ITrước Khi Đọc
Mười sáu chữ mở đầu Họa phúc vô môn, duy nhân tự triệu; thiện ác chi báo, như ảnh tùy hình (Họa phúc không có cửa định sẵn, chỉ do người tự vời lấy; quả báo của điều lành điều dữ, như bóng theo hình) từ gần chín thế kỷ nay đã vượt ra khỏi khuôn viên đạo quán để đi vào gia huấn, bia đền, lịch vạn niên và lời răn dạy thường ngày khắp Á Đông. Đoạn văn mở ra bằng mười sáu chữ ấy chính là Thái Thượng Cảm Ứng Thiên, tác phẩm đứng đầu dòng sách khuyên làm lành (thiện thư) của Đạo Giáo và từng được học giả đời Thanh tôn gọi là cuốn sách được in ấn nhiều bậc nhất trong lịch sử xuất bản cổ truyền Đông Á.
Tên sách gồm ba phần rõ nghĩa. Thái Thượng 太上 là tôn hiệu bậc chí tôn, trong Đạo Giáo dùng để kính gọi Thái Thượng Lão Quân, tức hình tượng thần thánh hóa của Lão Tử, ngôi Đạo Bảo trong Tam Thanh. Cảm Ứng 感應 là khái niệm vũ trụ học cốt lõi của tư tưởng Trung Hoa cổ đại: cảm là lòng người rung động phát ra ý niệm và hành vi, còn ứng là trời đất và thần minh hồi đáp tương xứng như chuông đánh thì vang, nước động thì trăng lay. Thiên 篇 là bài văn hoàn chỉnh. Khác với Đạo Đức Kinh bàn sâu về bản thể huyền nhiệm của Đạo hay Thanh Tịnh Kinh chuyên về quán chiếu nội tâm, Thái Thượng Cảm Ứng Thiên đi thẳng vào từng hành vi cụ thể giữa con người với gia đình, xã hội, muôn vật và thần linh.
Bản văn dài đúng 1.277 chữ Hán nhưng được kiến trúc rất chặt chẽ. Phần đầu nêu định luật cảm ứng và hệ thống thần giám sát ghi chép tuổi thọ (Tư Quá, Tam Đài, Bắc Đẩu, Tam Thi, Táo Quân). Phần thứ hai khắc họa chân dung người thiện với hai mươi hai cặp câu bốn chữ về lòng nhân hậu, nhường nhịn và bảo vệ cả côn trùng thảo mộc. Phần thứ ba, chiếm hơn nửa dung lượng toàn thiên, là bản danh mục chi tiết hàng trăm lỗi lầm từ chuyện quan trường tham nhũng, xử án oan sai, buôn gian bán lận bằng cân non thước hụt, cho tới những ác niệm thoáng khởi trong lòng và các điều kiêng kỵ trước bếp lửa, giếng nước, trăng sao. Phần kết khép lại bằng cánh cửa hối cải: dù từng lỡ làm điều xấu, hễ biết ăn năn sửa đổi và mỗi ngày nói lành, nhìn lành, làm lành thì ba năm trời ắt giáng phúc.
Khi đọc bản văn này hôm nay, người đọc sẽ bắt gặp hai mạch tư tưởng đan quyện vào nhau: những chuẩn mực đạo đức phổ quát vượt thời gian (không ức hiếp cô quả, không lừa người dốt, không nhận vơ công trạng, không phá tổ chim hay tàn hại sinh vật mùa xuân) nằm cạnh những tập tục kiêng kỵ cổ đại gắn với vũ trụ quan tinh đẩu đời Hán Đường (không khạc nhổ về phương Bắc, không ca múa ngày cuối tháng, không chỉ tay vào cầu vồng). Trang này giữ nguyên vẹn toàn văn 1.277 chữ không cắt xén, đồng thời đặt từng lớp văn bản vào đúng bối cảnh lịch sử để quý vị thấu hiểu trọn vẹn.
Trong truyền thống tín ngưỡng Đạo Giáo, Thái Thượng Cảm Ứng Thiên được kính nhận là thánh huấn của Thái Thượng Lão Quân truyền xuống để cứu độ người đời. Xét theo sử học văn bản và khảo chứng học, cuốn sách không xuất hiện trong các mục lục kinh điển thời Hán Đường mà lần đầu tiên được ghi nhận rõ nét trong Tống Sử (phần Nghệ Văn Chí) và các thư mục đời Nam Tống.
Tuy thành sách hoàn chỉnh vào thời Tống, phần xương sống của tác phẩm kế thừa trực tiếp kho tàng Đạo Giáo Lĩnh Nam từ tám trăm năm trước đó. Khi đối chiếu nguyên văn với sách Bão Phác Tử Nội Thiên 抱樸子內篇 do đạo sĩ kiêm nhà giả kim Cát Hồng 葛洪 (283 tới 343) biên soạn thời Đông Tấn, các nhà nghiên cứu nhận thấy những đoạn trùng khớp sát sao ở hai thiên: quyển 6 thiên Vi Chỉ 微旨 nêu học thuyết thần Tam Thi vào đêm Canh Thân lên tâu thiên tào, thần Bếp (Táo thần) tâu việc cuối tháng cùng phép trừ tuổi thọ theo kỷ (mười hai năm) và toán (ba ngày hoặc một trăm ngày), còn quyển 3 thiên Đối Tục 對俗 nêu định mức người cầu địa tiên phải lập ba trăm điều thiện và người cầu thiên tiên phải lập một nghìn hai trăm điều thiện (sang Cảm Ứng Thiên nâng lên một nghìn ba trăm điều thiện). Ngay cả mười sáu chữ mở đầu cũng bắt nguồn từ câu danh ngôn của Mẫn Tử Mã trong Tả Truyện (Tương Công năm thứ 23: họa phúc vô môn, duy nhân sở triệu) kết hợp với tư tưởng như bóng theo hình trong cổ thư thời Hán.
Người có công lớn nhất đưa bản văn này ra khắp thiên hạ là học giả đời Nam Tống Lý Xương Linh 李昌齡 (khoảng thế kỷ 12). Ông soạn bộ Thái Thượng Cảm Ứng Thiên Truyện dài ba mươi quyển, giải thích từng câu bằng kinh sử Nho Đạo Phật kèm hàng trăm câu chuyện nhân quả lịch sử, được đại nho phái Lý học là Chân Đức Tú 真德秀 (tác giả Đại Học Diễn Nghĩa) viết lời tựa tán dương và vua Tống Lý Tông ban chữ ngự bút khích lệ. Năm 1445 đời Minh Chính Thống, bản ba mươi quyển của Lý Xương Linh được khắc in trọn vẹn vào bộ Thái Thanh của Chính Thống Đạo Tạng (mã số DZ 1167). Sang hai triều Minh và Thanh, từ hoàng cung (như vua Thuận Trị và Ung Chính nhà Thanh cho khắc in ban phát) tới giới thân sĩ địa phương, cuốn sách trở thành mẫu gốc sinh ra cả một thể loại văn chương đạo đức gọi là thiện thư và sổ tự chấm điểm Công Quá Cách.
IIToàn Văn Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (1.277 Chữ Hán)
Toàn bộ 1.277 chữ Hán phồn thể theo bản Chính Thống Đạo Tạng được chia làm 70 câu để giữ trọn nhịp đối ngẫu bốn chữ và không câu nào quá dài khi tra cứu. Quý vị lưu ý các âm đọc cổ đặc thù trong cột phiên âm Hán Việt: chữ 惡 trong nhân giai ố chi (câu 3) là động từ ghét bỏ nên đọc âm ố, sang ác tinh tai chi là tính từ xấu dữ nên đọc âm ác; chữ 厭 trong mai cổ yểm nhân (câu 43) chỉ phép bùa trấn áp nên đọc âm yểm; chữ 溺 trong thế thóa cập niệu (câu 60) chỉ việc phóng uế tiểu tiện nên đọc âm niệu.
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Tiếng Việt | Tiếng Anh |
|---|---|---|---|---|
| 1 | 太上曰:禍福無門,惟人自召;善惡之報,如影隨形。 | Thái Thượng viết: Họa phúc vô môn, duy nhân tự triệu; thiện ác chi báo, như ảnh tùy hình. | Đấng Thái Thượng dạy rằng: Tai họa và phúc lành vốn không có cửa định sẵn, chỉ do con người tự vời lấy; sự báo ứng của việc thiện và việc ác luôn bám sát như bóng đi theo hình. | The Most High said: Misfortune and blessing have no preset gate, for people summon them upon themselves; the recompense of good and evil follows like a shadow trailing a form. |
| 2 | 是以天地有司過之神,依人所犯輕重,以奪人算。 | Thị dĩ thiên địa hữu Tư Quá chi thần, y nhân sở phạm khinh trọng, dĩ đoạt nhân toán. | Vì lẽ ấy, trong trời đất có vị thần Tư Quá coi xét lỗi lầm, tùy theo tội người đời phạm phải nặng hay nhẹ mà tước giảm số toán tuổi thọ của người ấy. | Therefore in heaven and on earth there are spirits who oversee transgressions, deducting portions from a person's allotted span according to whether each offense is light or grave. |
| 3 | 算減則貧耗,多逢憂患;人皆惡之,刑禍隨之,吉慶避之,惡星災之;算盡則死。 | Toán giảm tắc bần hao, đa phùng ưu hoạn; nhân giai ố chi, hình họa tùy chi, cát khánh tỵ chi, ác tinh tai chi; toán tận tắc tử. | Số toán bị giảm thì cảnh nhà nghèo túng hao hụt, thường gặp lo âu hoạn nạn; mọi người đều ghét bỏ, hình phạt tai ương kéo tới, điều may lành lánh xa, sao dữ giáng tai vạ; tới khi số toán cạn hết thì phải chết. | When that allotted count diminishes, poverty and depletion set in, and sorrow and affliction multiply; everyone detests such a person, punishments and calamities follow, auspicious blessings keep away, baleful stars bring disaster, and when the count is exhausted, death ensues. |
| 4 | 又有三台北斗神君,在人頭上,錄人罪惡,奪其紀算。 | Hựu hữu Tam Đài Bắc Đẩu thần quân, tại nhân đầu thượng, lục nhân tội ác, đoạt kỳ kỷ toán. | Lại có các vị thần quân sao Tam Đài và sao Bắc Đẩu ngự ngay trên đỉnh đầu con người, ghi chép tội ác và tước giảm số kỷ, số toán của họ. | Above a person's head there also preside the divine lords of the Three Terraces and the Northern Dipper, recording offenses and deducting twelve-year epochs and shorter counts of life. |
| 5 | 又有三尸神,在人身中,每到庚申日,輒上詣天曹,言人罪過。 | Hựu hữu Tam Thi thần, tại nhân thân trung, mỗi đáo Canh Thân nhật, triếp thượng nghệ thiên tào, ngôn nhân tội quá. | Lại có ba vị thần Tam Thi ở ngay trong thân thể con người, cứ mỗi khi đến ngày Canh Thân lại lên chầu thiên tào, tâu bày hết tội lỗi của người ấy. | Within the human body itself dwell the Three Corpse spirits; whenever the Gengshen (Yang Metal Monkey) day arrives once every sixty days, they ascend to the celestial court to report a person's transgressions. |
| 6 | 月晦之日,竈神亦然。 | Nguyệt hối chi nhật, Táo thần diệc nhiên. | Vào ngày cuối cùng của mỗi tháng âm lịch, vị thần Bếp cũng làm y như vậy. | On the last day of every lunar month, the Hearth God does the very same. |
| 7 | 凡人有過,大則奪紀,小則奪算。 | Phàm nhân hữu quá, đại tắc đoạt kỷ, tiểu tắc đoạt toán. | Phàm con người có lỗi lầm, lỗi lớn thì bị tước một kỷ, lỗi nhỏ thì bị tước một toán. | Whenever anyone commits a fault, a grave offense deducts a twelve-year epoch, while a lesser offense deducts a count. |
| 8 | 其過大小,有數百事,欲求長生者,先須避之。 | Kỳ quá đại tiểu, hữu sổ bách sự, dục cầu trường sinh giả, tiên tu tỵ chi. | Những điều lỗi lớn nhỏ ấy có tới mấy trăm việc; người muốn cầu đạo sống lâu trước hết phải tránh xa những điều đó. | Such transgressions, great and small, number several hundred items; whoever seeks longevity must first shun them all. |
| 9 | 是道則進,非道則退。不履邪徑,不欺暗室; | Thị đạo tắc tiến, phi đạo tắc thoái. Bất lý tà kính, bất khi ám thất; | Việc hợp với chính đạo thì bước tới làm, việc trái đạo thì lùi lại tránh xa. Chẳng đặt chân vào đường ngang lối tắt tà vạy, chẳng dối lòng ngay cả nơi phòng tối không ai nhìn thấy; | If a course accords with the Way, advance upon it; if it violates the Way, step back. Do not tread crooked bypaths, and do not practice deceit even in a dark room unseen by others; |
| 10 | 積德累功,慈心於物;忠孝友悌,正己化人; | tích đức lũy công, từ tâm ư vật; trung hiếu hữu đễ, chính kỷ hóa nhân; | bồi đắp ân đức, tích lũy công lành, đem lòng nhân từ đối đãi với muôn vật; giữ trọn lòng trung, thảo hiếu, tình anh em hòa thuận, sửa ngay chính mình để cảm hóa người khác; | store up virtue and accumulate merit, holding a compassionate heart toward all creatures; be loyal, filial, brotherly and respectful, rectifying yourself so as to transform others; |
| 11 | 矜孤恤寡,敬老懷幼;昆蟲草木,猶不可傷。 | căng cô tuất quả, kính lão hoài ấu; côn trùng thảo mộc, do bất khả thương. | thương xót trẻ mồ côi, giúp đỡ người góa bụa, kính trọng người già, đùm bọc trẻ thơ; ngay cả loài côn trùng và cây cỏ cũng chẳng nỡ làm tổn thương. | pity the orphaned and relieve the widowed, honor the aged and cherish the young; do not needlessly injure even insects, grasses or trees. |
| 12 | 宜憫人之凶,樂人之善;濟人之急,救人之危。 | Nghi mẫn nhân chi hung, lạc nhân chi thiện; tế nhân chi cấp, cứu nhân chi nguy. | Nên xót thương khi người khác gặp tai ương, vui mừng khi người khác làm được việc lành; tiếp giúp lúc người ngặt nghèo khẩn cấp, cứu vớt khi người lâm cảnh hiểm nguy. | Grieve over others' misfortunes and rejoice in others' good deeds; aid those in urgent need and rescue those in peril. |
| 13 | 見人之得,如己之得;見人之失,如己之失。 | Kiến nhân chi đắc, như kỷ chi đắc; kiến nhân chi thất, như kỷ chi thất. | Thấy người khác đạt được điều tốt đẹp thì mừng như chính mình đạt được; thấy người khác chịu mất mát thiệt thòi thì đau như chính mình đánh mất. | Regard another's gain as though it were your own gain, and regard another's loss as though it were your own loss. |
| 14 | 不彰人短,不炫己長;遏惡揚善,推多取少。 | Bất chương nhân đoản, bất huyễn kỷ trường; át ác dương thiện, thôi đa thủ thiểu. | Chẳng phơi bày chỗ kém cỏi của người, chẳng khoe khoang sở trường của mình; ngăn chặn điều xấu, nêu cao điều lành, nhường phần nhiều cho người và nhận phần ít về mình. | Do not expose others' shortcomings or parade your own strengths; check what is evil and commend what is good, yielding the larger share to others while taking the smaller for yourself. |
| 15 | 受辱不怨,受寵若驚;施恩不求報,與人不追悔。 | Thụ nhục bất oán, thụ sủng nhược kinh; thi ân bất cầu báo, dữ nhân bất truy hối. | Chịu điều nhục nhã mà không oán hận, nhận ân sủng vinh hiển mà lo cẩn trọng như giật mình; làm ơn chẳng mong người đền trả, đã trao cho ai vật gì thì không tiếc rẻ hối lại. | Endure humiliation without resentment, and receive favor with cautious awe as though startled; bestow kindness without seeking repayment, and give to others without subsequent regret. |
| 16 | 所謂善人,人皆敬之,天道佑之,福祿隨之,眾邪遠之,神靈衛之;所作必成,神仙可冀。 | Sở vị thiện nhân, nhân giai kính chi, thiên đạo hựu chi, phúc lộc tùy chi, chúng tà viễn chi, thần linh vệ chi; sở tác tất thành, thần tiên khả ký. | Người được gọi là bậc thiện nhân như thế thì mọi người đều kính trọng, đạo Trời che chở, phúc lộc đi theo, tà khí lánh xa, thần linh hộ vệ; việc gì khởi làm ắt thành tựu, ngôi vị thần tiên cũng có thể trông mong đạt tới. | One who is thus called a good person is respected by all, assisted by the Way of Heaven, attended by blessing and emolument, kept clear of evil influences and guarded by divine spirits; whatever they undertake succeeds, and even transcendent immortality may be hoped for. |
| 17 | 欲求天仙者,當立一千三百善;欲求地仙者,當立三百善。 | Dục cầu thiên tiên giả, đương lập nhất thiên tam bách thiện; dục cầu địa tiên giả, đương lập tam bách thiện. | Người muốn cầu bậc thiên tiên cần lập đủ một nghìn ba trăm điều thiện; người muốn cầu bậc địa tiên cần lập đủ ba trăm điều thiện. | Whoever aspires to become a celestial immortal must accomplish one thousand three hundred good deeds; whoever aspires to become an earthly immortal must accomplish three hundred good deeds. |
| 18 | 苟或非義而動,背理而行;以惡為能,忍作殘害; | Cẩu hoặc phi nghĩa nhi động, bội lý nhi hành; dĩ ác vi năng, nhẫn tác tàn hại; | Ví bằng khởi sự hành động trái với lẽ nghĩa, làm càn ngược lại đạo lý; lấy chuyện hung ác làm tài giỏi, nhẫn tâm gây điều tàn nhẫn hại người; | If instead someone acts contrary to righteousness and moves against principle, taking cruelty as cleverness and callously inflicting harm; |
| 19 | 陰賊良善,暗侮君親;慢其先生,叛其所事; | âm tặc lương thiện, ám vũ quân thân; mạn kỳ tiên sinh, bạn kỳ sở sự; | ngầm hãm hại người hiền lương, lén khinh nhờn bậc vua chúa và cha mẹ; khinh mạn thầy học, phản bội bậc mà mình đang thờ phụng hay phụng sự; | secretly injuring the upright and covertly slighting ruler or parents; treating teachers with disrespect and betraying those whom one serves; |
| 20 | 誑諸無識,謗諸同學;虛誣詐偽,攻訐宗親; | cuống chư vô thức, báng chư đồng học; hư vu trá ngụy, công kiết tông thân; | lừa gạt những người khờ khạo ít hiểu biết, gièm pha bạn đồng môn; bịa đặt dối trá, bới móc đấu tố người cùng họ hàng thân tộc; | deceiving the unlettered and slandering fellow students; fabricating falsehoods and harshly denouncing members of one's own clan; |
| 21 | 剛強不仁,狠戾自用;是非不當,向背乖宜; | cương cường bất nhân, ngận lệ tự dụng; thị phi bất đáng, hướng bội quai nghi; | cứng đầu hung hãn chẳng có lòng nhân, ngang ngược độc đoán chỉ làm theo ý riêng; khen chê phải trái sai lệch, theo ai bỏ ai đều trái lẽ phải; | being harsh, unfeeling, ruthless and obstinately self-willed; confusing right with wrong and turning toward or away from people against all propriety; |
| 22 | 虐下取功,諂上希旨;受恩不感,念怨不休; | ngược hạ thủ công, siểm thượng hy chỉ; thụ ân bất cảm, niệm oán bất hưu; | hà hiếp kẻ dưới để vơ công trạng, nịnh hót cấp trên để đón ý cầu may; nhận ân nghĩa mà chẳng mảy may cảm kích, ôm mối oán thù thì nhớ mãi không thôi; | oppressing subordinates to seize credit and flattering superiors to court their favor; feeling no gratitude for kindness received while nursing grievances without end; |
| 23 | 輕蔑天民,擾亂國政;賞及非義,刑及無辜; | khinh miệt thiên dân, nhiễu loạn quốc chính; thưởng cập phi nghĩa, hình cập vô cô; | coi rẻ dân lành của Trời, làm rối loạn việc trị nước; ban thưởng cho kẻ bất nghĩa, gia hình phạt lên người vô tội; | despising Heaven's common people and throwing state administration into disorder; rewarding the unrighteous and punishing the innocent; |
| 24 | 殺人取財,傾人取位;誅降戮服,貶正排賢; | sát nhân thủ tài, khuynh nhân thủ vị; tru hàng lục phục, biếm chính bài hiền; | giết người để cướp của cải, lật đổ người để chiếm ngôi vị; giết kẻ đã đầu hàng, tàn sát người đã quy phục, giáng chức người ngay thẳng, chèn ép bậc hiền tài; | murdering people to seize their wealth and toppling others to usurp their posts; slaughtering those who have surrendered, demoting the upright and pushing aside the worthy; |
| 25 | 凌孤逼寡,棄法受賂;以直為曲,以曲為直; | lăng cô bức quả, khí pháp thụ lộ; dĩ trực vi khúc, dĩ khúc vi trực; | ức hiếp trẻ mồ côi, bức bách người góa bụa, gạt bỏ phép nước để ăn của đút lót; đổi trắng thay đen, biến ngay thành cong, biến cong thành ngay; | bullying orphans and harassing widows, casting aside the law to take bribes; twisting what is straight into crooked and calling what is crooked straight; |
| 26 | 入輕為重,見殺加怒;知過不改,知善不為; | nhập khinh vi trọng, kiến sát gia nộ; tri quá bất cải, tri thiện bất vi; | khép tội nhẹ thành tội nặng, thấy người sắp chịu án tử hình còn nổi thêm cơn thịnh nộ; biết lỗi của mình mà không chịu sửa, biết việc lành mà không chịu làm; | turning light penalties into heavy sentences and flying into deeper rage at the sight of an execution; knowing one's own faults without amending them and knowing what is good without doing it; |
| 27 | 自罪引他,壅塞方術;訕謗聖賢,侵凌道德。 | tự tội dẫn tha, ủng tắc phương thuật; sản báng thánh hiền, xâm lăng đạo đức. | mình phạm tội lại lôi kéo đổ vấy cho người khác, cản trở bưng bít các nghề thuốc men phương thuật cứu người; chê bai phỉ báng bậc thánh hiền, xúc phạm lấn lướt người có đạo đức. | dragging innocent people into one's own guilt and obstructing healing arts and helpful skills; reviling sages and worthies and encroaching upon people of virtue. |
| 28 | 射飛逐走,發蟄驚棲;填穴覆巢,傷胎破卵; | Xạ phi trục tẩu, phát trập kinh thê; điền huyệt phúc sào, thương thai phá noãn; | Bắn chim đang bay, đuổi thú đang chạy, đào bới côn trùng đang ngủ đông, làm kinh động chim đang đậu ngủ trên cành; lấp hang thú, lật đổ tổ chim, làm hại thú mang thai và đập vỡ trứng; | Shooting birds on the wing and chasing beasts in flight, digging up hibernating creatures and startling roosting birds; stopping up burrows, overturning nests, injuring pregnant animals and breaking eggs; |
| 29 | 願人有失,毀人成功;危人自安,減人自益; | nguyện nhân hữu thất, hủy nhân thành công; nguy nhân tự an, giảm nhân tự ích; | thầm mong người khác thất bại, phá hoại việc người sắp thành; đẩy người vào chỗ nguy để giữ phần an cho mình, bớt xén của người để làm lợi cho riêng mình; | wishing failure upon others and spoiling their achievements; imperiling others to secure one's own safety and diminishing others to fatten oneself; |
| 30 | 以惡易好,以私廢公;竊人之能,蔽人之善; | dĩ ác dịch hảo, dĩ tư phế công; thiết nhân chi năng, tế nhân chi thiện; | đem đồ xấu tráo lấy đồ tốt, vì lợi riêng mà bỏ bê việc chung; đánh cắp tài năng công sức của người, che lấp điều hay nét tốt của người; | swapping bad goods for fine ones and neglecting public duty for private gain; stealing credit for others' abilities and concealing others' good deeds; |
| 31 | 形人之醜,訐人之私;耗人貨財,離人骨肉; | hình nhân chi xú, kiết nhân chi tư; hao nhân hóa tài, ly nhân cốt nhục; | bêu riếu tật xấu của người, phanh phui chuyện riêng tư thầm kín của người; làm hao tổn tiền của người khác, chia rẽ tình máu mủ ruột thịt nhà người; | publicizing others' blemishes and prying into their private secrets; draining others' property and dividing flesh-and-blood kin; |
| 32 | 侵人所愛,助人為非;逞志作威,辱人求勝; | xâm nhân sở ái, trợ nhân vi phi; sính chí tác uy, nhục nhân cầu thắng; | chiếm đoạt thứ người khác yêu quý, tiếp tay cho kẻ khác làm bậy; cậy ý riêng ra oai tác phúc, làm nhục người để giành phần hơn; | encroaching upon what others cherish and abetting others in wrongdoing; throwing one's weight around to intimidate people and humiliating others in order to prevail; |
| 33 | 敗人苗稼,破人婚姻;苟富而驕,苟免無恥; | bại nhân miêu giá, phá nhân hôn nhân; cẩu phú nhi kiêu, cẩu miễn vô sỉ; | phá hại lúa mạ mùa màng của người, chia rẽ phá vỡ duyên lành hôn nhân của người; mới giàu lên bất chính đã kiêu căng, may mắn thoát tội mà không chút hổ thẹn; | ruining others' young crops and breaking up arranged marriages; growing arrogant over ill-gotten wealth and feeling no shame after narrowly escaping punishment; |
| 34 | 認恩推過,嫁禍賣惡;沽買虛譽,包貯險心; | nhận ân thôi quá, giá họa mại ác; cô mãi hư dự, bao trữ hiểm tâm; | nhận vơ công ơn về mình, đùn đẩy lỗi lầm cho kẻ khác, gắp lửa bỏ tay người, gieo vạ bán ác; mua chuộc tiếng khen hão bên ngoài mà chất chứa lòng dạ hiểm độc bên trong; | claiming credit for favors while shifting blame onto others, passing off disaster and peddling malice; buying hollow praise while harboring a treacherous heart; |
| 35 | 挫人所長,護己所短;乘威迫脅,縱暴殺傷; | tỏa nhân sở trường, hộ kỷ sở đoản; thừa uy bách hiếp, túng bạo sát thương; | vùi dập sở trường của người, che đậy khuyết điểm của mình; mượn thế lực ép uổng người yếu, buông thả tính hung bạo giết chóc gây thương tích; | crushing others' strengths while shielding one's own flaws; riding on power to coerce the weak and giving free rein to violence and bloodshed; |
| 36 | 無故剪裁,非禮烹宰;散棄五穀,勞擾眾生; | vô cố tiễn tài, phi lễ phanh tể; tán khí ngũ cốc, lao nhiễu chúng sinh; | không có duyên cớ chính đáng mà cắt xén vải vóc phung phí, không đúng lễ tiết mà giết mổ nấu nướng sinh vật; vương vãi vứt bỏ thóc gạo ngũ cốc, làm nhọc nhằn quấy nhiễu muôn loài; | cutting cloth to waste without cause and slaughtering animals outside proper ritual bounds; scattering and wasting the five grains and exhausting living creatures; |
| 37 | 破人之家,取其財寶;決水放火,以害民居; | phá nhân chi gia, thủ kỳ tài bảo; quyết thủy phóng hỏa, dĩ hại dân cư; | làm tan nát nhà cửa người ta để chiếm đoạt của báu; tháo nước vỡ đê hoặc phóng lửa đốt phá làm hại xóm làng nơi dân ở; | ruining another's household to seize its treasure; breaching dikes or setting fires to destroy people's dwellings; |
| 38 | 紊亂規模,以敗人功;損人器物,以窮人用。 | vấn loạn quy mô, dĩ bại nhân công; tổn nhân khí vật, dĩ cùng nhân dụng. | xáo trộn phép tắc kế hoạch để làm hỏng công trình của người; làm hư hại đồ đạc dụng cụ khiến người khác lâm vào cảnh túng thiếu không có cái dùng. | throwing plans and standards into confusion so as to wreck others' work; damaging others' tools and utensils so as to leave them destitute of means. |
| 39 | 見他榮貴,願他流貶;見他富有,願他破散; | Kiến tha vinh quý, nguyện tha lưu biếm; kiến tha phú hữu, nguyện tha phá tán; | Thấy người khác vinh hiển sang trọng thì thầm mong họ bị lưu đày giáng chức; thấy người khác giàu có đủ đầy thì thầm mong họ khuynh gia bại sản; | Seeing others honored and noble, wishing them banished or disgraced; seeing others prosperous, wishing their wealth scattered and ruined; |
| 40 | 見他色美,起心私之;負他貨財,願他身死; | kiến tha sắc mỹ, khởi tâm tư chi; phụ tha hóa tài, nguyện tha thân tử; | thấy người có nhan sắc tươi đẹp liền khởi lòng tà vạy muốn chiếm riêng; mắc nợ tiền của người ta lại thầm cầu cho chủ nợ chết đi để khỏi trả; | seeing another's beauty and stirring up illicit designs in the heart; owing people money or goods and secretly wishing them dead; |
| 41 | 干求不遂,便生咒恨;見他失便,便說他過; | can cầu bất toại, tiện sinh chú hận; kiến tha thất tiện, tiện thuyết tha quá; | nhờ vả xin xỏ không được như ý liền sinh lòng nguyền rủa oán hận; thấy người gặp lúc sa cơ thất thế liền đem lỗi cũ của họ ra bàn tán chê bai; | nursing curses and hatred when a request is refused; seizing upon others' setbacks to recount their past faults; |
| 42 | 見他體相不具而笑之,見他才能可稱而抑之。 | kiến tha thể tướng bất cụ nhi tiếu chi, kiến tha tài năng khả xưng nhi ức chi. | thấy người thân thể khiếm khuyết tật nguyền thì đem ra cười cợt, thấy người có tài năng đáng khen ngợi thì tìm cách dìm xuống. | mocking those whose bodily form is impaired, and holding back those whose talent deserves praise. |
| 43 | 埋蠱厭人,用藥殺樹;恚怒師傅,抵觸父兄; | Mai cổ yểm nhân, dụng dược sát thụ; huế nộ sư phụ, để xúc phụ huynh; | Chôn bùa độc ngải dữ để trù yểm hại người, dùng thuốc độc làm chết cây cối; giận dữ hỗn xược với thầy dạy, cãi cọ chống đối cha và anh; | Burying venomous sorcery charms to hex people and using poison to kill trees; raging at teachers and masters and clashing with father and elder brothers; |
| 44 | 強取強求,好侵好奪;擄掠致富,巧詐求遷; | cưỡng thủ cưỡng cầu, hiếu xâm hiếu đoạt; lỗ lược trí phú, xảo trá cầu thiên; | ép lấy ép đòi, quen thói lấn chiếm cướp đoạt; vơ vét cướp bóc để làm giàu, dùng mưu ma chước quỷ để cầu thăng quan tiến chức; | seizing and demanding by force, delighting in encroachment and plunder; growing rich through pillage and seeking promotion through sly deceit; |
| 45 | 賞罰不平,逸樂過節;苛虐其下,恐嚇於他; | thưởng phạt bất bình, dật lạc quá tiết; hà ngược kỳ hạ, khủng hách ư tha; | thưởng phạt thiếu công bằng, ăn chơi hưởng lạc quá độ; khắc nghiệt tàn bạo với người dưới quyền, dọa nạt uy hiếp người chung quanh; | meting out rewards and punishments unfairly and indulging in pleasure beyond all measure; tyrannizing subordinates and intimidating others; |
| 46 | 怨天尤人,呵風罵雨;鬪合爭訟,妄逐朋黨; | oán thiên vưu nhân, ha phong mạ vũ; đấu hợp tranh tụng, vọng trục bằng đảng; | oán Trời trách người, mắng gió chửi mưa; xúi bẩy người ta kiện tụng tranh chấp, hùa theo bè đảng phe phái làm càn; | blaming Heaven and faulting others, scolding the wind and cursing the rain; stirring up lawsuits and blindly chasing factional cliques; |
| 47 | 用妻妾語,違父母訓;得新忘故,口是心非; | dụng thê thiếp ngữ, vi phụ mẫu huấn; đắc tân vong cố, khẩu thị tâm phi; | nghe lời xúi giục thiên lệch của vợ lẽ nàng hầu mà làm trái lời dạy bảo của cha mẹ; có mới nới cũ, ngoài miệng nói phải mà trong bụng nghĩ quấy; | heeding the partial words of wives or concubines to disobey parental instruction; welcoming the new while forgetting old friends, speaking agreement while inwardly dissenting; |
| 48 | 貪冒於財,欺罔其上;造作惡語,讒毀平人; | tham mạo ư tài, khi võng kỳ thượng; tạo tác ác ngữ, sàm hủy bình nhân; | tham lam liều lĩnh vì tiền của, lừa dối qua mặt bậc bề trên; đặt điều tiếng xấu xa, vu khống hãm hại người lương thiện vô tội; | grasping recklessly at wealth and deceiving superiors; fabricating malicious rumors to slander innocent people; |
| 49 | 毀人稱直,罵神稱正;棄順效逆,背親向疏; | hủy nhân xưng trực, mạ thần xưng chính; khí thuận hiệu nghịch, bội thân hướng sơ; | nói xấu chê bai người khác mà tự nhận mình thẳng thắn, mắng nhiếc thần linh mà tự xưng mình chính trực; bỏ điều thuận lẽ phải để bắt chước thói ngỗ ngược, quay lưng với người ruột thịt để chạy theo kẻ xa lạ; | maligning others while calling oneself candid, and reviling the spirits while calling oneself upright; casting aside what accords with right to imitate rebellion, turning away from close kin toward strangers; |
| 50 | 指天地以證鄙懷,引神明而鑒猥事。 | chỉ thiên địa dĩ chứng bỉ hoài, dẫn thần minh nhi giám ổi sự. | chỉ Trời vạch Đất bắt làm chứng cho bụng dạ thấp hèn, viện dẫn thần minh soi xét những chuyện nhơ bẩn đê tiện. | pointing to Heaven and Earth to witness base intentions, and calling upon luminous spirits to inspect sordid deeds. |
| 51 | 施與後悔,假借不還;分外營求,力上施設; | Thí dữ hậu hối, giả tá bất hoàn; phận ngoại doanh cầu, lực thượng thi thiết; | Bố thí cho người rồi lại tiếc rẻ hối hận, vay mượn của người rồi quỵt không trả; mưu cầu quá phận mình đáng hưởng, phô trương bày vẽ vượt quá sức mình; | Regretting charity after giving it and borrowing without returning; scheming after things beyond one's rightful lot and straining power for ostentatious display; |
| 52 | 淫慾過度,心毒貌慈;穢食餧人,左道惑眾; | dâm dục quá độ, tâm độc mạo từ; uế thực ủy nhân, tả đạo hoặc chúng; | đắm chìm dâm dục quá mức, lòng dạ độc ác mà vẻ mặt giả bộ hiền từ; lấy thức ăn ôi bẩn cho người khác ăn, đem tà thuật mê hoặc đám đông; | indulging in sexual excess, hiding a venomous heart behind a kindly face; feeding people tainted food and deluding the multitude with perverse arts; |
| 53 | 短尺狹度,輕秤小升;以偽雜真,採取姦利; | đoản xích hiệp độ, khinh xứng tiểu thăng; dĩ ngụy tạp chân, thái thủ gian lợi; | làm thước ngắn tấc hẹp, cân nhẹ đấu nhỏ; trộn hàng giả lẫn vào hàng thật để thu vén món lợi gian dối; | using shortened rulers, narrow measures, light steelyards and undersized dry-measures; mixing counterfeits into genuine goods to reap dishonest profit; |
| 54 | 壓良為賤,謾驀愚人;貪婪無厭,咒詛求直。 | áp lương vi tiện, man mạch ngu nhân; tham lam vô yếm, chú trở cầu trực. | chèn ép con nhà lương thiện xuống hàng nô tỳ hèn hạ, lừa phỉnh bắt chẹt người khờ dại; tham lam không bao giờ biết chán, thề độc nguyền rủa để giành phần phải về mình. | forcing freeborn people into base servitude and tricking simple folk; being insatiably greedy and swearing curses to claim the right. |
| 55 | 嗜酒悖亂,骨肉忿爭;男不忠良,女不柔順; | Thị tửu bội loạn, cốt nhục phẫn tranh; nam bất trung lương, nữ bất nhu thuận; | Ham mê rượu chè sinh làm càn loạn lễ, anh em máu mủ giận dữ tranh giành nhau; nam giới chẳng giữ lòng trung hậu lương thiện, nữ giới chẳng giữ nết ôn hòa hiền thuận; | Falling into drunken disorder and quarreling bitterly with one's own kin; men lacking loyalty and goodness, women lacking gentleness and harmony; |
| 56 | 不和其室,不敬其夫;每好矜誇,常行妒忌; | bất hòa kỳ thất, bất kính kỳ phu; mỗi hiếu căng khoa, thường hành đố kỵ; | sống chẳng thuận hòa với vợ, chẳng giữ lòng tôn kính với chồng; lúc nào cũng thích khoe khoang tự phụ, thường xuyên ôm thói ghen tuông đố kỵ; | failing to live in harmony with one's wife, or failing to show respect toward one's husband; delighting constantly in boasting and habitually practicing jealousy; |
| 57 | 無行於妻子,失禮於舅姑;輕慢先靈,違逆上命; | vô hạnh ư thê tử, thất lễ ư cữu cô; khinh mạn tiên linh, vi nghịch thượng mệnh; | cư xử thiếu đứng đắn với vợ con, thất lễ với cha mẹ chồng; khinh nhờn vong linh tổ tiên, cãi lời sai khiến hợp đạo của bậc bề trên; | behaving unworthily toward wife and children, or breaching proper courtesy toward parents-in-law; slighting ancestral spirits and defying rightful orders from superiors; |
| 58 | 作為無益,懷挾外心;自咒咒他,偏憎偏愛; | tác vi vô ích, hoài hiệp ngoại tâm; tự chú chú tha, thiên tăng thiên ái; | bày trò vô bổ không ích lợi, ngấm ngầm mang lòng hai mặt phản trắc; tự nguyền rủa mình rồi nguyền rủa người khác, yêu ghét thiên vị bất công; | busying oneself with useless pursuits while harboring a divided, disloyal heart; cursing oneself and cursing others, loving and hating with biased partiality; |
| 59 | 越井越竈,跳食跳人;損子墮胎,行多隱僻; | việt tỉnh việt táo, khiêu thực khiêu nhân; tổn tử đọa thai, hành đa ẩn tịch; | bước trèo qua miệng giếng và bếp lửa, nhảy bước qua mâm cơm và qua người đang nằm; hủy hại con thơ, phá bỏ thai nhi, làm nhiều việc mờ ám khuất tất; | stepping over wells and stepping over hearths, leaping over food and over reclining people; harming infants, aborting fetuses and acting in furtive, crooked ways; |
| 60 | 晦臘歌舞,朔旦號怒;對北涕唾及溺,對竈吟詠及哭; | hối lạp ca vũ, sóc đán hào nộ; đối bắc thế thóa cập niệu, đối táo ngâm vịnh cập khốc; | vào ngày cuối tháng và ngày lễ Lạp cuối năm lại ca hát nhảy múa, sáng mồng một đầu tháng lại gào thét giận dữ; quay mặt về phương Bắc xì mũi, khạc nhổ và tiểu tiện, quay trước bếp lửa mà ngâm nga hoặc khóc lóc; | singing and dancing on the last day of the month or on the year-end La sacrifice day, shouting in anger at dawn on the new moon; spitting, blowing the nose or urinating while facing north, and chanting or weeping toward the hearth; |
| 61 | 又以竈火燒香,穢柴作食;夜起裸露,八節行刑; | hựu dĩ táo hỏa thiêu hương, uế sài tác thực; dạ khởi lỏa lộ, bát tiết hành hình; | lại lấy lửa trong bếp đun nấu đem đốt hương cúng, dùng củi dơ uế để thổi nấu thức ăn; ban đêm thức dậy để mình trần truồng không che đậy, vào tám ngày tiết lớn giao mùa lại đem người ra hành hình; | lighting incense from kitchen stove fire and cooking meals with filthy firewood; rising naked in the night and carrying out executions on the eight seasonal nodes; |
| 62 | 唾流星,指虹霓;輒指三光,久視日月; | thóa lưu tinh, chỉ hồng nghê; triếp chỉ tam quang, cửu thị nhật nguyệt; | khạc nhổ khi thấy sao băng, đưa ngón tay trỏ vào cầu vồng; tùy tiện chỉ trỏ vào mặt trời, mặt trăng và tinh tú, nhìn chằm chằm thật lâu vào mặt trời và mặt trăng; | spitting at shooting stars and pointing at rainbows; casually pointing at the Three Luminaries and staring fixedly at the sun and moon; |
| 63 | 春月燎獵,對北惡罵,無故殺龜打蛇。 | xuân nguyệt liệu liệp, đối bắc ác mạ, vô cố sát quy đả xà. | vào những tháng mùa xuân muôn vật sinh sôi lại đốt rừng săn bắn, quay về phương Bắc buông lời chửi rủa độc địa, không có duyên cớ gì mà giết rùa đánh rắn. | setting brushfires to hunt in the months of spring, hurling curses toward the north, and killing tortoises or striking snakes without cause. |
| 64 | 如是等罪,司命隨其輕重,奪其紀算。算盡則死;死有餘責,乃殃及子孫。 | Như thị đẳng tội, Tư Mệnh tùy kỳ khinh trọng, đoạt kỳ kỷ toán. Toán tận tắc tử; tử hữu dư trách, nãi ương cập tử tôn. | Các tội lỗi như thế, thần Tư Mệnh tùy theo mức nặng nhẹ mà tước bớt số kỷ, số toán. Số toán cạn hết thì chết; khi chết rồi mà món nợ tội lỗi vẫn còn dư, tai ương liền lan xuống con cháu. | For offenses such as these, the Arbiter of Destiny deducts twelve-year epochs or shorter counts according to their gravity. When the allotted count runs out, death follows; if unexpiated guilt remains at death, calamity extends to children and grandchildren. |
| 65 | 又諸橫取人財者,乃計其妻子家口以當之,漸至死喪;若不死喪,則有水火盜賊,遺亡器物,疾病口舌諸事,以當妄取之值。 | Hựu chư hoành thủ nhân tài giả, nãi kế kỳ thê tử gia khẩu dĩ đương chi, tiệm chí tử tang; nhược bất tử tang, tắc hữu thủy hỏa đạo tặc, di vong khí vật, tật bệnh khẩu thiệt chư sự, dĩ đương vọng thủ chi trị. | Lại những kẻ ngang ngược chiếm đoạt tiền của người khác, thần minh sẽ tính sang vợ con và người trong nhà kẻ ấy để gánh trả tương ứng, dần dần dẫn tới chết chóc tang tóc; nếu chưa tới mức chết chóc thì cũng gặp nạn nước trôi, lửa cháy, trộm cướp, đánh mất đồ đạc, đau ốm bệnh tật và tai tiếng kiện tụng, vừa khớp để đền bù giá trị số của cải đã lấy càn. | Again, when people seize others' wealth by force or injustice, the spirits reckon the value against their wives, children and household members until death and mourning gradually ensue; even if death does not occur, disasters of flood, fire, banditry, lost goods, illness and slander arise to match the worth of what was wrongfully taken. |
| 66 | 又枉殺人者,是易刀兵而相殺也。取非義之財者,譬如漏脯救飢,鴆酒止渴;非不暫飽,死亦及之。 | Hựu uổng sát nhân giả, thị dịch đao binh nhi tương sát dã. Thủ phi nghĩa chi tài giả, thí như lậu phủ cứu cơ, trậm tửu chỉ khát; phi bất tạm bão, tử diệc cập chi. | Lại kẻ giết oan người vô tội thì chẳng khác nào đổi gươm đao cho nhau để rồi chuốc lấy cảnh chém giết lẫn nhau. Kẻ vơ vét của cải phi nghĩa chẳng khác nào ăn thịt khô nhiễm độc dưới mái nhà dột để cứu đói, uống rượu ngâm lông chim trậm kịch độc để giải khát; chẳng phải không no bụng đỡ khát trong chốc lát, nhưng cái chết cũng lập tức ập tới. | Those who wrongfully put innocent people to death are merely trading blades for mutual slaughter. Those who take unrighteous wealth are like someone relieving hunger with poisoned meat from under a leaky roof or quenching thirst with deadly feather-poisoned wine: though hunger pauses for a moment, death overtakes them all the same. |
| 67 | 夫心起於善,善雖未為,而吉神已隨之;或心起於惡,惡雖未為,而凶神已隨之。 | Phù tâm khởi ư thiện, thiện tuy vị vi, nhi cát thần dĩ tùy chi; hoặc tâm khởi ư ác, ác tuy vị vi, nhi hung thần dĩ tùy chi. | Phàm lòng người vừa dấy lên một ý thiện, việc thiện tuy chưa kịp làm ra bên ngoài mà thần lành đã đi theo hộ trì; hoặc lòng vừa dấy lên một ý ác, việc ác tuy chưa kịp làm mà thần dữ đã bám theo bên cạnh. | Whenever the heart stirs toward good, though the good deed has not yet been performed, auspicious spirits already attend that person; whenever the heart stirs toward evil, though the evil deed has not yet been carried out, baleful spirits already trail behind. |
| 68 | 其有曾行惡事,後自改悔,諸惡莫作,眾善奉行,久久必獲吉慶,所謂轉禍為福也。 | Kỳ hữu tằng hành ác sự, hậu tự cải hối, chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, cửu cửu tất hoạch cát khánh, sở vị chuyển họa vi phúc dã. | Nếu có người trước kia từng trót làm điều ác, về sau biết tự ăn năn hối cải, các điều ác chớ làm, các điều lành vâng giữ thực hành, bền bỉ lâu ngày ắt gặt hái điều lành may mắn; đó chính là chuyển tai họa thành phúc lành vậy. | Yet if someone who formerly committed evil deeds afterward repents and amends, refraining from every evil and practicing every good, persisting over a long time they will surely obtain blessing and felicity; this is what is meant by turning misfortune into blessing. |
| 69 | 故吉人語善,視善,行善,一日有三善,三年天必降之福。 | Cố cát nhân ngữ thiện, thị thiện, hành thiện, nhất nhật hữu tam thiện, tam niên thiên tất giáng chi phúc. | Cho nên người hiền lành nói lời thiện, nhìn điều thiện, làm việc thiện, mỗi một ngày có đủ ba điều thiện ấy, trọn ba năm Trời ắt giáng phúc lành cho. | Therefore the auspicious person speaks what is good, looks upon what is good and practices what is good; accomplishing three good things each day, within three years Heaven will surely send down blessing. |
| 70 | 凶人語惡,視惡,行惡,一日有三惡,三年天必降之禍。胡不勉而行之? | Hung nhân ngữ ác, thị ác, hành ác, nhất nhật hữu tam ác, tam niên thiên tất giáng chi họa. Hồ bất miễn nhi hành chi? | Kẻ hung dữ nói lời ác, nhìn điều ác, làm việc ác, mỗi một ngày có ba điều ác ấy, trọn ba năm Trời ắt giáng tai họa xuống. Sao người đời chẳng gắng sức mà thực hành điều thiện đi? | The perverse person speaks what is evil, looks upon what is evil and practices what is evil; committing three evil things each day, within three years Heaven will surely send down calamity. Why not exert oneself and put this into practice? |
IIIGiải Nghĩa Chi Tiết Từng Đoạn Cốt Lõi
Vì nguyên văn dài tới 70 câu nhưng nửa sau gồm nhiều cặp bốn chữ tự giải thích lẫn nhau rất rõ trên bảng Toàn Văn, phần dưới đây đi sâu giải nghĩa mười đoạn trụ cột chứa các khái niệm thần học, vũ trụ học, điển cố cổ văn và mạch chuyển tư tưởng quan trọng nhất của toàn thiên.
Trong bộ chú giải ba mươi quyển đời Nam Tống, Lý Xương Linh gọi mười sáu chữ này là tổng cương của toàn thiên, còn toàn bộ hơn một nghìn hai trăm chữ phía sau chỉ là phần triển khai chi tiết. Chữ vô môn (không có cánh cửa cố định) bác bỏ thuyết định mệnh máy móc cho rằng giàu nghèo thọ yểu đã đóng đinh cứng nhắc không sao đổi được; chữ tự triệu (tự mình vẫy gọi mời tới) đặt trọn trách nhiệm đạo đức về phía chủ thể con người.
Hình ảnh như ảnh tùy hình (như bóng đi theo hình) giải thích tính khách quan của cảm ứng: chiếc bóng không hề có lòng thương hay ghét thân hình, nhưng thân đứng thẳng thì bóng thẳng, thân cong vẹo thì bóng cong, không mảy may sai lệch và không ai xin xỏ chiếc bóng đứng thẳng thay cho một tấm thân cong được.
Từ nguyên lý cảm ứng vô hình, Đạo Giáo cụ thể hóa thành mạng lưới thần linh giám sát trong không gian vũ trụ. Tư Quá chi thần là các vị thần chuyên trách ghi chép lỗi lầm tuần du trong trời đất. Tam Đài là sáu ngôi sao chia làm ba bậc Thượng Đài, Trung Đài, Hạ Đài (theo thiên văn cổ chủ quản tước lộc và sinh mệnh con người); Bắc Đẩu thần quân là chùm bảy ngôi sao Bắc Đẩu mà kinh điển Đạo Giáo coi là trung tâm điều vận sinh tử, gắn liền với câu ngạn ngữ Đạo gia Nam Đẩu chú sinh, Bắc Đẩu chú tử.
Chi tiết tại nhân đầu thượng (ngự ngay trên đỉnh đầu con người, tương ứng câu tục ngữ dân gian ngẩng đầu ba thước có thần minh) nhắc rằng không có khoảng không nào nằm ngoài sự chứng giám của trời đất.
Nếu Bắc Đẩu ngự trên cao ngoài vũ trụ, thì Tam Thi và Táo thần lại giám sát ngay bên trong thân xác và ngay giữa nếp nhà. Theo đạo học dưỡng sinh thời Lục Triều (đặc biệt trong Bão Phác Tử và Vân Cấp Thất Thiêm), trong cơ thể mỗi người có ba vị thần Tam Thi (còn gọi là Tam Bành): Thượng thi tên Bành Cứ ở đầu làm người ta mê muội danh lợi sắc đẹp; Trung thi tên Bành Chất ở bụng làm người ta tham ăn uống và dễ nổi giận; Hạ thi tên Bành Kiểu ở chân làm người ta đắm sắc dục. Cứ sáu mươi ngày một vòng Can Chi, vào đêm ngày Canh Thân khi con người ngủ say, Tam Thi liền thoát ra khỏi thân xác bay lên thiên tào tâu hết lỗi lầm thầm kín để mong chủ nhân sớm chết đặng chúng được tự do. Từ đó sinh ra tục thủ Canh Thân (thức trắng đêm Canh Thân tĩnh tọa giữ tâm thanh tịnh) rất nổi tiếng ở Trung Hoa, Nhật Bản (tục Kōshin) và giới đạo sĩ Đông Á.
Cùng với Tam Thi, Táo thần (vị thần Bếp đứng đầu gia trạch) vào ngày nguyệt hối (ngày cuối cùng của mỗi tháng âm lịch, tức 29 hoặc 30 tháng) cũng lên thiên đình tâu việc thiện ác của cả nhà. Đơn vị trừ tuổi thọ ở đây lấy từ Bão Phác Tử Nội Thiên: một kỷ 紀 là mười hai năm (tương ứng một vòng Tuế tinh Mộc tinh quay quanh bầu trời, tức 4.320 ngày theo cách tính chẵn 360 ngày một năm của cổ lịch); còn một toán 算 được Cát Hồng chú là ba ngày, trong khi Lý Xương Linh dẫn thêm thuyết khác tính một toán là một trăm ngày.
Đoạn khắc họa bậc thiện nhân mở đầu bằng hai nguyên tắc tự chủ sắc bén: lấy chính chữ Đạo làm ranh giới bước tới hay lùi lại, và bất khi ám thất (chẳng dối lừa nơi buồng tối không ai nhìn thấy), tương thông trực tiếp với công phu thận kỳ độc (cẩn trọng khi ở một mình) của sách Đại Học và Trung Dung bên Nho gia.
Đáng chú ý là đạo đức của Cảm Ứng Thiên không đóng khung trong xã hội loài người mà mở rộng sang sinh thái tự nhiên qua câu côn trùng thảo mộc, do bất khả thương (ngay cả sâu bọ cỏ cây cũng chẳng nỡ làm hại vô cớ), và nâng lên tầm tu dưỡng tâm lý tinh tế của Lão Tử qua câu thụ nhục bất oán, thụ sủng nhược kinh (nhận ân sủng mà giật mình lo sợ như bước lên mép vực, lấy thẳng ý chương 13 Đạo Đức Kinh: sủng nhục nhược kinh).
Câu này nối thẳng việc tu tiên của Đạo Giáo với đạo đức giữa đời thường, kế thừa trực tiếp thiên Đối Tục (quyển 3) của Bão Phác Tử Nội Thiên (trong sách gốc Cát Hồng ghi bậc địa tiên cần lập ba trăm điều thiện, bậc thiên tiên cần lập một nghìn hai trăm điều thiện, sang Cảm Ứng Thiên nâng lên một nghìn ba trăm điều thiện). Thời Đông Tấn, nhiều phương sĩ tưởng rằng chỉ cần luyện thần đan thuốc trường sinh hay tập khí công đạo dẫn trên núi sâu là thành tiên, bất kể ăn ở với đời ra sao. Cát Hồng và Cảm Ứng Thiên khẳng định ngược lại: người tu tiên mà không tích đủ ba trăm điều thiện cho bậc địa tiên hoặc một nghìn ba trăm điều thiện cho bậc thiên tiên, lại phạm dù chỉ một điều ác giữa chừng thì bao nhiêu công phu luyện đan đều đổ sông đổ biển. Chính con số định lượng 300 và 1.300 này về sau đã gợi hứng cho các đạo sĩ và nho sĩ lập ra sổ Công Quá Cách (bảng cộng điểm công và trừ điểm lỗi mỗi tối).
Lớp tội lỗi đầu tiên trong danh mục phản diện nhắm thẳng vào tầng lớp cầm quyền, quan lại xử án và kẻ sĩ có chữ nghĩa (từ câu 18 tới câu 27). Bản văn gọi dân thường là thiên dân (dân của Trời), nên kẻ làm quan coi rẻ dân, nhận hối lộ bẻ cong pháp luật (khí pháp thụ lộ, dĩ trực vi khúc), tự ý nâng tội nhẹ thành tội nặng (nhập khinh vi trọng), hoặc khi chứng kiến việc hành quyết tù nhân đáng lẽ phải thương xót như lời Tăng Tử dặn (ai căng vật hỷ) mà lại quát tháo giận dữ thêm (kiến sát gia nộ) đều bị xếp vào hàng trọng tội đầu bảng. Điều này giải thích vì sao các triều đại Tống, Minh, Thanh thường in cuốn sách này phát cho quan lại địa phương đặt ngay trên bàn công đường.
Từ chốn quan trường, bản văn đi sâu vào đời sống sinh kế dân gian và đạo đức thương trường (câu 28 tới câu 54). Ở chiều kích tự nhiên, bốn câu xạ phi trục tẩu, phát trập kinh thê, điền huyệt phúc sào, thương thai phá noãn kết tinh truyền thống bảo vệ sinh thái mùa sinh sản có từ thiên Nguyệt Lệnh trong sách Lễ Ký hợp cùng lòng từ bi Đạo Phật: không săn giết chim đang ấp, thú đang mang bầu, không đào hang côn trùng ngủ đông, không đốt rừng săn thú vào tháng xuân (xuân nguyệt liệu liệp).
Ở chiều kích chợ búa, những câu như đoản xích hiệp độ, khinh xứng tiểu thăng, dĩ ngụy tạp chân (thước ngắn cân non, đấu đong ăn bớt, trộn hàng giả vào hàng thật) hay kiến tha sắc mỹ khởi tâm tư chi, phụ tha hóa tài nguyện tha thân tử (thấy sắc đẹp khởi tà tâm, vay nợ chỉ mong chủ nợ chết đi) phơi bày trần trụi những góc khuất thực tế nhất của xã hội thị dân thời Tống Minh mà đọc lại ở bất cứ thời đại nào vẫn thấy sống động.
Đoạn từ câu 59 tới câu 63 gom các điều răn về lễ nghi thân thể và sự tôn kính trật tự vũ trụ trong Đạo Giáo cổ truyền. Để không đọc nhầm thành những điều cấm đoán kỳ lạ vô căn cứ, cần hiểu bản đồ không gian thiêng đằng sau chúng: trong vũ trụ quan Đạo Giáo, phương Bắc là nơi ngự trị của sao Bắc Cực Tử Vi Đại Đế và Bắc Đẩu Thất Tinh chủ quản sinh tử, nên quay mặt về phương Bắc khạc nhổ, phóng uế hay chửi bới bị coi là báng bổ ngôi Bắc Thần. Tam Quang (mặt trời, mặt trăng, tinh tú) là tinh hoa của trời đất, còn giếng nước và bếp lửa có thần Tỉnh và thần Táo coi giữ sự sống hằng ngày của cả gia đình, nên bước trèo qua bếp qua giếng, lấy lửa nấu ăn tạp uế đem châm hương hay gào khóc trước bếp đều phạm tội bất kính.
Riêng câu vô cố sát quy đả xà (không cớ gì mà giết rùa đánh rắn) vừa gắn với quan niệm rùa rắn là hai linh vật quy xà hợp thành biểu tượng Huyền Vũ (Chân Vũ Đại Đế trấn phương Bắc), vừa mang chữ vô cố (vô cớ) để phân biệt việc tự vệ bất đắc dĩ trước rắn độc với thói tàn sát sinh vật hiền lành cho vui tay.
Đoạn này dùng hai điển cố y học cổ Trung Hoa cực mạnh để cảnh tỉnh lòng tham của cải bất chính. Lậu phủ 漏脯 là miếng thịt khô treo dưới mái nhà dột, nước mưa thấm qua cỏ tranh mục nát nhỏ xuống làm thịt sinh độc tố chết người (sách Luận Hành của Vương Sung đời Hán từng nhắc thịt khô dưới mái dột độc chẳng kém gan ngựa độc). Trậm tửu 鴆酒 là thứ rượu ngâm lông loài chim trậm truyền thuyết ăn rắn độc, uống vào đứt ruột mà chết ngay. Của cải tham nhũng hay lừa đảo bề ngoài giải quyết cơn đói khát giàu sang trước mắt rất nhanh, song độc tính nhân quả nằm sẵn ngay trong miếng ăn ấy.
Bốn câu cuối cùng (câu 67 tới câu 70) nâng toàn bộ tác phẩm từ sổ luật thưởng phạt bên ngoài lên triết lý khởi tâm động niệm bên trong. Không cần đợi tới lúc tay làm xong việc thiện hay việc ác, ngay khoảnh khắc một ý niệm lành hay dữ vừa chớm khởi nơi tâm (tâm khởi ư thiện, tâm khởi ư ác), khí trường của người ấy đã cảm thông với cát thần hoặc hung thần rồi.
Quan trọng hơn cả, nếu phần giữa bài nghiêm khắc bao nhiêu thì đoạn kết lại mở rộng cánh cửa hy vọng bấy nhiêu: quá khứ từng phạm lỗi nặng vẫn có thể chuyển họa vi phúc (xoay chuyển tai họa thành phúc lành) nhờ thành tâm ăn năn và thực hành tám chữ kinh điển mượn từ Phật giáo chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành (các điều ác chớ làm, các điều lành vâng làm). Công thức thực hành cuối sách giản dị tới mức ai cũng làm được ngay hôm nay: không đòi hỏi tiền bạc quyền thế, chỉ cần mỗi ngày giữ ba cửa miệng nói điều lành, mắt nhìn điều lành, thân làm điều lành (ngữ thiện, thị thiện, hành thiện), tích lũy bền bỉ ba năm (khoảng một nghìn ngày, xấp xỉ hơn ba nghìn điều thiện nhỏ) thì vận mệnh tự khắc đổi thay.
IVCơ Chế Thần Giám Và Trào Lưu Sổ Công Quá Cách Đời Minh Thanh
Đọc Thái Thượng Cảm Ứng Thiên dưới lăng kính lịch sử tôn giáo Đông Á, có hai cơ chế đặc sắc làm nên sức sống lâu bền của bản văn: hệ thống kiểm toán đạo đức đa tầng trong vũ trụ quan Đạo Giáo và phương pháp tự tu bằng sổ Công Quá Cách 功過格.
Về mặt thần học, bản văn thiết lập một trật tự giám sát ba vòng đồng tâm không kẽ hở. Vòng ngoài cùng là bầu trời tinh đẩu với sao Tam Đài, sao Bắc Đẩu và thần Tư Quá, Tư Mệnh đại diện cho quy luật công minh của Thiên đạo (ứng với câu chương 79 Đạo Đức Kinh: Thiên đạo vô thân, thường dữ thiện nhân, đạo Trời không thiên vị ai, hằng giúp người lành). Vòng thứ hai là không gian gia đình với vị thần Bếp (Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân) chứng kiến trọn vẹn cách đối xử giữa vợ chồng, cha mẹ, con dâu, tôi tớ trong nhà rồi báo cáo vào ngày cuối tháng. Vòng trong cùng nằm ngay trong máu thịt và hơi thở của mỗi cá nhân với ba vị thần Tam Thi tâu báo vào ngày Canh Thân, và sâu hơn nữa là chính tâm niệm tự biết của người ấy ngay khi ý thiện ác vừa chớm nở.
Từ mệnh đề lập một nghìn ba trăm điều thiện và ba trăm điều thiện cùng thông báo lỗi lớn nhỏ có tới mấy trăm việc trong Cảm Ứng Thiên, đến năm 1171 (niên hiệu Đại Định thứ mười một nhà Kim ở phương Bắc, đồng thời với Nam Tống ở phương Nam), đạo sĩ Hựu Huyền Tử đã biên soạn cuốn Thái Vi Tiên Quân Công Quá Cách gắn với truyền thống Tịnh Minh Đạo, quy đổi từng hành vi thiện ác thành điểm cộng (công) và điểm trừ (quá) cụ thể. Sang đời Minh và đời Thanh, các danh sĩ và thiền sư như Vân Thê Châu Hoằng (Liên Trì đại sư, soạn Tự Tri Lục) và đặc biệt là Viên Hoàng (hiệu Viên Liễu Phàm, 1533 tới 1606, tác giả cuốn Liễu Phàm Tứ Huấn nổi tiếng) đã phổ biến lối ghi sổ tự kiểm mỗi tối ra khắp tầng lớp nho sinh và thương nhân.
Theo tự truyện trong Liễu Phàm Tứ Huấn, Viên Hoàng ban đầu được một vị cao nhân họ Khổng dùng phép Hoàng Cực Kinh Thế đoán trúng từng kỳ thi, từng bổng lộc thóc gạo và đoán ông thọ năm mươi ba tuổi không có con nối dõi. Sau khi gặp thiền sư Vân Cốc năm 1569 và được trao cuốn Cảm Ứng Thiên cùng sổ Công Quá Cách để phát nguyện làm ba nghìn điều thiện rồi một vạn điều thiện, ông đỗ Tiến sĩ, sinh con trai nối dõi và sống tới bảy mươi tư tuổi. Dù người đọc hiện đại nhìn câu chuyện ấy từ góc độ niềm tin tôn giáo hay từ góc độ tâm lý học tự rèn luyện nhân cách, sử liệu cho thấy chính Thái Thượng Cảm Ứng Thiên là hạt nhân thúc đẩy hàng vạn hội từ thiện cứu đói, sửa cầu đường, lập nghĩa trang, chuộc mạng sinh vật và mở trường học miễn phí tại Trung Hoa, Triều Tiên và Việt Nam suốt nhiều thế kỷ.
VSự Dung Hợp Tam Giáo Và Dấu Ấn Cảm Ứng Thiên Tại Việt Nam
Một lý do khiến Thái Thượng Cảm Ứng Thiên được đón nhận rộng rãi vượt khỏi giới đạo sĩ chuyên tu là khả năng dung hợp nhuần nhuyễn cả Tam giáo Nho, Phật, Đạo trong cùng một bản văn. Gốc rễ trường sinh, thần tiên, Tam Thi, Bắc Đẩu là của Đạo Giáo; hệ thống nhân luân trung hiếu hữu đễ, chính kỷ hóa nhân, bất khi ám thất là cốt tủy của Nho Giáo; còn lời khuyên từ tâm ư vật, không sát hại thai trứng và điệp khúc chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành (vốn là bài kệ Thất Phật Thông Giới Kệ trong Kinh Pháp Cú và Kinh Tăng Nhất A Hàm) lại là ngôn ngữ quen thuộc bậc nhất của Phật Giáo. Nhờ thế, nhà nho đọc thấy đạo tu thân trị thế, Phật tử đọc thấy luật nhân quả nghiệp báo, người bình dân đọc thấy lẽ ăn ở phúc đức để lại cho con cháu.
Tại Việt Nam, Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (thường in chung thành bộ ba thiện thư gọi là Tam Thánh Kinh gồm Thái Thượng Cảm Ứng Thiên, Văn Xương Đế Quân Âm Chất Văn và Quan Thánh Đế Quân Giác Thế Chân Kinh) phát triển đặc biệt mạnh mẽ từ thế kỷ mười tám sang đầu thế kỷ hai mươi. Kho mộc bản Hán Nôm hiện còn lưu giữ tại đền Ngọc Sơn giữa hồ Hoàn Kiếm, chùa Bà Đá, chùa Lý Triều Quốc Sư ở Hà Nội và kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn bảo tồn nhiều bản khắc Thái Thượng Cảm Ứng Thiên Đồ Thuyết, Cảm Ứng Thiên Tập Chú cùng các bản diễn Nôm lục bát hoặc song thất lục bát của các hội thiện sĩ Hà Nội như Hướng Thiện hội, Tập Thiện đường do các bậc khoa bảng như Vũ Tông Phan, Nguyễn Văn Siêu khởi xướng.
Ở miền Nam, từ cuối thế kỷ mười chín sang thế kỷ hai mươi, các thiện đàn thuộc hệ phái Minh Sư Đạo và Ngũ Chi Minh Đạo (Minh Sư, Minh Lý, Minh Đường, Minh Thiện, Minh Tân) cũng như không gian tín ngưỡng tại các ngôi miếu cổ vùng Chợ Lớn và Gia Định như chùa Ngọc Hoàng (Phước Hải Tự) đặt Cảm Ứng Thiên làm sách gối đầu giường để giảng đạo khuyến thiện, rồi dịch sang chữ Quốc ngữ in biếu rộng rãi. Ở miền Bắc, truyền thống thờ Huyền Thiên Trấn Vũ phương Bắc tại đền Quán Thánh với biểu tượng rùa rắn quấn gốc kiếm hay di tích đạo quán xưa như Bích Câu Đạo Quán cũng giúp người đọc Việt Nam hiểu ngay bối cảnh văn hóa đằng sau câu cấm vô cớ giết rùa đánh rắn và lòng tôn kính phương Bắc trong bài kinh.
Sâu đậm hơn cả là mối liên hệ với tục cúng ông Công ông Táo của người Việt. Trong nguyên văn câu thứ sáu, thần Táo lên chầu trời vào ngày nguyệt hối cuối mỗi tháng; sang phong tục dân gian Đông Á và Việt Nam, nhịp tâu báo hằng tháng ấy lắng đọng đậm nhất vào lễ tiễn Táo Quân về trời ngày 23 tháng Chạp hằng năm để tâu bày trọn vẹn việc thiện ác trong bếp lửa gia đình suốt một năm qua.
VICách Đọc Tụng Và Ứng Dụng Trong Truyền Thống
Khác với những khoa nghi mật truyền chỉ dành cho đạo sĩ thụ lục trên đàn tràng, Thái Thượng Cảm Ứng Thiên từ xưa vốn là bản kinh mở rộng cửa cho mọi tầng lớp tự đọc, tự đối chiếu và truyền trao trong đời sống thường nhật.
Theo lời khuyên của các bậc tiền bối như Chân Đức Tú đời Tống và Viên Liễu Phàm đời Minh, người học đặt cuốn sách ngay trên bàn đọc sách, mỗi sáng hoặc trước khi đi ngủ rửa tay ngay ngắn đọc chậm toàn văn trong khoảng mười tới mười lăm phút. Không đọc lướt lấy số lượng, mà dùng hơn trăm điều răn trong sách làm tấm gương rà soát lại lời ăn tiếng nói và ý nghĩ của mình trong ngày.
Tại các đạo quán, thiện đường và gia đình theo truyền thống Đạo Giáo hoặc Tam giáo đồng nguyên, tín chúng thường tụng Cảm Ứng Thiên trước bàn thờ Tam Thanh, Ngọc Hoàng hoặc Táo Quân vào ngày mồng một (sóc), ngày rằm (vọng), ngày cuối tháng âm lịch (nguyệt hối) và ngày Canh Thân trong lịch sáu mươi Hoa Giáp để nhắc tâm tỉnh thức.
Trong giáo dục gia đình xưa, người lớn thường dùng các bản Cảm Ứng Thiên Đồ Thuyết có tranh khắc gỗ kèm tích truyện lịch sử cho từng câu (như chuyện cứu tổ kiến, chuyện trả lại của rơi, chuyện quan thanh liêm minh oan cho người bị vu cáo) để giảng giải cho thanh thiếu niên hiểu lẽ nhân quả bằng hình ảnh cụ thể.
Sao chép, khắc ván hoặc in biếu miễn phí Cảm Ứng Thiên (gọi là ấn tống thiện thư) từ thời Tống tới nay được coi là một pháp bố thí lời lành. Cùng với đó là bài tập thực tế ở cuối sách: mỗi ngày tự giữ cho miệng nói một lời xây dựng, mắt nhìn nét tốt của người khác, tay làm một việc giúp đời.
Để đặt bản văn này bên cạnh các kinh điển trụ cột khác của Đạo gia và Đạo Giáo, quý vị có thể xem tổng quan lịch sử giáo phái tại trang trụ Đạo Giáo, đọc tư tưởng triết học gốc của Lão Tử tại Đạo Đức Kinh (đặc biệt cụm chương cuối Đạo Đức Kinh chương 73 tới 81 có câu đạo Trời hằng giúp người thiện), hoặc đối chiếu pháp quán tâm thanh tịnh trong khóa tụng hằng ngày tại Thanh Tịnh Kinh.
VIINhững Chỗ Hay Hiểu Lầm Khi Đọc Thái Thượng Cảm Ứng Thiên
Vì tác phẩm ra đời cách nay gần một thiên niên kỷ và kết hợp đạo đức học với vũ trụ quan thần tiên cổ đại, người đọc hiện đại rất dễ vướng vào sáu ngộ nhận dưới đây.
Ba chữ Thái Thượng viết ở đầu bài là lối thác danh tôn kính phổ biến trong kinh điển Đạo Giáo tôn thờ Thái Thượng Lão Quân. Xét về ngôn ngữ và sử liệu, bản văn sử dụng thuật ngữ Phật giáo Hán dịch (như chúng sinh, chư ác mạc tác chúng thiện phụng hành) và ghép nối các đoạn của Bão Phác Tử thời Đông Tấn, định hình hoàn chỉnh vào thời Bắc Tống sang Nam Tống, muộn hơn Lão Tử lịch sử hơn một nghìn năm trăm năm.
Thấy truyền thống Công Quá Cách cộng điểm công trừ điểm lỗi, một số người hiểu lầm việc thiện ác giống như món hàng mặc cả: ban ngày lừa đảo buôn gian rồi trích một phần tiền bất nghĩa đi cúng miếu để bù trừ. Chính câu 66 của bài kinh đã bác thẳng tâm lý ấy bằng hình ảnh ăn thịt độc cứu đói, uống rượu độc giải khát; và câu 68 nhấn mạnh muốn chuyển họa thành phúc thì điều kiện tiên quyết là tự ăn năn sửa lỗi và dứt hẳn việc ác (chư ác mạc tác).
Dù đoạn đầu mô tả người bị giảm số toán sẽ gặp nghèo hao ưu hoạn để răn đe kẻ sắp làm bậy, bản văn tuyệt đối cấm người đọc lấy cảnh ngộ không may của người khác làm cớ khinh rẻ hay cười nhạo. Câu 12 dạy phải xót thương người gặp tai ương (mẫn nhân chi hung) và câu 42 xếp hành vi cười cợt người khuyết tật hình thể (kiến tha thể tướng bất cụ nhi tiếu chi) vào danh mục tội nặng.
Những điều răn như không nhảy qua giếng nước bếp lửa, không dùng củi dơ nấu ăn, không đốt rừng mùa xuân hay không hành hình vào ngày tiết giao mùa nếu tách khỏi ngôn ngữ thần linh thời Tống thì vẫn hàm chứa ý thức vệ sinh nguồn nước và thực phẩm, giữ gìn nề nếp lễ độ trong gia đình, bảo tồn muôn thú mùa sinh sản và lòng nhân đạo trong pháp luật cổ đại.
Đoạn từ câu 39 tới câu 42 và câu 67 chỉ rất rõ rằng những ước muốn độc địa ngầm khởi trong lòng như mong người giàu bị phá sản, mong chủ nợ chết sớm, hay hả hê khi người khác sa cơ đều đã làm lệch tâm khí và chiêu cảm hung thần ngay khi tay chưa kịp nhúng chàm.
Câu tử hữu dư trách nãi ương cập tử tôn phản ánh quan niệm thừa phụ (con cháu thừa hưởng phúc ấm hoặc chịu ảnh hưởng từ gia phong và nghiệp quả của cha ông) vốn có từ Kinh Dịch (nhà tích thiện ắt có dư khánh, nhà tích bất thiện ắt có dư ương). Nhưng ngay sau đó sách mở ra nguyên lý chuyển họa vi phúc: mỗi thế hệ đều có toàn quyền xoay chuyển vận mệnh bằng chính sự tu sửa ba nghiệp miệng, mắt và thân của mình.
?Hỏi Đáp Nhanh
Thái Thượng Cảm Ứng Thiên ra đời vào thời nào và ai biên soạn
Theo truyền thống Đạo Giáo, đây là lời dạy của Thái Thượng Lão Quân. Theo khảo chứng lịch sử văn bản, tác phẩm thành hình vào khoảng cuối thời Bắc Tống sang đầu thời Nam Tống (thế kỷ 11 tới thế kỷ 12) trên cơ sở kế thừa trực tiếp nhiều đoạn văn trong sách Bão Phác Tử Nội Thiên của Cát Hồng thế kỷ thứ tư. Bản chú giải ba mươi quyển của Lý Xương Linh đời Nam Tống được thu vào bộ Thái Thanh của Chính Thống Đạo Tạng (mã số DZ 1167) năm 1445.
Chữ kỷ và chữ toán trong câu đoạt kỳ kỷ toán có nghĩa là bao nhiêu ngày
Trong dưỡng sinh và thần học Đạo Giáo cổ truyền dẫn theo Bão Phác Tử Nội Thiên (thiên Vi Chỉ), mỗi người sinh ra đều có sổ định thọ mạng tính bằng kỷ và toán. Một kỷ dài mười hai năm (tương ứng một chu kỳ sao Mộc Tuế tinh trên bầu trời, quy chẵn là 4.320 ngày). Một toán theo chú giải của Cát Hồng là ba ngày, còn theo một thuyết khác được Lý Xương Linh dẫn lại là một trăm ngày. Khi phạm lỗi nặng thì bị trừ theo kỷ, lỗi nhẹ thì trừ theo toán.
Thần Tam Thi và ngày Canh Thân trong bài kinh là gì
Theo tín ngưỡng Đạo Giáo thời Lục Triều, trong đầu, bụng và chân mỗi người có trú ngụ ba vị thần Tam Thi (Bành Cứ, Bành Chất, Bành Kiểu) luôn xúi giục con người tham lam, sân giận và dâm dục. Cứ sáu mươi ngày một lần vào đêm ngày Canh Thân, nhân lúc con người ngủ say, Tam Thi lên thiên tào tâu bày các lỗi lầm của chủ nhân. Từ đó đạo sĩ và cư sĩ xưa có tục canh thức tụng kinh tĩnh tọa suốt đêm Canh Thân để giữ tâm trong sạch.
Vì sao trong kinh Đạo Giáo lại có câu chư ác mạc tác chúng thiện phụng hành của Phật Giáo
Sự xuất hiện của tám chữ chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành (vốn thuộc bài kệ Thất Phật Thông Giới Kệ trong Kinh Pháp Cú của Phật Giáo) cùng các chuẩn mực trung hiếu của Nho Giáo cho thấy Thái Thượng Cảm Ứng Thiên là kết tinh tiêu biểu của trào lưu Tam giáo hợp lưu thời Tống. Nhờ ngôn ngữ đạo đức chung ấy, tác phẩm được cả đạo sĩ, nhà nho lẫn Phật tử Đông Á và Việt Nam trân trọng in ấn.
Tại sao bài kinh nghiêm cấm việc quay về phương Bắc khạc nhổ và vô cớ giết rùa đánh rắn
Trong vũ trụ quan tinh đẩu của Đạo Giáo, phương Bắc là ngôi ngự trị tối tôn của Bắc Cực Tử Vi Đại Đế, chùm sao Bắc Đẩu chủ quản sinh tử và đức Huyền Thiên Trấn Vũ, nên phóng uế, khạc nhổ hay chửi rủa về hướng Bắc bị xem là hành vi bất kính với thiên đình. Hình tượng rùa và rắn quấn nhau cũng chính là linh thú Huyền Vũ trấn phương Bắc, đồng thời là loài vật sống lâu có linh tính, nên kinh răn không được vô cớ sát hại.
Người xưa tại Việt Nam đọc và truyền bá Thái Thượng Cảm Ứng Thiên như thế nào
Từ thời hậu kỳ Lê Trung hưng và triều Nguyễn tới đầu thế kỷ hai mươi, các hội thiện sĩ nho học ở Hà Nội (quanh đền Ngọc Sơn, chùa Bà Đá) và các thiện đàn Minh Sư, Ngũ Chi Minh Đạo ở Nam Bộ đã khắc ván in chữ Hán kèm tranh minh họa (Cảm Ứng Thiên Đồ Thuyết), diễn Nôm thơ lục bát rồi dịch ra chữ Quốc ngữ để ấn tống miễn phí, dùng làm sách răn mình hằng ngày và giáo dục con cháu trong nhà.