ITrước Khi Đọc
Nếu một tín đồ Bái Hỏa Giáo chỉ thuộc được hai lời kinh, thì đó là hai lời trên trang này. Ahuna Vairya dài hai mươi mốt chữ, Ashem Vohu dài mười hai chữ, đọc chậm cả hai chưa tới một phút. Đứa trẻ học thuộc chúng trước ngày nhập đạo, người lớn đọc chúng mỗi khi thắt lại sợi dây thiêng quanh bụng, tư tế đọc chúng mở đầu và khép lại gần như mọi nghi lễ. Vậy mà câu thứ nhất thuộc hàng khó hiểu nhất của cả kho văn tiếng Avesta, và các học giả lớn của ngành đến nay vẫn dịch mỗi người một khác.
Hai lời kinh này có nhiều tên. Ahuna Vairya là tên theo tiếng Avesta, lấy từ ba chữ mở đầu yaϑā ahū vairiiō. Người Parsi quen gọi theo chính ba chữ ấy là Yatha Ahu Vairyo, hoặc gọi gọn là Ahunavar, còn sách Pahlavi gọi là Ahunwar. Ashem Vohu cũng lấy tên từ hai chữ mở đầu aṣ̌əm vohū, và trong sinh hoạt hằng ngày thường chỉ gọi là Ashem. Encyclopaedia Iranica xếp cả hai vào nhóm bốn lời cầu lớn của đạo, cùng với Yenghe Hatam và Airyaman Ishya.
Đặt hai bài chung một trang là theo đúng cách chúng sống trong đạo. Trong kinh Yasna, chúng đứng liền nhau ở chương 27, câu 13 và câu 14. Trong đời thường, chúng đi với nhau như một cặp: một lời xác quyết về sự chọn lựa và quyền năng chính đáng, rồi một lời ngợi ca chân lý. Khi tín đồ thắt lại dây thiêng kusti, hai lần Ahuna Vairya và một lần Ashem Vohu là công thức cố định.
Trang này trình bày trọn nguyên văn hai bài, sáu dòng thơ, mỗi dòng một hàng. Cột nguyên văn không in bằng chữ Avesta mà in bằng lối chuyển tự Latinh từng chữ cái của giới học thuật. Chữ Avesta có trong bảng mã Unicode, nhưng thư viện chưa tìm được một bản chép bằng chữ Avesta có uy tín để đối chiếu từng nét, và theo luật của thư viện thì không tự dựng mặt chữ khi chưa kiểm được. Lối chuyển tự dùng ở đây ghi mỗi chữ cái Avesta bằng một ký hiệu Latinh riêng, nên người thạo chữ có thể chép ngược ra chữ Avesta mà không sai lệch.
Cột Việt và cột Anh do thư viện tự dịch. Vì câu thứ nhất khó tới mức các học giả dịch rất khác nhau, bản dịch trong bảng chỉ là một cách đọc, và phần giải nghĩa cùng các mục phía sau bày ra những cách đọc khác để quý vị tự so. Thư viện giải nghĩa và tả, không đứng ra phán định cách dịch nào là đúng.
Cả hai bài viết bằng tiếng Avesta cổ, cùng thứ tiếng với mười bảy chương Gathas mà đạo tuyên xưng là lời của chính Zarathustra. Theo bài của Schlerath trên Encyclopaedia Iranica, ngôn ngữ của Ashem Vohu chính là ngôn ngữ của Gathas. Giới ngôn ngữ học ước đoán tiếng Avesta cổ thuộc quãng 1500 tới 900 trước Công nguyên, và đó là ước đoán dựa trên so sánh ngôn ngữ chứ không phải niên đại khắc trên một hiện vật nào.
Trong kinh Yasna, hai bài nằm ở chương 27, câu 13 và 14, liền trước lời cầu thứ ba là Yenghe Hatam ở câu 15. Theo bài GATHAS của Helmut Humbach trên Encyclopaedia Iranica, ba lời cầu ấy làm phần mở cho toàn bộ Gathas, và Ahuna Vairya viết đúng thể thơ của nhóm Gatha đầu tiên: mỗi đoạn ba dòng, mỗi dòng mười sáu âm tiết, chia bảy cộng chín. Nhóm Gatha ấy mang tên Ahunavaiti, nghĩa là nhóm có Ahuna, đặt theo tên chính bài này.
Ngay trong Avesta đã có lời giảng về ba lời cầu. Các chương 19, 20 và 21 của Yasna, viết bằng tiếng Avesta muộn, lần lượt giải Ahuna Vairya, Ashem Vohu và Yenghe Hatam, và chương 19 thường được gọi là Bagan Yasht. Tức là từ thời cổ, chính người trong đạo đã thấy những câu này cần được giảng.
Về sự truyền lại, Avesta sống hơn một nghìn năm trong trí nhớ của giới tư tế trước khi được chép bằng hệ chữ Avesta dựng ra thời Sasanid, và bản chép tay xưa nhất còn giữ có niên đại năm 1323. Bài của Schlerath còn ghi một chi tiết lạ: một mảnh văn bản tiếng Sogdia có chép Ashem Vohu, và từ những nét phát âm riêng trong đó, Ilya Gershevitch năm 1976 suy ra rằng người Sogdia đã biết bài cầu trước khi theo đạo của Zarathustra. Nếu suy luận ấy đúng thì bài có thể đã lưu hành rộng khắp các dân nói tiếng Iran từ rất sớm, thậm chí có trước chính đạo.
Văn bản học thuật chuẩn đến nay vẫn là bộ Avesta của Karl F. Geldner in ở Stuttgart, hoàn tất năm 1896, dựng lại từ việc so nhiều bản chép tay. Nguyên văn trên trang này theo bản ấy.
IIToàn Văn Hai Lời Kinh
Ba dòng đầu là Ahuna Vairya, ba dòng sau là Ashem Vohu. Cột nguyên văn chép theo bản Geldner như bộ văn liệu TITUS của Đại học Frankfurt đã số hóa, dùng lối chuyển tự từng chữ cái. Cột phiên âm là lối ghi giản lược theo bản Geldner mà trang avesta.org dùng, gần với cách người Parsi quen đọc hơn. Hai cột khác nhau ở cách ghi chứ không khác nhau ở chữ: vairiiō và vairyô là một chữ, lối trước ghi đúng hai chữ i mà bản chép tay viết, lối sau ghi theo cách đọc.
| Câu | Nguyên văn Avesta (chuyển tự) | Phiên âm | Tiếng Việt | Tiếng Anh |
|---|---|---|---|---|
| 1 | yaϑā ahū vairiiō aϑā ratuš aṣ̌āt̰cīt̰ hacā | ýathâ ahû vairyô athâ ratush ashâtcît hacâ | Như vị chúa tể đáng được chọn, bậc phân định cũng vậy, vì chính chân lý aša, | As the lord is to be chosen, so is the judge, by reason of truth itself, |
| 2 | vaŋhə̄uš dazdā manaŋhō š́iiaoϑananąm aŋhə̄uš mazdāi | vanghêush dazdâ mananghô shyaothananãm anghêush mazdâi | là người đặt để những việc làm của Thiện Tâm trong cõi đời, dâng về Mazda, | the one who sets in place the deeds of Good Mind in this life, for Mazda, |
| 3 | xšaϑrəmcā ahurāi.ā yim drigubiiō dadat̰ vāstārəm | xshathremcâ ahurâi â ýim drigubyô dadat vâstârem | và quyền năng thuộc về Ahura, người được đặt làm kẻ chăn giữ cho người nghèo khó. | and power belongs to Ahura, the one appointed as herdsman for the needy. |
| 4 | aṣ̌əm vohū vahištəm astī | ashem vohû vahishtem astî | Chân lý aša là điều tốt, là điều tốt nhất. | Truth is good, it is the best. |
| 5 | uštā astī uštā ahmāi | ushtâ astî ushtâ ahmâi | Là niềm an vui, niềm an vui cho người | It is well-being, well-being for the one |
| 6 | hiiat̰ aṣ̌āi vahištāi aṣ̌əm | hyat ashâi vahishtâi ashem | giữ chân lý aša vì chân lý tốt nhất. | who holds to truth for the sake of the best truth. |
IIIGiải Nghĩa Từng Cụm
Phần dưới giải từng cụm theo đúng thứ tự trong nguyên văn, sáu cụm của Ahuna Vairya rồi ba cụm của Ashem Vohu. Chỗ nào các học giả hiểu khác nhau, thư viện ghi thẳng là hiểu khác nhau, và không coi bản dịch trong bảng là bản dứt khoát.
Ba chữ mở đầu cũng là tên thông dụng của bài. Yaϑā là như, cũng như. Vairiiō cùng gốc với động từ chọn, nghĩa là đáng được chọn, phải được chọn. Chữ khó là ahū.
Tiếng Avesta có hai danh từ ahu viết giống nhau. Một chữ nghĩa là chúa, người làm chủ, cùng gốc với ahura trong tên Ahura Mazda. Chữ kia nghĩa là sự sống, cõi hiện hữu, thế gian. Truyền thống Pahlavi và phần đông người Parsi đọc theo nghĩa thứ nhất: như vị chúa đáng được chọn. Một số học giả lại đọc theo nghĩa thứ hai, và thế là cả câu đổi hướng. Ngữ pháp bênh được cả hai cách đọc, nên chưa cách nào thắng hẳn.
Cặp yaϑā và aϑā cũng không đơn giản. Phần đông đọc cặp ấy như một phép so sánh, như thế này thì cũng thế kia. Helmut Humbach, trong bản dịch cùng Pallan Ichaporia năm 1994, đọc theo nghĩa nhân quả, vì như thế nên như thế, và câu thành một lời nói về đấng mà thế gian phải chọn.
Aϑā là thì cũng vậy. Ratuš là chữ gây tranh luận thứ hai. Nghĩa rộng của ratu là người định chuẩn, người phân xử, bậc thầy dẫn đường, và trong văn bản muộn nó còn chỉ những mốc thời gian đúng lễ. Truyền thống hiểu câu này là có hai bậc cần chọn, một bậc chúa tể ở việc đời và một bậc thầy ở việc đạo. Bài của Christopher Brunner trên Encyclopaedia Iranica theo hướng ấy, đọc là bậc chúa ở cõi đời và bậc chúa ở cõi tinh thần. Stanley Insler năm 1975 hiểu ratu là sự phán xét, lời phân định, chứ không phải một con người. Jean Kellens và Eric Pirart năm 1988 hiểu nó là khuôn mẫu.
Aṣ̌āt̰cīt̰ hacā nghĩa sát chữ là chính từ aša, theo đúng aša. Tiểu từ cīt̰ để nhấn mạnh, gần như chữ chính trong tiếng Việt. Dù hiểu ratu là người, là lời phán xét hay là khuôn mẫu, các bản dịch đều đồng ý rằng thước đo của nó là aša, tức chân lý và trật tự ngay thẳng. Mục riêng phía dưới nói kỹ về chữ này.
Vaŋhə̄uš manaŋhō là của Thiện Tâm, tức Vohu Manah, suy nghĩ tốt, cũng là tên vị đứng đầu trong sáu Amesha Spenta. Hai chữ ấy đứng tách nhau, kẹp chữ dazdā ở giữa, một lối xếp chữ quen thấy trong thơ Gathas.
Dazdā thường được hiểu là người đặt để, người trao, người lập ra. Câu thơ nói về một ai đó đặt để những gì thuộc về Thiện Tâm. Ai là người ấy thì tùy cách hiểu câu trước: là bậc thầy được chọn, là lời phân định, hay là đấng được thế gian chọn. Cũng có bản hiểu đây là của được trao, tức món quà của Thiện Tâm. Bản dịch tiếng Anh cũ của James Darmesteter cuối thế kỷ 19, hiện vẫn đăng trên avesta.org, đi theo hướng ấy.
Š́iiaoϑananąm là của những việc làm, aŋhə̄uš là của cõi đời, cõi sống, tức lại chính chữ ahu ở câu một nhưng lần này rõ là nghĩa sự sống. Mazdāi là cho Mazda, vì Mazda. Gộp lại: những việc làm trong đời này hướng về Mazda. Câu nối suy nghĩ tốt ở cụm trước với việc làm ở cụm này, gần với tinh thần ba điều nghĩ tốt, nói tốt, làm tốt mà trang trụ của đạo đã nói.
Chữ š́iiaoϑananąm còn có một vai riêng ngoài trang giấy. Khi tín đồ thắt dây kusti, nút thứ nhất phía trước được thắt đúng lúc miệng đọc tới chữ này trong lần Ahuna Vairya thứ nhất, và nút thứ hai đúng lúc đọc tới chữ ấy trong lần thứ hai, theo hướng dẫn nghi thức của Ervad Ramiyar Karanjia. Người thắt dây buộc nút đúng vào chữ việc làm.
Xšaϑrəm là quyền năng, quyền cai trị, cũng là gốc tên vị Amesha Spenta Khshathra Vairya, Quyền Năng Đáng Mong. Cā là và. Ahurāi là cho Ahura, thuộc về Ahura. Chữ ā đứng sau là một tiểu từ chỉ hướng, có thể hiểu là tới, về phía. Bộ TITUS ghi ahurāi.ā với dấu chấm để cho biết hai chữ đi liền nhau, còn avesta.org ghi thành hai chữ rời. Cột nguyên văn giữ đúng lối ghi của TITUS.
Nghĩa chung của cụm khá rõ: quyền năng thuộc về Ahura. Trong cách đọc truyền thống, câu này nói rằng người làm điều lành là góp quyền năng về cho Ahura, như thể việc thiện của con người đắp thêm vào vương quyền của đấng tạo dựng.
Drigubiiō là cho những người nghèo, người yếu thế, người cần được che chở. Vāstārəm là người chăn, người lo đồng cỏ cho đàn, một hình ảnh rất tự nhiên với xã hội chăn nuôi thời Gathas. Dadat̰ là đã đặt, đã trao. Yim là người mà.
Chỗ khó là ai đặt ai. Bản dịch của Brunner đọc là người mà họ đã trao cho kẻ yếu thế làm người chăn. Bản của Darmesteter và nhiều sách kinh nhỏ về sau lại theo một cách hiểu phổ thông: ai giúp người nghèo là đưa Ahura lên ngôi. Cách hiểu ấy xa nguyên văn về ngữ pháp, nhưng nó giải thích vì sao việc giúp người nghèo được coi là việc đạo rất nặng trong cộng đồng Parsi.
Câu này khép lại Ahuna Vairya. Bài không nhắc tên Zarathustra ở chữ nào, nhưng Yasna 19 đã giảng rằng bậc thầy dẫn đường nói ở đây trước hết là Zarathustra. Brunner nhận xét rằng thuở đầu có lẽ bài còn nhắm cả những người kế tục ông, những người dẫn đường đáng tin cho tín đồ.
Bốn chữ mở Ashem Vohu. Aṣ̌əm là aša. Vahištəm là tốt nhất, astī là thì, là. Chữ gây khác biệt là vohū. Theo bài của Schlerath trên Encyclopaedia Iranica, vohū có thể là tính từ tốt, hoặc là danh từ của cải, điều quý. Đọc theo cách thứ nhất thì câu là aša là điều tốt, là điều tốt nhất. Đọc theo cách thứ hai thì câu là aša là của quý tốt nhất. Hai câu gần nhau về tinh thần nhưng khác hình ảnh: một bên nói phẩm chất, một bên ví aša như một gia tài.
Tên vị Amesha Spenta Asha Vahishta, Chân Lý Cao Nhất, gồm đúng hai chữ aša và tốt nhất của câu này. Vị ấy che chở lửa, và đó là một sợi dây nối Ashem Vohu với ngọn lửa trong đền.
Uštā là chữ khó thứ hai của Ashem Vohu. Theo Schlerath, nó có thể nghĩa là theo ý muốn, như ý, hoặc chỉ chính những điều mong muốn. Ahmāi là cho người ấy. Câu lặp chữ uštā hai lần, một lối láy quen thấy trong các lời cầu cổ, giúp người đọc dễ thuộc và làm câu vang lên khi tụng.
Các bản dịch tiếng Anh phổ biến trong cộng đồng Parsi thường dịch chữ này là hạnh phúc, và nhiều người thuộc lòng Ashem Vohu theo ý chân lý đem lại hạnh phúc. Cách hiểu như ý thì nhấn vào chỗ mọi sự thuận theo ước nguyện của người ngay. Bản dịch của thư viện chọn chữ an vui để giữ được cả hai sắc nghĩa.
Câu cuối gói chữ aša hai lần: aṣ̌āi vahištāi là cho aša tốt nhất, và aṣ̌əm khép bài bằng đúng chữ đã mở bài. Hiiat̰ là tiểu từ nối, có thể hiểu là người mà, hoặc là khi. Vì câu quá gọn, cú pháp mở cho nhiều cách đọc: người giữ aša vì aša tốt nhất, hoặc khi aša thuộc về aša tốt nhất. Thư viện dịch trong bảng theo cách thứ nhất, cách gần với truyền thống tụng đọc hơn cả.
Bài mở bằng aša và đóng bằng aša, như một vòng khép kín. Có lẽ chính vì hình dạng ấy mà Ashem Vohu được dùng như dấu ngắt: Schlerath ghi rằng trong kinh văn, bài này được chèn vào như một thứ dấu phân cách, đánh dấu chỗ hết chương, hết đoạn.
IVLời Có Trước Muôn Vật Và Những Cách Dịch
Theo giáo nghĩa: lời có trước muôn vật
Đạo tuyên xưng Ahuna Vairya là lời Ahura Mazda nói ra sau khi tạo các đấng tinh thần nhưng trước mọi vật hữu hình, trước bầu trời, nước, đất, cây cỏ, gia súc, con người và lửa, theo lời giảng ở Yasna 19. Sách Bundahishn bằng tiếng Pahlavi kể rằng khi Ohrmazd đọc lời ấy lên, Ahriman ngã xuống bất động suốt ba nghìn năm. Sách Vendidad kể Zarathustra đẩy lui Angra Mainyu bằng cách đọc to Ahuna Vairya. Sách Denkard ghi rằng hai mươi mốt chữ của bài đã được dùng để đặt tên hai mươi mốt quyển nask của bộ Avesta, nên bài được coi là hạt giống của cả đạo.
Từ niềm tin ấy mà có một hệ quả thực hành: vì bài gói trọn cả đạo, đọc nó một số lần nhất định có thể thay cho một bài kinh dài trong những hoàn cảnh bất khả. Mục sau có bảng các con số ấy. Nhưng cũng vì bài được coi là lời thiêng có sẵn sức mạnh, việc giữ đúng âm từng chữ được đặt cao hơn việc hiểu từng chữ, và chính điều đó đã giữ văn bản nguyên vẹn qua hàng nghìn năm truyền miệng, ngay cả khi nghĩa của nó mờ dần.
Theo sử liệu: một bài thơ rất khó dịch
Người mới đọc có thể ngạc nhiên rằng một bài chỉ hai mươi mốt chữ, được đọc hằng ngày qua bao nhiêu thế hệ, lại chưa có một bản dịch chung. Lý do nằm ở chính tiếng Avesta cổ. Kho văn bản thứ tiếng ấy còn lại rất nhỏ, chỉ gồm Gathas, phần văn xuôi gọi là Yasna Haptanghaiti và vài lời cầu ngắn. Nhiều chữ chỉ xuất hiện một hai lần, nên nghĩa phải suy ra từ việc so với tiếng Phạn Veda và từ lời giảng của chính truyền thống, mà truyền thống thì nhiều khi đã cách văn bản cả nghìn năm. Thơ Gathas lại cô đặc, lược bớt động từ, đảo trật tự chữ, và một chữ có thể mang hai ba nghĩa cùng lúc.
Ahuna Vairya dồn cả những cái khó ấy vào ba dòng. Ngay bài AHUNWAR trên Encyclopaedia Iranica, sau khi đưa ra một bản dịch, cũng nói thẳng rằng nghĩa trọn vẹn của bài vẫn còn đang được bàn. Bảng dưới đây thuật lại đại ý năm cách đọc, để quý vị thấy chúng khác nhau tới đâu.
| Người dịch | Năm | Hiểu ahu và ratu | Đại ý câu đầu, thư viện thuật lại |
|---|---|---|---|
| Truyền thống Pahlavi và sách kinh Parsi | Nhiều đời | Ahu là chúa tể việc đời, ratu là bậc thầy việc đạo | Như chúa tể đáng được chọn, bậc thầy cũng vậy, theo aša |
| Stanley Insler | 1975 | Ahu là Chúa, ratu là sự phán xét | Chúa phải được chọn theo chân lý, và lời phán xét cũng thế |
| Christopher J. Brunner, Encyclopaedia Iranica | 1984 | Ahu là chúa ở cõi đời, ratu là chúa ở cõi tinh thần | Như chúa cõi đời được chọn, chúa cõi tinh thần cũng thế, theo chân lý |
| Jean Kellens và Eric Pirart | 1988 | Ahu là cõi hiện hữu, ratu là khuôn mẫu | Một lời nói về khuôn mẫu cho việc làm của cõi đời, khuôn mẫu đáng được cõi đời chọn |
| Helmut Humbach và Pallan Ichaporia | 1994 | Ahu là thế gian, cặp yaϑā và aϑā mang nghĩa nhân quả | Vì Ngài là đấng thế gian phải chọn, nên lời phân định đến từ chính chân lý |
Chữ aša: chân lý, trật tự, điều ngay
Theo giáo nghĩa, aša là trật tự đúng mà Ahura Mazda đặt cho thế giới, là chân lý, là lẽ phải, và là con đường con người được gọi để đi theo. Người sống theo aša gọi là ashavan, người ngay chính. Đối nghịch với aša là druj, sự dối trá. Đọc Ashem Vohu là tuyên xưng rằng aša là điều tốt nhất.
Tiếng Việt không có một chữ gói được aša. Sách tiếng Anh thế kỷ 19 hay dịch là holiness, sự thánh thiện, và bản Ashem Vohu của Darmesteter trên avesta.org vẫn giữ lối dịch ấy. Các bản dịch về sau thường chọn truth, chân lý, hoặc righteousness, sự ngay chính, hoặc order, trật tự. Mỗi chữ bắt được một mặt:
- Chân lý: nói thật, không dối trá. Đây là mặt đối nghịch trực tiếp với druj.
- Trật tự: mặt trời mọc đúng giờ, mùa đến đúng mùa, nước chảy xuôi. Aša là cái lẽ khiến thế giới vận hành đúng.
- Điều ngay: việc làm đúng, lễ làm đúng, lời thề giữ đúng. Aša là chuẩn để đo mọi hành vi.
Giới ngôn ngữ học xếp aša cùng gốc với chữ ṛta của kinh Rigveda, cũng mang nghĩa trật tự vũ trụ và sự đúng đắn của nghi lễ, một trong những dấu tích rõ nhất cho thấy hai truyền thống Ấn và Iran từng chung một gốc. Trong Avesta chữ này viết là aṣ̌a, với một chữ cái riêng mà lối chuyển tự ghi bằng ṣ̌. Sách phổ thông viết asha hoặc aša. Tên vị Amesha Spenta Asha Vahishta sang tiếng Ba Tư trung đại thành Ardwahisht, cũng là tên tháng thứ hai trong lịch Bái Hỏa.
Bản dịch trong bảng toàn văn là bản của thư viện, đi gần cách hiểu truyền thống vì đó là cách hiểu mà người tụng đọc sống cùng. Nó không phải bản đúng duy nhất. Với Ahuna Vairya, bất cứ bản dịch nào tự trình bày như đã xong đều nói quá điều giới học thuật thật sự biết.
VDây Kusti, Số Lần Tụng Và Ngọn Lửa
Hai lời kinh này ít khi được đọc riêng như một bài văn. Chúng thường đi cùng một động tác, và động tác quen thuộc nhất là thắt lại dây kusti, sợi dây len quấn quanh bụng mà mỗi tín đồ nhận trong lễ nhập đạo và mang suốt đời, bên ngoài chiếc áo lót trắng sudreh. Theo truyền thống Parsi mà trang trụ của đạo đã tả, dây dệt từ bảy mươi hai sợi len cừu ứng với bảy mươi hai chương Yasna, quấn ba vòng ứng với ba điều nghĩ tốt, nói tốt, làm tốt.
Hai Ahuna Vairya, một Ashem Vohu
Theo mô tả nghi thức của Ervad Ramiyar Karanjia, một tư tế Parsi chuyên dạy giáo lý, người làm lễ trước hết rửa mặt, tay và chân cho sạch rồi lau khô, gọi là padyab. Rồi đứng yên một chỗ, đọc bài Kem na Mazda, tháo dây ra. Cầm dây trong tay, người ấy đọc bài Ahura Mazda Khodae, có lúc cúi mình tỏ lòng biết ơn, có lúc phất đầu dây như xua điều xấu. Sau đó dây được quấn lại quanh bụng.
Hai lời kinh trên trang này nằm ở đoạn thắt nút. Trong khi đọc hai lần Ahuna Vairya, người ta thắt hai nút phía trước: nút thứ nhất bằng tay phải đúng lúc đọc tới chữ š́iiaoϑananąm của lần thứ nhất, nút thứ hai bằng tay trái đúng lúc đọc tới chữ ấy của lần thứ hai. Rồi trong khi đọc một lần Ashem Vohu, người ta thắt hai nút phía sau lưng. Cuối cùng đọc bài Jasa me Avanghe Mazda, ngón cái giữ nút phía trước. Một tài liệu khác của cùng tác giả tóm lại thành công thức hai Yatha, một Ashem.
Năm lần mỗi ngày, và nhiều hơn thế
Nghi thức kusti không làm một lần rồi thôi. Danh sách của Ramiyar Karanjia kể các lúc làm lễ: khi thức dậy, trước khi đi ngủ, trước bữa ăn, mỗi khi sang một thời gah mới, sau khi đi vệ sinh, sau khi tắm, trước khi cầu nguyện, khi tới đền lửa, trước và sau khi dự đám tang, và khi từ ngoài về nhà. Vì ngày chia năm thời gah, người giữ đạo kỹ thắt lại kusti ít nhất năm lần một ngày, mỗi lần hai Ahuna Vairya và một Ashem Vohu. Tính riêng năm lần ấy đã là mười lăm lần đọc, chưa kể các dịp khác trong danh sách.
Bài của Brunner trên Encyclopaedia Iranica còn kể những lúc đời thường mà Ahuna Vairya được đọc theo truyền thống: khi bước vào nhà, khi cắt móng tay, khi rót đồ uống, khi hắt hơi hay ho. Đạo không tách hẳn việc thiêng khỏi việc đời, và một lời cầu ngắn là cách đánh dấu những khoảnh khắc nhỏ ấy.
Đếm bài ngắn thay bài dài
Vì Ahuna Vairya được coi là gói trọn cả đạo, truyền thống cho phép đọc một số lần nhất định bài này, có khi kèm Ashem Vohu, để thay cho một bài kinh dài mà người ta không đọc được. Ramiyar Karanjia ghi các con số sau trong một bài năm 2019, kèm điều kiện rõ ràng: cách này chỉ dành cho người không biết đọc biết viết, hoặc lúc không có sách kinh, không đủ ánh sáng, và không nên dùng làm lối thay thế thường xuyên.
| Bài kinh được thay | Số lần Ahuna Vairya | Số lần Ashem Vohu |
|---|---|---|
| Khorshed Niyayesh, lời ca mặt trời | 103 | Không kèm |
| Meher, Mah Bakhtar, Avan Ardvisur và Atash Niyayesh | 65 cho mỗi bài | Không kèm |
| Mỗi bài Gah lớn của năm thời | 65 | Không kèm |
| Hormazd Yasht | 103 | 12 |
| Ardibehesht Yasht | 65 | Không kèm |
| Sarosh Yasht Hadokht | 75 | Không kèm |
| Sarosh Yasht Vadi | 103 | Không kèm |
| Patet Pashemani, lời sám hối | 121 | 12 |
| Afrinagan | 121 | 12 |
Bảng trên dễ bị đọc thành một phép quy đổi, như thể đếm đủ số lần là xong bổn phận. Chính người ghi các con số ấy đã nói rõ đây là lối dành cho lúc bất khả. Nó cho thấy vị trí của Ahuna Vairya trong đạo nhiều hơn là một cách rút ngắn việc cầu nguyện.
Trước ngọn lửa
Nhiều lần đọc hai bài này diễn ra trước một nguồn sáng. Theo hướng dẫn của Ramiyar Karanjia, người làm lễ kusti đứng quay về phía mặt trời, ban đêm thì quay về một nguồn sáng như trăng, sao hay ngọn lửa, và không quay về hướng bắc. Trong đền lửa, đầu mỗi thời gah tư tế làm lễ dâng củi đàn hương và đọc kinh trước lửa. Trong nhà người Parsi, ngọn đèn dầu nhỏ ở góc thờ là nơi người ta đứng trước khi cầu nguyện.
Đạo tuyên xưng lửa là tạo vật thanh khiết nhất và là biểu tượng của aša, đặt dưới sự che chở của Asha Vahishta, vị Amesha Spenta mang đúng hai chữ mở đầu Ashem Vohu. Người tín đồ thờ Ahura Mazda, và lửa là chỗ họ hướng lòng về khi thờ phụng. Đọc Ashem Vohu trước ngọn lửa, theo cách hiểu ấy, là ngợi ca aša trước chính biểu tượng của aša.
Vì thế gọi người đọc hai lời kinh này là người thờ lửa là nhầm cách họ tự hiểu. Lời kinh không nhắc tới lửa ở chữ nào. Nó nói về sự chọn lựa, về Thiện Tâm, về quyền năng của Ahura, về người nghèo và về aša. Chuyện lửa trong đạo, ba bậc lửa và các đền lửa, được kể kỹ ở trang trụ Bái Hỏa Giáo.
VITín Đồ Đọc Khi Nào Và Ra Sao
Hai lời kinh này có mặt ở gần như mọi chỗ của đời sống đạo, nên câu hỏi đọc khi nào gần như thành câu hỏi lúc nào thì không đọc. Phần dưới tả những dịp chính, theo lối người quan sát.
Ngày của người Bái Hỏa chia năm thời gah: Havan từ bình minh tới trưa, Rapithwin từ trưa tới quãng ba giờ chiều, Uzerin tới lúc mặt trời lặn, Aiwisruthrem tới nửa đêm, Ushahin tới rạng sáng. Mỗi thời có một bài Gah riêng trong tập kinh nhỏ Khordeh Avesta, và mỗi khi sang thời mới, người giữ lệ làm lại nghi thức kusti với hai Ahuna Vairya và một Ashem Vohu. Schlerath trên Encyclopaedia Iranica cho rằng Ashem Vohu có lẽ đã có mặt trong năm thời cầu nguyện hằng ngày từ buổi đầu của đạo.
Người Parsi gọi lễ nhập đạo là Navjote, người Iran gọi là Sedreh-pushi. Theo Ramiyar Karanjia, lễ thường làm cho trẻ từ bảy tới chín tuổi, muộn nhất tới mười lăm, vào buổi sáng trong thời Havan. Đứa trẻ tắm gội thanh tịnh rồi cùng tư tế đọc kinh. Nếu chưa thuộc bài sám hối Patet Pashemani, em đọc thay bằng hai mươi mốt lần Ahuna Vairya và mười hai lần Ashem Vohu. Sau đó em mặc áo sudreh, và tư tế thắt cho em sợi kusti đầu tiên.
Nghi thức kusti đi cùng những mốc ấy trong ngày, nên hai bài cũng được đọc vào những lúc ấy. Đoạn Yasht 21 của Avesta, trong bản dịch của James Darmesteter, xếp giá trị một lần đọc Ashem Vohu theo từng lúc, như khi đi ngủ, sau khi ăn, khi trở dậy, và coi lần đọc lúc cuối đời là quý nhất.
Trong lễ Yasna, tư tế đọc hai bài này ở chương 27, ngay trước Gathas. Ở chỗ ấy, văn bản TITUS ghi lại sau dòng đầu của Ahuna Vairya lời dặn cihār bār, tiếng Ba Tư nghĩa là bốn lần, tức bài được đọc bốn lần tại đó. Ngoài lễ Yasna, các lễ Jashan và Afrinagan cùng phần lớn các bài trong Khordeh Avesta đều có hai lời cầu này ở đầu hoặc ở cuối.
Cũng theo Yasht 21, một lần Ashem Vohu đọc trong những giây phút cuối đời có giá trị ngang cả miền đất loài người ở. Vì niềm tin ấy mà lời cầu này gắn với giờ lâm chung và với các lễ cầu cho người đã khuất.
Lời kinh là một, nhưng cách gọi và giọng đọc có khác. Người Iran gọi áo thiêng là sedreh và dây thiêng là koshti. Người Parsi đọc theo giọng quen của cộng đồng mình, người Iran đọc theo giọng tiếng Ba Tư, nên cùng một chữ Avesta có thể nghe khác nhau khá xa. Theo lệ chung của cả hai cộng đồng, lời kinh được đọc bằng nguyên ngữ Avesta chứ không đọc bản dịch.
Cách đọc có mấy nét chung. Người đọc thường đứng, quay về một nguồn sáng, và theo hướng dẫn của Ramiyar Karanjia thì đứng sao cho không ai đi ngang trước mặt. Lời kinh được đọc nhỏ, đều, không ngắt giữa chừng để nói chuyện, vì theo giáo nghĩa kinh là manthra, lời có sức khi được đọc trọn và đúng âm. Nhiều người che đầu bằng mũ hoặc khăn khi cầu nguyện. Người mới học đọc theo sách Khordeh Avesta, người đã thuộc lâu năm đọc không cần sách.
Thư viện tả những lệ ấy để quý vị hiểu điều mình thấy khi gặp một người Bái Hỏa cầu nguyện. Chi tiết từng bước thay đổi theo cộng đồng và theo từng gia đình, và người trong đạo mới là người nói đúng nhất về lệ của nhà mình.
VIINhững Chỗ Hay Hiểu Lầm
Vì hai bài ngắn, thường được đọc trước lửa và bằng một thứ tiếng mà ít người ngoài biết, chúng dễ bị gán những điều không có trong văn bản. Sáu điểm dưới đây là những chỗ trượt hay gặp.
Không chữ nào trong hai bài nhắc tới lửa. Ahuna Vairya nói về sự chọn lựa, về Thiện Tâm, về quyền năng của Ahura và về người nghèo. Ashem Vohu ngợi ca aša. Tín đồ hay đọc chúng trước ngọn lửa vì lửa là biểu tượng của aša, còn đối tượng thờ phụng theo cách họ tự hiểu là Ahura Mazda.
Với Ahuna Vairya thì chưa. Insler, Kellens và Pirart, Humbach và Ichaporia dịch khác nhau từ chữ ahu tới chữ ratu, và bài trên Encyclopaedia Iranica ghi rằng nghĩa trọn vẹn của bài vẫn còn đang được bàn. Bản dịch nào tự trình bày như đã xong thì cần đọc với chút dè dặt.
Đó là lối dịch của nhiều bản tiếng Anh thế kỷ 19, như bản của Darmesteter. Aša rộng hơn thế: vừa là chân lý đối với dối trá, vừa là trật tự của trời đất, vừa là sự đúng đắn của việc làm và của lễ. Dịch một chữ nào cũng chỉ bắt được một mặt.
Đây là một phán xét từ bên ngoài. Theo giáo nghĩa, kinh Avesta là manthra, lời có sức mạnh khi đọc đúng âm, nên việc giữ nguyên âm Avesta đứng trước việc hiểu từng chữ. Chính lệ ấy đã giữ bài kinh nguyên vẹn qua hàng nghìn năm truyền miệng. Nhiều tín đồ vẫn học nghĩa, nhưng việc tụng nguyên ngữ không dựa vào chỗ hiểu từng chữ.
Truyền thống có cho đọc Ahuna Vairya một số lần nhất định thay một bài kinh dài, nhưng người ghi lại các con số ấy nói rõ đó là lối dành cho người không biết chữ, không có sách hay không đủ ánh sáng, và không nên dùng thường xuyên.
Đây là chỗ hai tầng khác nhau. Theo giáo nghĩa, Ahuna Vairya là lời Ahura Mazda nói ra trước khi tạo dựng thế giới hữu hình. Theo sử liệu, giới học thuật chỉ nói được rằng hai bài viết bằng tiếng Avesta cổ như Gathas, và Ahuna Vairya cùng thể thơ với nhóm Gatha đầu tiên. Riêng với Ashem Vohu, mảnh văn bản Sogdia mà Gershevitch nghiên cứu gợi ý bài có thể còn cổ hơn chính đạo.
?Hỏi Đáp Nhanh
Ahuna Vairya là gì
Ahuna Vairya, người Parsi quen gọi là Yatha Ahu Vairyo hay Ahunavar, là lời cầu thiêng nhất của Bái Hỏa Giáo, nằm ở Yasna 27.13. Bài gồm ba dòng thơ tiếng Avesta cổ, truyền thống đếm là hai mươi mốt chữ, cùng thể thơ với nhóm Gatha Ahunavaiti, và nhóm Gatha ấy mang tên theo chính bài này. Theo giáo nghĩa, đây là lời Ahura Mazda nói ra trước khi tạo dựng thế giới hữu hình. Tín đồ đọc nó mỗi khi thắt lại dây kusti và trong gần như mọi nghi lễ.
Ashem Vohu nghĩa là gì
Ashem Vohu là lời cầu ngắn mười hai chữ ở Yasna 27.14, ngợi ca aša, tức chân lý và trật tự ngay thẳng. Thư viện dịch là: chân lý aša là điều tốt, là điều tốt nhất, là niềm an vui, niềm an vui cho người giữ chân lý vì chân lý tốt nhất. Các học giả hiểu khác nhau ở chữ vohū, có thể là tốt hoặc là của quý, và chữ uštā, có thể là như ý hoặc niềm vui. Bài mở và đóng bằng chữ aša, và thường được đọc như lời kết của các bài kinh khác.
Vì sao Ahuna Vairya có nhiều bản dịch khác nhau
Vì tiếng Avesta cổ chỉ còn lại rất ít văn bản, nhiều chữ chỉ gặp một hai lần, và thơ viết rất cô đặc. Chữ ahu có thể là chúa hoặc là cõi đời, chữ ratu có thể là bậc thầy, lời phán xét hay khuôn mẫu. Stanley Insler năm 1975, Jean Kellens và Eric Pirart năm 1988, Helmut Humbach và Pallan Ichaporia năm 1994 mỗi người đọc một cách, và bài AHUNWAR trên Encyclopaedia Iranica ghi rằng nghĩa trọn vẹn của bài vẫn đang được bàn.
Người Bái Hỏa Giáo đọc hai bài này khi nào
Mỗi lần làm lễ kusti, tức tháo ra và thắt lại sợi dây thiêng quanh bụng, người ta đọc hai lần Ahuna Vairya và một lần Ashem Vohu. Lễ ấy làm ít nhất ở đầu mỗi thời trong năm thời gah của ngày, và thêm khi thức dậy, trước bữa ăn, trước khi ngủ, khi từ ngoài về nhà. Trẻ em đọc hai bài này trong lễ nhập đạo Navjote, tư tế đọc chúng trong lễ Yasna và hầu hết các lễ khác, và theo Yasht 21 thì lần đọc Ashem Vohu lúc cuối đời được coi là quý nhất.
Chữ aša trong Ashem Vohu nghĩa là gì
Aša gộp ba thứ mà tiếng Việt tách rời: chân lý đối với dối trá, trật tự đúng của trời đất, và điều ngay trong việc làm và nghi lễ. Đối nghịch với aša là druj, sự dối trá. Chữ này cùng gốc với ṛta trong kinh Rigveda. Sách tiếng Anh thế kỷ 19 hay dịch là holiness, các bản về sau chọn truth, righteousness hoặc order, và mỗi chữ chỉ bắt được một mặt của aša.