shabbat, rút từ động từ nghỉ, dừng lại. Theo sách Sáng Thế, Thượng Đế tạo dựng thế giới trong sáu ngày và nghỉ ngày thứ bảy, và Mười Điều Răn dặn giữ ngày ấy làm ngày thánh. Vì ngày Do Thái bắt đầu từ lúc mặt trời lặn, Shabbat kéo dài từ trước hoàng hôn chiều thứ Sáu tới khi trời tối hẳn tối thứ Bảy, chừng hai mươi lăm giờ.
Shabbat mở đầu khi người phụ nữ trong nhà thắp hai ngọn nến. Bữa tối thứ Sáu là bữa chính của tuần: người cha đọc lời thánh hóa gọi là קידוש, phiên âm kiddush, trên một chén rượu nho, rồi cả nhà bẻ hai ổ bánh mì bện gọi là challah. Sáng thứ Bảy là buổi lễ dài nhất ở hội đường, có đọc đoạn Torah của tuần. Tối thứ Bảy, Shabbat khép lại bằng nghi thức הבדלה, phiên âm havdalah, nghĩa là phân tách, ngăn ngày thánh với tuần thường sắp tới.
Mishnah liệt kê 39 loại việc bị cấm, gọi là melakhot, rút từ các công việc cần để dựng Đền Tạm trong sa mạc, từ gieo, gặt, nhào bột tới viết chữ, nhóm lửa, dập lửa và mang đồ từ chỗ riêng ra chỗ chung. Từ đó các rabbi suy ra các việc thời nay, nên người Chính thống không lái xe, không nấu nướng, không bật tắt đèn, không dùng điện thoại và không cầm tiền trong ngày Shabbat. Họ chuẩn bị trước: thức ăn nấu từ hôm trước, đèn cài hẹn giờ.
Nghe liệt kê những việc cấm, người ta dễ hình dung Shabbat là một ngày nặng nề. Người giữ đạo kể ngược lại: đó là ngày được giải phóng khỏi công việc, điện thoại và mua bán, dành trọn cho gia đình, bữa ăn và việc học. Luật cũng có một ngoại lệ tuyệt đối: khi tính mạng con người bị đe dọa, mọi điều cấm của Shabbat đều được gác lại.
IXLịch Do Thái, Các Lễ Lớn Và Nghi Thức Đời Người
Lịch Do Thái là lịch âm dương, giống lịch cổ truyền của người Việt ở chỗ tháng tính theo trăng còn năm phải bám theo mùa. Trong mỗi chu kỳ mười chín năm có bảy năm nhuận thêm một tháng Adar, nhờ vậy lễ Vượt Qua luôn rơi vào mùa xuân. Ngày bắt đầu từ lúc mặt trời lặn, theo câu trong sách Sáng Thế rằng có chiều rồi có sáng, nên mọi lễ đều bắt đầu từ tối hôm trước. Năm 5787 là một năm nhuận, và bảng dưới đây ghi ngày dương lịch của các lễ lớn trong năm ấy.
| Lễ | Ngày theo lịch Do Thái | Năm 5787 theo dương lịch | Ý nghĩa |
|---|---|---|---|
| Rosh Hashanah | 1 và 2 Tishrei | Tối 11 tới 13/9/2026 | Năm mới, ngày phán xét. Thổi kèn sừng cừu gọi là shofar |
| Yom Kippur | 10 Tishrei | Tối 20 tới 21/9/2026 | Ngày Chuộc Tội, nhịn ăn uống chừng 25 giờ, ngày thánh nhất trong năm |
| Sukkot | 15 tới 21 Tishrei | Tối 25/9 tới 2/10/2026 | Lễ Lều, ăn ở trong lều dựng tạm, nhớ bốn mươi năm trong sa mạc |
| Shemini Atzeret và Simchat Torah | 22 và 23 Tishrei | Tối 2 tới 4/10/2026 | Khép và mở lại vòng đọc Torah, nhảy múa với cuộn Torah |
| Hanukkah | 25 Kislev, tám đêm | Tối 4 tới 12/12/2026 | Lễ Ánh Sáng, mỗi đêm thắp thêm một ngọn trên chân đèn chín nhánh |
| Purim | 14 Adar II | Tối 22 tới 23/3/2027 | Đọc sách Esther, tặng quà và bố thí |
| Pesach | 15 tới 22 Nisan | Tối 21 tới 29/4/2027 | Lễ Vượt Qua, nhớ cuộc ra khỏi Ai Cập, bữa tối seder, ăn bánh không men |
| Shavuot | 6 và 7 Sivan | Tối 10 tới 12/6/2027 | Lễ Các Tuần, nhớ ngày nhận Torah tại Sinai |
| Tisha B'Av | 9 Av | Tối 11 tới 12/8/2027 | Ngày chay tưởng niệm hai lần Đền Thờ bị phá |
Mười ngày kính sợ
Hai lễ đầu năm, ראש השנה, phiên âm Rosh Hashanah, và יום כיפור, phiên âm Yom Kippur, cách nhau mười ngày, gọi là mười ngày kính sợ. Theo giáo nghĩa, vào Rosh Hashanah số phận mỗi người cho năm tới được ghi vào sổ, tới Yom Kippur thì sổ đóng lại, còn khoảng giữa là thời gian để teshuvah, cầu nguyện và làm việc thiện. Yom Kippur là ngày nhiều người Do Thái ít giữ đạo cũng tới hội đường, người lớn khỏe mạnh nhịn hẳn ăn uống, và buổi lễ kéo dài gần trọn ngày.
Nghi thức đời người
Bé trai được cắt bì vào ngày thứ tám sau khi sinh, trong nghi thức brit milah, và được đặt tên trong buổi ấy. Tới tuổi trưởng thành theo luật, mười ba với con trai và mười hai với con gái, người trẻ thành בר מצווה, phiên âm bar mitzvah, hoặc בת מצווה, phiên âm bat mitzvah, nghĩa là con của điều răn, tức từ đây tự chịu trách nhiệm giữ các điều răn, và thường lần đầu đọc một đoạn Torah trước cộng đồng.
Hôn lễ cử hành dưới một tấm tán bốn cột gọi là חופה, phiên âm chuppah, hai bên ký văn tự hôn nhân gọi là ketubah, và chú rể dẫm vỡ một chiếc ly để nhớ Đền Thờ đã mất giữa lúc vui nhất. Khi có người mất, việc chôn cất làm càng sớm càng tốt. Gia đình ngồi tang bảy ngày gọi là שבעה, phiên âm shiva, con cái đọc lời kinh קדיש, phiên âm kaddish, bằng tiếng Aram suốt mười một tháng, và mỗi năm vào ngày mất, gọi là yahrzeit, người ta thắp một ngọn nến cháy suốt một ngày đêm. Người Việt quen tục giỗ sẽ thấy điểm gặp nhau ở chỗ nhớ người khuất vào đúng ngày mất theo lịch âm.
XHội Đường Và Rabbi
Nơi sinh hoạt tôn giáo của người Do Thái gọi là בית כנסת, phiên âm beit knesset, nghĩa đen là nhà hội họp, tiếng Anh gọi là synagogue, tiếng Việt quen gọi là hội đường. Người Ashkenazi còn gọi là shul, người Sephardi ở Amsterdam gọi là esnoga. Hội đường không phải đền thờ: theo giáo nghĩa chỉ có một Đền Thờ, ở Jerusalem, và nó đã mất. Hội đường thay thế bằng ba việc là cầu nguyện, học và hội họp, và có thể dựng ở bất kỳ nơi nào có đủ người.
Những thứ có trong một hội đường
Aron haKodesh, tủ đặt các cuộn Torah, ở bức tường quay về phía Jerusalem. Khi mở hòm, cả hội đường đứng lên.
Ner tamid, treo phía trên hòm thánh, cháy suốt ngày đêm để nhớ ngọn đèn trong Đền Thờ xưa.
Bimah, nơi đặt cuộn Torah để đọc to. Hội đường Sephardi và nhiều hội đường Chính thống đặt bục ở giữa gian, nhiều hội đường Cải cách đặt phía trước.
Mechitza, vách hoặc tầng lầu ngăn chỗ nam và chỗ nữ trong hội đường Chính thống. Hội đường Bảo thủ và Cải cách thường cho nam nữ ngồi chung.
Theo điều răn thứ hai, phần lớn hội đường không có tượng hay tranh người, trang trí chủ yếu là chữ Hebrew và hoa văn.
Lễ cầu nguyện chung đòi hỏi mười người trưởng thành, gọi là מניין, phiên âm minyan. Dòng Chính thống chỉ tính người nam, dòng Bảo thủ và Cải cách tính cả người nữ. Mỗi ngày có ba buổi cầu nguyện, thay cho các lễ vật hằng ngày thời Đền Thờ. Buổi sáng người nam choàng khăn cầu nguyện gọi là tallit, và màu lam trắng của chiếc khăn ấy chính là màu thư viện chọn cho trang này.
Rabbi là thầy dạy chứ không phải tư tế
Chữ רב, phiên âm rav, và rabbi nghĩa là thầy của tôi. Rabbi là người đã học đủ sâu về Torah và halakha để được trao quyền quyết đoán về luật, qua lễ truyền thụ gọi là semikhah. Rabbi không phải tư tế, không làm trung gian giữa người và Thượng Đế, không có quyền tha lỗi, và mọi nghi thức trong hội đường về nguyên tắc đều có thể do một người không phải rabbi dẫn. Rabbi được lập gia đình. Hàng tư tế cha truyền con nối là các kohen, hậu duệ của Aaron anh của Moshe, và từ khi Đền Thờ mất thì vai trò của họ chỉ còn trong vài nghi thức. Người nữ làm rabbi là chuyện thời cận đại: bà Regina Jonas được truyền thụ tại Đức năm 1935, và ngày nay dòng Cải cách, dòng Bảo thủ đều có nữ rabbi, còn phần lớn dòng Chính thống thì không.
Người quen đền chùa Việt Nam hay hỏi hội đường thờ gì trên bàn thờ chính. Hội đường không có bàn thờ theo nghĩa ấy. Hòm thánh chứa cuộn Torah là chỗ trang trọng nhất, nhưng người ta không thờ cuộn Torah, không dâng lễ vật, không thắp hương.
XICác Dòng Trong Do Thái Giáo
Trước thế kỷ 18, gần như mọi người Do Thái đều sống theo một khung halakha chung dưới sự dẫn dắt của rabbi địa phương. Việc chia thành các dòng theo nghĩa hiện đại, mỗi dòng có chủng viện, hội đường và lập trường riêng về halakha, là chuyện của thế kỷ 18 và 19, thúc đẩy bởi hai phong trào ra đời gần như cùng lúc ở hai đầu châu Âu.
Hasidic ở phía đông, Haskalah ở phía tây
Ở vùng Podolia, rabbi Yisrael ben Eliezer, gọi là Baal Shem Tov, sống quãng 1700 tới 1760, giảng rằng Thượng Đế có mặt khắp nơi, và một người ít học vẫn có thể gần Thượng Đế bằng lòng thành, niềm vui, lời ca và điệu múa. Phong trào חסידות, phiên âm Hasidut, nghĩa là lòng mộ đạo, lan khắp Đông Âu quanh các vị thầy gọi là rebbe. Phe phản đối do Gaon xứ Vilna, 1720 tới 1797, đứng đầu, bảo vệ việc học Talmud khắt khe làm trung tâm. Hai phía về sau xích lại gần nhau và nay đều thuộc khối Chính thống.
Ở Berlin, triết gia Moses Mendelssohn, 1729 tới 1786, mở đầu phong trào השכלה, phiên âm Haskalah, nghĩa là khai sáng. Ông dịch Torah sang tiếng Đức trong những năm 1780 tới 1783 và cho rằng người Do Thái có thể vừa giữ đạo vừa tham gia trọn vẹn vào văn hóa châu Âu. Từ câu hỏi giữ gì và đổi gì khi bước vào xã hội hiện đại, các dòng lần lượt ra đời như những câu trả lời khác nhau.
| Dòng | Thành hình | Nhìn halakha thế nào | Nét thực hành dễ nhận |
|---|---|---|---|
| Cải cách | Đức đầu thế kỷ 19, Đền Hamburg năm 1818, rồi Bắc Mỹ | Là nguồn hướng dẫn, lương tâm cá nhân quyết định | Nam nữ ngồi chung, có nữ rabbi, nhiều lời kinh bằng tiếng bản xứ |
| Chính thống Hiện đại | Đức giữa thế kỷ 19, rabbi Samson Raphael Hirsch | Ràng buộc, thay đổi trong khuôn khổ luật | Giữ trọn halakha đồng thời học đại học, làm nghề hiện đại |
| Haredi, trong đó có Hasidic | Đông Âu thế kỷ 18 và 19 | Ràng buộc, giữ tục xưa nghiêm ngặt | Trang phục riêng, học Talmud làm trung tâm đời sống |
| Bảo thủ, còn gọi Masorti | Đức giữa thế kỷ 19 với Zacharias Frankel, Bắc Mỹ từ năm 1886 | Ràng buộc nhưng đã luôn phát triển theo lịch sử | Phần lớn lời kinh bằng tiếng Hebrew, nhiều nơi có nữ rabbi |
| Tái Kiến Thiết | Bắc Mỹ đầu thế kỷ 20, rabbi Mordecai Kaplan | Xem Do Thái Giáo là một nền văn minh đang tiến hóa | Dân chủ trong cộng đồng, nhóm nhỏ nhất trong năm nhóm |
Ở Hoa Kỳ, khảo sát của Pew Research Center công bố tháng Năm năm 2021 cho thấy trong người Do Thái trưởng thành có 37 phần trăm theo dòng Cải cách, 17 phần trăm dòng Bảo thủ, 9 phần trăm dòng Chính thống, 4 phần trăm các dòng khác, và 32 phần trăm không thuộc dòng nào. Thư viện không có phép đếm chung cho toàn thế giới.
Chabad, dòng có mặt tại Việt Nam
Chabad, còn gọi Chabad Lubavitch, là một nhánh Hasidic do rabbi Shneur Zalman ở Liadi, 1745 tới 1812, lập ra. Tên Chabad ghép từ ba chữ Hebrew nghĩa là trí tuệ, thấu hiểu và hiểu biết. Nét riêng của dòng là gửi các cặp vợ chồng rabbi trẻ tới khắp các thành phố trên thế giới, kể cả nơi rất ít người Do Thái, để mở nhà Chabad làm nơi cầu nguyện, dạy học và phục vụ bữa ăn kosher. Việc này nhắm tới người Do Thái, không phải truyền đạo cho người ngoài. Mọi điểm sinh hoạt Do Thái Giáo tại Việt Nam mà thư viện tìm được đều thuộc Chabad.
Kabbalah, chiều huyền học
קבלה, phiên âm Kabbalah, nghĩa là điều được tiếp nhận, là truyền thống huyền học của đạo, một tầng suy tư có mặt trong nhiều dòng chứ không phải một dòng riêng. Nó tìm hiểu cách Thượng Đế vô hạn tỏ mình qua mười phẩm tính gọi là sefirot, và cách hành vi của con người góp phần sửa lại sự rạn vỡ trong thế giới. Văn bản trung tâm là sách זוהר, phiên âm Zohar, và học phái ảnh hưởng lớn nhất về sau là của rabbi Isaac Luria ở Safed, 1534 tới 1572.
Truyền thống gắn sách Zohar với rabbi Shimon bar Yochai ở thế kỷ 2. Sách xuất hiện ở Castilla, Tây Ban Nha, quãng thập niên 1280, qua tay rabbi Moshe de León, người nói rằng ông chép lại từ bản cổ. Từ công trình của học giả Gershom Scholem, phần đông giới nghiên cứu cho rằng Moshe de León là tác giả chính, dựa vào ngôn ngữ và các chi tiết thời trung đại trong sách, còn một số học giả gần đây cho rằng sách do một nhóm soạn qua nhiều thời điểm. Trong nhiều cộng đồng giữ đạo, sách vẫn được xem là giáo huấn cổ.
XIISố Người Do Thái Và Vì Sao Khó Đếm
Theo báo cáo của Pew Research Center về biến động tôn giáo toàn cầu giai đoạn 2010 tới 2020, công bố ngày 9 tháng Sáu năm 2025, thế giới có 14,8 triệu người Do Thái vào năm 2020, bằng khoảng 0,2 phần trăm dân số thế giới, tăng từ khoảng 13,8 triệu năm 2010. Về phân bố, 46 phần trăm sống ở khu vực Trung Đông và Bắc Phi, 41 phần trăm ở Bắc Mỹ, khoảng 1,3 triệu ở châu Âu, khoảng 390.000 ở Mỹ Latinh và vùng Caribe. Theo cùng báo cáo, 96 phần trăm người Do Thái sống ở mười nước.
Ước tính của nhà nhân khẩu học Sergio DellaPergola, Đại học Hebrew, đăng trong American Jewish Year Book, cho con số cao hơn: 15,7 triệu vào đầu năm 2023. Hai con số dùng hai định nghĩa khác nhau, như tiểu mục dưới đây giải thích, và thư viện ghi cả hai.
| Nước | Số người Do Thái đầu năm 2023 | Ghi chú |
|---|---|---|
| Israel | 7,2 triệu | Pew ghi khoảng 46 phần trăm tổng số thế giới vào năm 2020 |
| Hoa Kỳ | 6,3 triệu | Pew ghi khoảng bốn phần mười tổng số thế giới vào năm 2020, bằng 1,7 phần trăm dân số Hoa Kỳ khi chỉ đếm người nhận Do Thái Giáo là tôn giáo |
| Pháp | 440.000 | Cộng đồng lớn nhất châu Âu |
| Canada | 398.000 | |
| Anh | 312.000 | |
| Argentina | 171.000 | Cộng đồng lớn nhất Mỹ Latinh |
| Nga | 132.000 | |
| Đức | 125.000 | |
| Úc | 117.200 |
Vì sao mọi con số đều là ước tính
Thứ nhất, người Do Thái vừa là một cộng đồng tôn giáo vừa là một dân. Có người sinh ra trong gia đình Do Thái, tự nhận mình là người Do Thái, nhưng khi được hỏi theo đạo gì thì trả lời không theo đạo nào. Pew ghi rằng ở Hoa Kỳ, nếu tính cả người Do Thái theo nghĩa văn hóa và dòng dõi thì con số năm 2020 lên khoảng 7,5 triệu, cao hơn hẳn con số đếm theo tôn giáo. Thứ hai, các nguồn dùng tiêu chí khác nhau. Pew đếm theo sự tự nhận tôn giáo để so được với các đạo khác, riêng với Israel thì dùng số liệu chính thức dựa trên tiêu chí halakha, còn DellaPergola dùng định nghĩa lõi rộng hơn. Thứ ba, nhiều nước không hỏi tôn giáo trong điều tra dân số, nên số cho các nước ấy suy từ khảo sát mẫu. Thứ tư, các dòng không đếm theo cùng chuẩn, vì dòng Cải cách nhận con của cha là người Do Thái mà dòng Chính thống thì không. Điều mọi nguồn đều đồng ý là tổng số dao động quanh mười lăm triệu, và hơn tám phần mười sống ở hai nước.
XIIITại Việt Nam
Do Thái Giáo có mặt tại Việt Nam ở quy mô rất nhỏ. Mục này chỉ ghi sinh hoạt có tổ chức hiện nay, tư cách pháp lý theo những gì thư viện tra được, và số người.
Trong thời thuộc Pháp có một số người Do Thái gốc Pháp và gốc Bắc Phi sống ở Hà Nội, Hải Phòng và Sài Gòn, phần lớn là thương nhân, công chức và quân nhân. Một bài tổng quan trên bách khoa mở ước chừng một nghìn người vào năm 1939, nhưng thư viện chưa kiểm được văn bản gốc nên chỉ ghi là quãng. Cộng đồng này không để lại hội đường nào còn tới nay, và không có cộng đồng Do Thái bản địa nào ở Việt Nam tương tự cộng đồng Khai Phong ở Trung Hoa.
Các trung tâm Chabad
Sinh hoạt Do Thái Giáo có tổ chức hiện nay tại Việt Nam do dòng Chabad đảm nhiệm. Theo trang của Chabad Vietnam, trung tâm đầu tiên mở tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2006 bởi vợ chồng rabbi Menachem Hartman, có nơi cầu nguyện, bữa ăn kosher, và năm 2012 mở hồ tắm nghi lễ, gọi là mikveh. Trung tâm thứ hai mở tại Hà Nội năm 2014. Trang Chabad Hà Nội ghi dòng có bốn nhà Chabad ở Việt Nam, tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội An và Sa Pa.
Hai nguồn ghi khác nhau về Hội An, nay thuộc thành phố Đà Nẵng sau sắp xếp hành chính ngày 1 tháng Bảy năm 2025: trang Chabad Vietnam ghi nhà ở đây mở năm 2018, còn tờ báo cộng đồng The Jewish Link tháng Bảy năm 2021 viết rằng nhà này đã đóng trong thời dịch COVID 19. Thư viện chưa kiểm được tình trạng hiện nay nên ghi cả hai.
| Điểm sinh hoạt | Năm mở | Nguồn | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Chabad Thành phố Hồ Chí Minh | 2006 | Trang Chabad Vietnam | Nơi cầu nguyện, bữa ăn kosher, hồ tắm nghi lễ mở năm 2012 |
| Chabad Hà Nội | 2014 | Trang Chabad Vietnam | Bữa ăn Shabbat và ngày lễ, suất ăn kosher |
| Chabad Hội An | 2018 | Trang Chabad Vietnam | The Jewish Link năm 2021 ghi đã đóng trong thời dịch. Trang Chabad Hà Nội vẫn liệt kê |
| Chabad Sa Pa | Chưa rõ | Trang Chabad Hà Nội | Thư viện chưa tìm được nguồn thứ hai |
Tư cách pháp lý và số người
Theo số liệu chính thức được báo VietNamNet dẫn ngày 20 tháng Bảy năm 2025, Việt Nam có mười sáu tôn giáo được Nhà nước công nhận, và Do Thái Giáo không nằm trong danh sách ấy. Thư viện không tìm thấy văn bản nào công nhận tư cách pháp nhân cho một tổ chức Do Thái Giáo tại Việt Nam, cũng không thấy số liệu về người Do Thái trong các công bố của Ban Tôn giáo Chính phủ, và chỉ ghi điều ấy như một sự kiện.
Về số người, không có phép đếm chính thức. Bài trên The Jewish Link tháng Bảy năm 2021 ghi khoảng 350 người Do Thái sống tại Việt Nam, tập trung ở Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, gốc từ nhiều nước. Một bài tổng quan trên bách khoa mở ghi khoảng 300 người cho năm 2007. Cả hai là ước tính của cộng đồng, không phải số liệu điều tra.
XIVTrong Con Mắt Phong Thủy
Mục này là cách đọc riêng của thư viện Vạn Đạo Đường, theo con mắt phong thủy cổ truyền Việt Nam, đặt ở mọi trang đạo để người đọc quen lối nhìn ấy có chỗ đối chiếu. Nó không gán phong thủy cho Do Thái Giáo. Điều quan trọng nhất xin nói trước: đạo này có luật riêng về hướng và về nhà cửa, và có lập trường rõ ràng về việc đoán định tương lai.
Do Thái Giáo không dạy phong thủy. Torah cấm các phép bói toán, như câu trong sách Lêvi chương 19 câu 26, לא תנחשו ולא תעוננו, phiên âm lo tenachashu ve-lo te'onenu, thường dịch là chớ bói điềm, chớ xem giờ, và sách Đệ Nhị Luật chương 18 liệt kê các nghề đoán định bị cấm. Talmud có bàn qua lại chuyện số mệnh theo sao, và có rabbi đáp bằng câu אין מזל לישראל, phiên âm ein mazal le-Yisrael, nghĩa là Israel không bị sao định đoạt. Maimonides bác bỏ chiêm tinh dứt khoát. Câu hỏi một người Do Thái có nên xem hướng nhà theo lối cổ truyền hay không thuộc về vị rabbi của người ấy, không thuộc về trang thư viện này.
Hướng về Jerusalem
Quy tắc chọn hướng duy nhất của hội đường là quay về Jerusalem, về nơi Đền Thờ xưa. Gốc của nó nằm trong lời cầu nguyện của vua Solomon ở sách Các Vua, rằng người ở xa sẽ cầu nguyện hướng về thành này, và trong sách Daniel, nơi nhân vật chính mở cửa sổ về phía Jerusalem để cầu nguyện. Talmud và các bộ luật biến điều ấy thành quy định: người cầu nguyện quay mặt về Jerusalem, hòm thánh đặt ở bức tường phía ấy. Với người Do Thái ở châu Âu, hướng ấy là phía đông, nên bức tường có hòm thánh thường gọi là mizrach, nghĩa là phía đông.
Hướng ấy được xác định bằng địa lý, không bằng thế đất, dòng nước hay tuổi người xây. Chỗ này giống thánh đường Hồi Giáo hướng về Mecca: cả hai đạo đặt trục công trình về một tọa độ thật trên mặt đất, trong khi lối cổ truyền Việt Nam xét hướng theo địa bàn và thế đất tại chỗ.
Ba tục về nhà cửa
Mezuzah trên khung cửa. Theo điều răn trong đoạn Shema, người Do Thái gắn lên khung cửa bên phải khi bước vào một hộp nhỏ gọi là מזוזה, phiên âm mezuzah, trong có mảnh da chép tay hai đoạn Torah. Người Ashkenazi gắn hơi nghiêng, dung hòa hai ý kiến của Rashi và cháu ông, người Sephardi thường gắn thẳng. Người quen câu đối, bùa trấn trạch hay gương bát quái trên cửa dễ đọc mezuzah như một vật hộ trạch, nhưng chính Maimonides đã phản đối cách hiểu ấy, viết rằng ai coi mezuzah là bùa hộ mệnh là đã biến một điều răn thành vật dụng vì lợi riêng. Theo giáo nghĩa, nó là lời nhắc về Thượng Đế mỗi khi ra vào.
Chỗ tường để trống. Talmud ghi một tục mà các bộ luật về sau giữ lại: khi trát nhà, người ta chừa một khoảng nhỏ đối diện cửa ra vào không trát, chừng một cubit mỗi cạnh, gọi là זכר לחורבן, phiên âm zecher la-churban, nghĩa là để nhớ sự đổ nát của Đền Thờ. Lối cổ truyền Việt Nam chuộng sự tròn đầy nơi cửa chính, còn tục này cố ý để khuyết một góc, vì ký ức chứ không phải vì khí.
Hội đường cao và có cửa sổ. Theo các bộ luật, hội đường nên cao hơn nhà chung quanh nếu điều kiện cho phép, và gian cầu nguyện nên có cửa sổ theo gương Daniel. Lý do nằm ở kinh văn chứ không ở phép xem đất.
Phân định ba lớp
Lớp thứ nhất, điều đạo dạy. Một quy tắc về hướng là quay về Jerusalem, các điều răn về mezuzah và chỗ tường để trống, và những câu kinh cấm bói toán. Không có điều khoản nào về long mạch, cung mệnh gia chủ hay ngày giờ động thổ theo sao.
Lớp thứ hai, điều người thợ bản địa làm theo khí hậu. Hội đường Amsterdam dựng trên nền cọc gỗ như mọi công trình của thành phố ấy, hội đường Bắc Phi có sân trong và tường dày chống nắng, hội đường Khai Phong xưa dựng theo lối kiến trúc Trung Hoa. Đó là tay nghề và khí hậu, không phải luật.
Lớp thứ ba, kiến giải của thư viện. Hai lối nhìn gặp nhau ở chỗ cùng coi cửa ra vào là một ngưỡng có ý nghĩa: lối cổ truyền Việt Nam đặt ở đó vật giữ nhà, người Do Thái đặt ở đó lời nhắc về giao ước. Hình thức giống nhau, lý do khác nhau. Đây là kiến giải của thư viện, không phải giáo huấn của đạo.
Trên thị trường đồ phong thủy đôi khi có bán chân đèn bảy nhánh hay ngôi sao sáu cánh như vật trấn trạch. Theo giáo nghĩa, cả hai là biểu tượng gắn với ký ức của một dân, không mang năng lực bảo hộ, và Do Thái Giáo không dạy dùng chúng theo lối ấy.
XVNhững Chỗ Hay Hiểu Lầm
Phần cuối gom lại những câu người Việt hay hỏi về Do Thái Giáo. Vì đạo này gần như không có mặt trong đời sống người Việt, phần lớn hiểu lầm đến từ sách báo dịch, phim ảnh, hoặc từ việc đọc Do Thái Giáo qua lăng kính Kitô Giáo. Bốn chỗ trượt hay gặp nhất: lẫn dân với đạo, lẫn biểu tượng mới với biểu tượng cổ, lẫn rabbi với linh mục, và nghĩ rằng Tanakh chỉ là Cựu Ước đổi tên.
Cả hai. Theo halakha, người sinh ra từ mẹ là người Do Thái thì là người Do Thái dù có giữ đạo hay không, còn người ngoài có thể thành người Do Thái bằng việc cải đạo. Vì vậy có người Do Thái hoàn toàn thế tục, và có người gốc nhiều dân khác đã nhập đạo. Thư viện dùng chữ Do Thái Giáo để chỉ đạo và chữ người Do Thái để chỉ dân, hai phạm vi chồng lên nhau nhưng không trùng khít.
Không. Biểu tượng cổ nhất là chân đèn bảy nhánh menorah, được tả trong sách Xuất Hành và dùng trong Đền Thờ, cũng là biểu tượng mà khám thờ của đạo này trong Chính Điện đang dùng. Hình sáu cánh, gọi là Magen David, nghĩa là khiên của David, là hình trang trí có mặt trong nhiều nền văn hóa, và theo khảo cứu của Gershom Scholem thì mới gắn rõ với cộng đồng Do Thái từ thời trung đại ở Praha, phổ biến như dấu hiệu của đạo từ thế kỷ 19. Ấn ký trang này dùng hình sáu cánh vì đó là quy ước quốc tế hiện nay.
Cùng nội dung nhưng không phải là một. Tanakh có 24 quyển, Cựu Ước của Tin Lành có 39 quyển với cùng nội dung chia khác, Cựu Ước của Công Giáo có 46 quyển. Chữ Cựu Ước là cách gọi của Kitô Giáo, hàm ý có Tân Ước tiếp theo, nên người Do Thái không dùng chữ ấy. Quan trọng hơn là cách đọc: người Do Thái đọc Tanakh qua Talmud và lời chú của các rabbi, và đạo đang thực hành là đạo của hội đường thành hình sau năm 70, không phải đạo đền thờ và lễ vật được kể trong kinh.
Không. Rabbi là thầy dạy và là người am hiểu luật, không phải tư tế, không làm phép, không ban ơn, không có quyền tha lỗi. Rabbi được lập gia đình. Hàng tư tế cha truyền con nối của đạo này là các kohen, và vai trò của họ gần như đã hết từ khi Đền Thờ bị phá năm 70. Một buổi lễ ở hội đường về nguyên tắc không cần có rabbi, chỉ cần đủ mười người.
Theo cách chính đạo giải thích, được chọn nghĩa là được giao thêm bổn phận giữ các điều răn, chứ không phải được đặt cao hơn hay được cứu riêng, và người không phải Do Thái giữ bảy điều luật của con cháu Noah cũng có phần trong đời sau. Cách hiểu cụm chữ này được bàn nhiều trong chính các dòng, và dòng Tái Kiến Thiết đã bỏ nó khỏi kinh nguyện. Thư viện ghi lại, không phân xử.
XVINơi Của Đạo Này Trên Đất Việt
Những nơi mà đạo này đang sống thật ngoài đời, mỗi nơi có một trang riêng ghi lịch sử, kiến trúc, thế đất và hướng theo phong thủy, lễ tiết và đường tới nơi.
?Hỏi Đáp Nhanh
Do Thái Giáo là gì
Do Thái Giáo là đạo của dân Do Thái, thờ một Thượng Đế duy nhất và sống theo Torah, vừa là kinh vừa là luật. Theo giáo nghĩa, giao ước khởi từ tổ phụ Abraham và Torah được trao cho Moshe tại núi Sinai. Kinh điển gồm bộ Tanakh 24 quyển và Talmud, đời sống đạo xoay quanh halakha với các luật về thức ăn, ngày nghỉ Shabbat và cầu nguyện. Đạo không có giáo hội trung ương, không đi truyền giáo, và chia thành nhiều dòng như Chính thống, Bảo thủ, Cải cách. Đây là đạo lâu đời nhất trong ba đạo cùng truy nguồn về Abraham.
Trên thế giới có bao nhiêu người Do Thái
Theo Pew Research Center, công bố tháng Sáu năm 2025, thế giới có khoảng 14,8 triệu người Do Thái vào năm 2020, bằng khoảng 0,2 phần trăm dân số thế giới. Nhà nhân khẩu học Sergio DellaPergola ghi 15,7 triệu vào đầu năm 2023, vì dùng định nghĩa rộng hơn tính cả người Do Thái không theo đạo. Hai nước có đông người Do Thái nhất là Israel với khoảng 7,2 triệu và Hoa Kỳ với khoảng 6,3 triệu theo số của DellaPergola. Mọi con số đều là ước tính vì người Do Thái vừa là một cộng đồng tôn giáo vừa là một dân.
Kinh Torah và Kinh Thánh khác nhau thế nào
Torah theo nghĩa hẹp là năm quyển đầu của Kinh Thánh Hebrew, từ Sáng Thế tới Đệ Nhị Luật. Toàn bộ kinh viết của người Do Thái gọi là Tanakh, gồm 24 quyển, có cùng nội dung với 39 quyển Cựu Ước của Tin Lành nhưng chia và xếp khác. Cựu Ước của Công Giáo có 46 quyển. Kinh Thánh Kitô Giáo có thêm Tân Ước, mà Do Thái Giáo không nhận. Người Do Thái đọc Tanakh cùng với Torah truyền khẩu, tức Mishnah và Talmud, nên cùng một câu kinh có thể được hiểu khác nhau giữa hai đạo.
Kosher là gì
Kosher, đọc đúng theo tiếng Hebrew là kasher, nghĩa là thích hợp, chỉ thức ăn hợp với luật kashrut của Do Thái Giáo. Thú được ăn phải vừa có móng chẻ vừa nhai lại, nên không ăn thịt heo. Cá phải có vây và vảy, nên không ăn tôm cua mực và các loại có vỏ. Thú và chim phải được giết mổ theo phép riêng, rút hết huyết, và thịt không được nấu hay ăn chung với sữa. Theo giáo nghĩa, lý do giữ kashrut là vì đó là điều răn, không phải vì vệ sinh hay sức khỏe.
Shabbat là gì, người Do Thái kiêng làm gì vào thứ Bảy
Shabbat là ngày nghỉ thánh của Do Thái Giáo, kéo dài từ trước hoàng hôn chiều thứ Sáu tới khi trời tối hẳn tối thứ Bảy. Ngày mở đầu bằng việc thắp nến và bữa tối gia đình, sáng thứ Bảy có lễ đọc Torah ở hội đường. Mishnah liệt kê 39 loại việc bị cấm, từ đó người Chính thống không lái xe, không nấu nướng, không bật tắt đèn, không dùng điện thoại và không cầm tiền. Khi tính mạng con người bị đe dọa thì mọi điều cấm đều được gác lại. Các dòng Bảo thủ và Cải cách giữ ở nhiều mức khác nhau.
Việt Nam có người Do Thái và hội đường không
Có, nhưng rất ít. Sinh hoạt có tổ chức do dòng Chabad đảm nhiệm, với trung tâm ở Thành phố Hồ Chí Minh mở năm 2006 và ở Hà Nội mở năm 2014, cùng các điểm nhỏ hơn ở Hội An và Sa Pa mà nguồn ghi không thống nhất về tình trạng hiện nay. Các trung tâm có nơi cầu nguyện và bữa ăn kosher. Một bài báo cộng đồng năm 2021 ước khoảng 350 người Do Thái sống tại Việt Nam, phần lớn là người nước ngoài. Do Thái Giáo không nằm trong mười sáu tôn giáo được Nhà nước công nhận theo số liệu công bố năm 2025.
Do Thái Giáo, Kitô Giáo và Hồi Giáo liên quan với nhau thế nào
Cả ba đạo cùng thờ một Thượng Đế và cùng truy nguồn về tổ phụ Abraham, nên thường được gọi chung là các đạo Abraham. Do Thái Giáo có trước. Kitô Giáo ra đời từ trong cộng đồng Do Thái thế kỷ thứ nhất, nhận Tanakh làm Cựu Ước và tuyên xưng Giêsu là Messiah, điều mà Do Thái Giáo không nhận. Hồi Giáo ra đời ở thế kỷ 7, nhận Abraham, Moshe và nhiều ngôn sứ khác, gọi họ là Ibrahim và Musa. Ba đạo có chung nhiều nhân vật nhưng hiểu về họ theo những cách khác nhau.
Ngôi sao David có ý nghĩa gì
Ngôi sao David, tiếng Hebrew là Magen David, nghĩa là khiên của David, là hình sáu cánh do hai tam giác lồng vào nhau. Hình này có mặt trong nhiều nền văn hóa từ thời cổ, và theo khảo cứu của học giả Gershom Scholem thì chỉ gắn rõ với cộng đồng Do Thái từ thời trung đại rồi phổ biến như dấu hiệu của đạo từ thế kỷ 19. Biểu tượng cổ hơn của đạo là chân đèn bảy nhánh menorah trong Đền Thờ. Theo giáo nghĩa, cả hai đều là biểu tượng của ký ức và bản sắc, không phải vật mang năng lực bảo hộ.
