VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Shema Yisrael

שְׁמַע יִשְׂרָאֵל · Kinh Shema, Keri'at Shema, Hãy Nghe Hỡi Israel, Ve'ahavta

Nguyên văn Hebrew đủ dấu, phiên âm Latinh, bản dịch Việt và Anh, giải nghĩa từng câu của lời tuyên xưng người Do Thái đọc mỗi sáng, mỗi tối và trong giờ cuối đời

Thuộc đạo
Do Thái Giáo
Niên đại
Câu Torah trong sách Đệ Nhị Luật, câu đọc thầm từ thời Đền Thờ thứ hai
Theo truyền thống của đạo, sách Đệ Nhị Luật ghi những lời Moshe nói với dân Israel trước khi vào đất hứa. Phần đông giới nghiên cứu hiện đại gắn phần lõi của sách với cuộc cải cách của vua Josiah, mà sách 2 Các Vua chương 22 đặt vào năm thứ mười tám đời vua ấy, tức quãng năm 622 trước Công nguyên theo niên biểu thông dụng. Câu Barukh shem không phải câu Kinh Thánh mà là lời đáp của dân chúng trong sân Đền Thờ, theo Mishnah tiểu luận Yoma chương 6. Bản chép câu Shema cổ nhất còn lại là mảnh Nash Papyrus, theo Thư viện Đại học Cambridge có niên đại quãng thế kỷ 2 trước Công nguyên.
Độ dài
Bảy câu, 54 chữ Hebrew
Đếm các chữ cách nhau bằng khoảng trắng hoặc bằng gạch nối maqaf trong bảng toàn văn: câu Đệ Nhị Luật 6,4 có 6 chữ, câu Barukh shem đọc thầm có 6 chữ, năm câu Ve'ahavta từ 6,5 tới 6,9 có 42 chữ. Phần Kinh Thánh riêng là 48 chữ.
Thường tụng khi
Đọc mỗi sáng và mỗi tối, đọc lại trước khi ngủ, và theo tục là lời cuối đời

ITrước Khi Đọc

Nếu phải chọn một câu để nói Do Thái Giáo là gì, phần đông người Do Thái sẽ chọn câu này. Sáu chữ Hebrew, שְׁמַע יִשְׂרָאֵל יְהֹוָה אֱלֹהֵינוּ יְהֹוָה אֶחָד, đọc chậm cũng chỉ vừa một hơi thở dài. Đứa trẻ học nó trước khi biết đọc, người lớn đọc nó mỗi sáng và mỗi tối, và theo một tục rất lâu đời, đó cũng là câu người sắp mất cố nói cho trọn trước khi nhắm mắt.

Tên của bài lấy từ chữ đầu tiên, שְׁמַע, phiên âm Shema, nghĩa là hãy nghe. Người Do Thái gọi việc đọc bài này là קְרִיאַת שְׁמַע, phiên âm Keri'at Shema, tức việc đọc Shema. Chữ đọc ở đây đáng để ý. Theo lệ của đạo, Shema trước hết là một đoạn Torah được đọc lên thành tiếng, một lời tuyên xưng, chứ không phải một lời xin Thượng Đế điều gì.

Shema trọn bài gồm ba đoạn Torah ghép lại. Trang này trình bày trọn đoạn thứ nhất: câu Đệ Nhị Luật 6,4, câu Barukh shem mà người Do Thái đọc thầm ngay sau đó, rồi năm câu Đệ Nhị Luật 6,5 tới 6,9, quen gọi theo chữ mở đầu là Ve'ahavta, nghĩa là ngươi hãy yêu mến. Hai đoạn còn lại được tóm lược ở một mục riêng.

Sách Đệ Nhị Luật là cách gọi của Kinh Thánh Công Giáo tiếng Việt, bản Tin Lành gọi là Phục Truyền Luật Lệ Ký, còn người Do Thái gọi là דְּבָרִים, phiên âm Devarim, nghĩa là những lời. Đây là quyển cuối của Torah. Thư viện trình bày để quý vị đọc và đối chiếu, không đứng ra phán định thay quý vị điều gì.

Theo sử liệu

Về lai lịch văn bản, có hai lớp cần tách ra. Theo truyền thống của đạo, sách Đệ Nhị Luật ghi lại những lời Moshe nói với dân Israel trên đồng bằng Moab, trước khi dân vào đất hứa, và câu Shema là một phần trong những lời ấy. Theo phần đông giới nghiên cứu Kinh Thánh hiện đại, phần lõi của sách Đệ Nhị Luật gắn với cuộc cải cách tôn giáo của vua Josiah ở Jerusalem, mà sách 2 Các Vua chương 22 đặt vào năm thứ mười tám đời vua ấy, tức quãng năm 622 trước Công nguyên theo niên biểu thông dụng. Thư viện ghi cả hai.

Về việc đọc Shema như một nghi thức, chứng cứ trong văn bản của đạo rất sớm. Sách Mishnah, bộ luật truyền khẩu được chép thành văn, mở đầu tiểu luận Berakhot, cũng là tiểu luận đầu tiên của cả bộ, bằng câu hỏi: từ lúc nào thì đọc Shema buổi tối. Mishnah tiểu luận Tamid chương 5 còn ghi rằng các tư tế trong Đền Thờ đọc Mười Điều Răn rồi đọc ba đoạn Shema.

Về hiện vật, mảnh Nash Papyrus, nay giữ tại Thư viện Đại học Cambridge, chép Mười Điều Răn nối liền với câu Đệ Nhị Luật 6,4 và 6,5. Theo trang mô tả của thư viện ấy, ông Walter Llewellyn Nash mua mảnh này từ một người buôn cổ vật ở Ai Cập và tặng lại năm 1903, và theo nghiên cứu của William F. Albright năm 1937 thì nó có niên đại quãng thế kỷ 2 trước Công nguyên.

Riêng câu Barukh shem kevod malkhuto le'olam va'ed không phải là câu Kinh Thánh. Không bản Torah nào có câu này. Nó là lời đáp có từ thời Đền Thờ, được chèn vào khi đọc Shema và đọc thầm, như phần giải nói rõ.

IIToàn Văn Đoạn Thứ Nhất

Hàng 1 là câu Đệ Nhị Luật 6,4. Hàng 2 là câu Barukh shem, đọc thầm, không thuộc Kinh Thánh. Hàng 3 tới hàng 7 là Đệ Nhị Luật 6,5 tới 6,9. Hai chữ ע và ד ở hàng 1 vốn được viết lớn trong sách chép tay Torah, bộ chữ máy không thể hiện được, phần giải nói riêng về chỗ này.

Nguyên văn theo sách kinh nguyện Metsudah 1981 bản trên Sefaria, phần Kinh Thánh đối chiếu văn bản Masorah và Mechon Mamre, cột Anh theo bản JPS 1917 thuộc phạm vi công cộng.
CâuNguyên văn HebrewPhiên âmTiếng ViệtTiếng Anh, bản JPS 1917
1שְׁמַע יִשְׂרָאֵל יְהֹוָה אֱלֹהֵינוּ יְהֹוָה אֶחָד׃Shema Yisra'el, Adonai Eloheinu, Adonai eḥad.Hãy nghe, hỡi Israel: Đức Chúa là Thượng Đế của chúng ta, Đức Chúa là một.Hear, O Israel: the LORD our God, the LORD is one.
2בָּרוּךְ שֵׁם כְּבוֹד מַלְכוּתוֹ לְעוֹלָם וָעֶד׃Barukh shem kevod malkhuto le'olam va'ed.(Đọc thầm, không thuộc Kinh Thánh) Chúc tụng danh vinh hiển của vương quyền Ngài, đến đời đời mãi mãi.(Said in an undertone, not a verse of Scripture) Blessed be the name of His glorious kingdom for ever and ever.
3וְאָהַבְתָּ אֵת יְהֹוָה אֱלֹהֶיךָ בְּכָל־לְבָבְךָ וּבְכָל־נַפְשְׁךָ וּבְכָל־מְאֹדֶךָ׃Ve'ahavta et Adonai Elohekha bekhol levavekha uvkhol nafshekha uvkhol me'odekha.Ngươi hãy yêu mến Đức Chúa, Thượng Đế của ngươi, hết lòng ngươi, hết linh hồn ngươi và hết sức lực ngươi.And thou shalt love the LORD thy God with all thy heart, and with all thy soul, and with all thy might.
4וְהָיוּ הַדְּבָרִים הָאֵלֶּה אֲשֶׁר אָנֹכִי מְצַוְּךָ הַיּוֹם עַל־לְבָבֶךָ׃Vehayu hadevarim ha'eleh asher anokhi metsavekha hayom al levavekha.Những lời này mà ta truyền cho ngươi hôm nay phải ở trên lòng ngươi.And these words, which I command thee this day, shall be upon thy heart.
5וְשִׁנַּנְתָּם לְבָנֶיךָ וְדִבַּרְתָּ בָּם בְּשִׁבְתְּךָ בְּבֵיתֶךָ וּבְלֶכְתְּךָ בַדֶּרֶךְ וּבְשָׁכְבְּךָ וּבְקוּמֶךָ׃Veshinantam levanekha vedibarta bam beshivtekha beveitekha uvlekhtekha vaderekh uvshokhbekha uvkumekha.Ngươi hãy khắc sâu những lời ấy cho con cái ngươi, và hãy nói về chúng khi ngươi ngồi trong nhà, khi ngươi đi đường, khi ngươi nằm xuống và khi ngươi thức dậy.And thou shalt teach them diligently unto thy children, and shalt talk of them when thou sittest in thy house, and when thou walkest by the way, and when thou liest down, and when thou risest up.
6וּקְשַׁרְתָּם לְאוֹת עַל־יָדֶךָ וְהָיוּ לְטֹטָפֹת בֵּין עֵינֶיךָ׃Ukshartam le'ot al yadekha vehayu letotafot bein einekha.Ngươi hãy buộc chúng làm dấu trên tay ngươi, và chúng sẽ là vật đeo giữa hai mắt ngươi.And thou shalt bind them for a sign upon thy hand, and they shall be for frontlets between thine eyes.
7וּכְתַבְתָּם עַל־מְזֻזוֹת בֵּיתֶךָ וּבִשְׁעָרֶיךָ׃Ukhtavtam al mezuzot beitekha uvish'arekha.Ngươi hãy viết chúng trên các khung cửa nhà ngươi và trên các cổng của ngươi.And thou shalt write them upon the door-posts of thy house, and upon thy gates.

IIIGiải Nghĩa Từng Câu

Phần dưới tách đoạn thứ nhất thành chín cụm và giảng theo thứ tự của bài. Chỗ các nhà chú giải hiểu khác nhau được ghi thẳng, kèm nơi chép lời giải ấy. Trong phiên âm, ḥ là âm h đọc sát trong cổ họng, kh là âm như ch trong chữ Bach của tiếng Đức.

שְׁמַע יִשְׂרָאֵל
Shema Yisra'el

Chữ שְׁמַע là lối mệnh lệnh của động từ nghe. Trong tiếng Hebrew Kinh Thánh, động từ này rộng hơn chữ nghe của tiếng Việt: nó gồm cả nghe cho hiểu và nghe theo. Vì vậy các nhà chú giải thường đọc chữ đầu tiên này như một lời gọi chú tâm, không phải một lời báo tin.

Chữ Israel ở đây chỉ dân Israel, tức con cháu của tổ phụ Jacob, người được đổi tên là Israel theo sách Sáng Thế chương 32. Câu kinh nói với cả dân như nói với một người, và trong toàn đoạn thứ nhất mọi chữ ngươi đều ở số ít. Một lời kể trong Talmud, tiểu luận Pesachim tờ 56a, còn đọc chữ Israel ở đây là chính tổ phụ Jacob, và kể rằng các con của ông đã nói câu này bên giường ông lúc ông sắp mất: hỡi Israel cha chúng con, Thượng Đế là một.

Trong sách chép tay Torah, chữ ע ở cuối chữ Shema được viết lớn hơn hẳn các chữ khác. Chỗ này được nói cùng với chữ lớn thứ hai ở cụm thứ ba bên dưới.

יְהֹוָה אֱלֹהֵינוּ
Adonai Eloheinu

Chữ đầu của cụm này là Danh riêng của Thượng Đế trong Kinh Thánh Hebrew, gồm bốn phụ âm, chuyển tự Latinh là YHWH. Theo truyền thống của đạo, Danh ấy không được đọc đúng như mặt chữ. Khi gặp nó trong lúc đọc kinh, người Do Thái đọc thành Adonai, nghĩa là Chúa của tôi. Vì thế cột phiên âm ghi Adonai, là âm người đọc thật sự phát ra, cột Việt dịch là Đức Chúa, còn cột Anh theo lệ Kinh Thánh tiếng Anh cổ in chữ LORD viết hoa.

Các sách kinh nguyện in Danh ấy khác nhau. Có sách in đủ bốn chữ kèm dấu nguyên âm như ở trang này, có sách in hai chữ יְיָ, có sách in một chữ ה׳ kèm dấu tắt. Chỗ khác ấy chỉ là lối in, không đổi cách đọc.

Chữ אֱלֹהֵינוּ, phiên âm Eloheinu, là chữ Elohim, Thượng Đế, thêm đuôi của chúng ta. Chữ của chúng ta nằm ngay trong câu tuyên xưng về Thượng Đế duy nhất cho thấy câu này vừa nói về Thượng Đế vừa nói về mối giao ước giữa Ngài với một dân. Các nhà chú giải đọc hai vế của câu theo cách khác nhau, và mục Chữ Echad bên dưới bày các cách đọc ấy.

יְהֹוָה אֶחָד
Adonai eḥad

Chữ אֶחָד, phiên âm eḥad, nghĩa thường là một. Các cách hiểu chữ này được bày ở mục riêng bên dưới.

Như chữ ע ở chữ Shema, chữ ד cuối chữ echad cũng được viết lớn trong sách chép tay Torah. Các nhà chú giải nêu hai lối giải thích. Lối thứ nhất là để giữ cho khỏi đọc nhầm: chữ ע đọc lẫn thành chữ א thì chữ Shema, hãy nghe, thành một chữ nghĩa là có lẽ, còn chữ ד đọc lẫn thành chữ ר vốn rất giống mặt chữ thì echad, một, thành aḥer, khác, tức một thần khác. Lối thứ hai là hai chữ lớn ghép lại thành עד, phiên âm ed, nghĩa là người làm chứng, gợi câu Isaia 43,10: các ngươi là chứng nhân của Ta. Theo lối hiểu này, người đọc Shema đang đứng ra làm chứng. Các lời giải ấy được ghi trong midrash Vayikra Rabbah 19,2 và trong lời chú của Baal HaTurim và Kli Yakar về câu 6,4.

Talmud, tiểu luận Berakhot tờ 13b, ghi rằng ai kéo dài chữ echad khi đọc Shema thì được kéo dài ngày tháng, với điều kiện ngân chữ ד cuối cho tròn tiếng. Bộ luật Shulchan Arukh, phần Orach Chayim chương 61, dặn ngân chữ ח và chữ ד để suy niệm về vương quyền của Thượng Đế, và nhấn chữ ד cho khỏi nghe thành chữ ר.

בָּרוּךְ שֵׁם כְּבוֹד מַלְכוּתוֹ לְעוֹלָם וָעֶד
Barukh shem kevod malkhuto le'olam va'ed

Đây là câu duy nhất trong bảng không lấy từ Kinh Thánh. Mishnah tiểu luận Yoma chương 6 ghi đây là câu các tư tế và dân chúng đáp lại trong sân Đền Thờ khi nghe thầy thượng tế xướng Danh Thượng Đế ngày Yom Kippur. Khi đọc Shema, câu ấy được đặt ngay sau câu 6,4 như một lời đáp, và đọc thầm, theo luật ghi ở Shulchan Arukh, Orach Chayim 61,13.

Vì sao đọc thầm thì truyền thống có hai lời kể. Talmud, tiểu luận Pesachim tờ 56a, kể rằng lúc tổ phụ Jacob sắp mất, các con ông đọc câu Shema để nói rằng lòng họ chỉ có một Thượng Đế như lòng cha, và Jacob đáp lại bằng câu Barukh shem. Các nhà hiền triết cân nhắc: Moshe không chép câu ấy vào Torah, nhưng tổ phụ Jacob đã nói nó, nên quyết cho đọc, mà đọc nhỏ. Talmud ví việc ấy như chuyện một công chúa thèm món nước sốt thơm dưới đáy nồi, nói ra thì ngượng, nên gia nhân lặng lẽ mang tới.

Lời kể thứ hai ở midrash Devarim Rabbah 2,36: Moshe nghe các thiên thần xướng câu này trên trời và mang nó xuống cho dân, giống như người lấy được món trang sức trong cung vua, đưa cho vợ và dặn chỉ đeo trong nhà. Vì thế ngày thường người ta đọc thầm, riêng ngày Yom Kippur, khi người ta được ví như thiên thần, thì đọc lớn tiếng.

Chữ nghĩa của câu cũng được hiểu hơi khác nhau. Cột Việt dịch sát là chúc tụng danh vinh hiển của vương quyền Ngài, tức chữ vinh hiển đi liền với vương quyền. Một số bản dịch trong sách kinh nguyện, như bản Anh của chính sách Metsudah, hiểu là chúc tụng Danh Ngài, Đấng có vương quyền vinh hiển còn mãi đời đời. Cả hai cách chia đều đứng được theo ngữ pháp.

וְאָהַבְתָּ אֵת יְהֹוָה אֱלֹהֶיךָ בְּכָל־לְבָבְךָ וּבְכָל־נַפְשְׁךָ וּבְכָל־מְאֹדֶךָ
Ve'ahavta et Adonai Elohekha bekhol levavekha uvkhol nafshekha uvkhol me'odekha

Câu này nêu một điều khiến nhiều người đọc lần đầu thấy lạ: yêu mến được truyền như một mệnh lệnh. Các nhà chú giải Do Thái hiểu chữ yêu ở đây không chỉ là một cảm xúc tự đến, mà là một hướng của cả đời sống, thể hiện qua việc làm, qua việc học và qua sự trung thành với giao ước.

Ba cụm hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực được Mishnah tiểu luận Berakhot chương 9 giải từng cụm. Hết lòng: chữ lòng ở đây viết לְבָבְךָ với hai chữ ב thay vì một, nên Mishnah đọc là yêu bằng cả hai khuynh hướng trong lòng người, khuynh hướng lành và khuynh hướng dữ. Hết linh hồn: dù Ngài có lấy đi linh hồn ngươi, tức là cả khi phải trả bằng mạng sống. Hết sức lực: chữ מְאֹדֶךָ, phiên âm me'odekha, vốn là một trạng từ nghĩa là rất, lắm, ở đây dùng như danh từ nên khó dịch, và Mishnah nêu hai cách hiểu: hết của cải của ngươi, hoặc dù Ngài đong cho ngươi phần nào thì ngươi cũng tạ ơn Ngài.

Chữ נַפְשְׁךָ, từ chữ nefesh, mà cột Việt dịch là linh hồn, trong tiếng Hebrew Kinh Thánh gần với sự sống, với con người đang sống, chứ chưa hẳn là linh hồn tách khỏi thân xác theo nghĩa triết học về sau.

וְהָיוּ הַדְּבָרִים הָאֵלֶּה אֲשֶׁר אָנֹכִי מְצַוְּךָ הַיּוֹם עַל־לְבָבֶךָ
Vehayu hadevarim ha'eleh asher anokhi metsavekha hayom al levavekha

Người nói chữ ta trong câu này, אָנֹכִי, phiên âm anokhi, theo khung kể của sách Đệ Nhị Luật là Moshe, người đang truyền lại lời Thượng Đế cho dân. Vì thế cột Việt viết chữ ta thường chứ không viết hoa.

Chữ hôm nay được Rashi, nhà chú giải người Pháp thời trung đại, giải rằng những lời ấy đừng như một chiếu chỉ cũ trong mắt ngươi, thứ chẳng ai còn để ý, mà phải như một chiếu chỉ mới, thứ ai cũng chạy ra đón. Shulchan Arukh, Orach Chayim 61,2, lấy chính ý ấy làm lời dặn cho người đọc Shema mỗi ngày: đọc như thể đó là điều mới.

Chữ trên lòng ngươi chứ không phải trong lòng ngươi cũng được bàn nhiều. Một câu truyền khẩu trong giới Hasid, thường được gán cho rebbe xứ Kotzk, giải rằng lòng người không phải lúc nào cũng mở, nên lời được đặt sẵn ở trên, để khi lòng vỡ ra thì lời rơi vào trong. Đây là một lời bình truyền khẩu, không phải chú giải kinh điển.

וְשִׁנַּנְתָּם לְבָנֶיךָ וְדִבַּרְתָּ בָּם
Veshinantam levanekha vedibarta bam

Động từ וְשִׁנַּנְתָּם cùng gốc với chữ sắc, bén. Nghĩa đen gần với mài cho sắc, nên cột Anh theo bản 1917 dịch là dạy cho chuyên cần, còn cột Việt dịch là khắc sâu. Rashi, theo sách Sifre, giải là để những lời ấy sắc gọn trong miệng ngươi, hễ ai hỏi thì trả lời ngay, không phải ngập ngừng.

Chữ con cái ngươi được Sifre và Rashi hiểu rộng ra cả học trò, vì theo lối nói của Kinh Thánh, học trò cũng được gọi là con.

Bốn cảnh ngồi trong nhà, đi đường, nằm xuống, thức dậy gói trọn một ngày của một người. Hai cảnh cuối, khi nằm xuống và khi thức dậy, là nền của luật đọc Shema hai lần mỗi ngày. Mishnah tiểu luận Berakhot chương 1 ghi một cuộc tranh luận về hai chữ ấy. Trường phái Shammai hiểu theo nghĩa đen: buổi tối thì nằm mà đọc, buổi sáng thì đứng mà đọc. Trường phái Hillel hiểu đó là chỉ giờ, tức lúc người ta đi nằm và lúc người ta thức dậy, còn tư thế thì mỗi người đọc theo cách của mình. Luật theo trường phái Hillel.

וּקְשַׁרְתָּם לְאוֹת עַל־יָדֶךָ וְהָיוּ לְטֹטָפֹת בֵּין עֵינֶיךָ
Ukshartam le'ot al yadekha vehayu letotafot bein einekha

Câu này là nền của tefillin, hai hộp da nhỏ chứa những đoạn Torah chép tay, một hộp buộc trên cánh tay, một hộp đặt trên đầu. Truyền thống các rabbi đọc câu theo nghĩa đen: buộc là buộc thật, dấu là một vật thật.

Chữ טֹטָפֹת, phiên âm totafot, là một chữ hiếm, chỉ gặp ba lần trong Torah, ở Xuất Hành 13,16, ở câu này và ở Đệ Nhị Luật 11,18, và nghĩa gốc của nó đến nay vẫn chưa rõ. Cột Anh theo bản 1917 dịch là frontlets, tức vật đeo trước trán, cột Việt dịch là vật đeo. Talmud, tiểu luận Menachot tờ 34b, giải chữ này bằng cách tách làm hai chữ mượn từ hai ngôn ngữ khác, mỗi chữ nghĩa là hai, từ đó rút ra rằng hộp tefillin trên đầu có bốn ngăn.

Chữ giữa hai mắt ngươi không được hiểu là đặt giữa hai con mắt. Talmud, tiểu luận Menachot tờ 37a, đặt chỗ ấy ở phía trên đầu, nơi thóp của đứa trẻ còn mềm, nên hộp đầu được đặt ở chân tóc, phía trên khoảng giữa hai mắt. Mục riêng về tefillin và mezuzah bên dưới nói thêm các cách hiểu khác nhau về câu này.

וּכְתַבְתָּם עַל־מְזֻזוֹת בֵּיתֶךָ וּבִשְׁעָרֶיךָ
Ukhtavtam al mezuzot beitekha uvish'arekha

Chữ מְזֻזוֹת, phiên âm mezuzot, nghĩa đen là các trụ cửa, khung cửa. Về sau chính tên của cái khung cửa được dùng để gọi vật gắn trên nó: mezuzah, một cuộn giấy da chép tay đoạn Shema thứ nhất và đoạn thứ hai, cuộn lại, đặt trong một hộp nhỏ và gắn lên khung cửa.

Đọc liền năm câu thì thấy lời đi từ trong ra ngoài. Lời bắt đầu ở trên lòng, rồi tới miệng khi dạy con và khi nói chuyện, rồi tới thân khi buộc trên tay và trên đầu, rồi tới nhà khi viết trên khung cửa, cuối cùng tới cổng, nơi nhà gặp đường.

Chữ cổng, שְׁעָרֶיךָ, trong Kinh Thánh thường chỉ cổng thành, chỗ các bô lão ngồi xử việc như trong sách Rút chương 4. Luật về sau áp điều răn mezuzah cho cửa nhà, cửa các phòng ở và cổng sân, theo những điều kiện được bàn kỹ trong các bộ luật.

IVBa Đoạn Của Shema, Tefillin Và Mezuzah

Shema trọn bài gồm ba đoạn Torah đọc liền nhau, rút từ hai sách khác nhau. Mishnah tiểu luận Berakhot chương 2 giải thứ tự ấy bằng lời của rabbi Yehoshua ben Korḥa: đoạn thứ nhất đứng trước để người đọc nhận lấy ách vương quyền của Trời trước đã, rồi mới tới đoạn thứ hai là nhận lấy ách các điều răn. Đoạn thứ ba đứng sau vì điều răn chính của nó chỉ áp dụng ban ngày, còn đoạn thứ hai áp dụng cả ngày lẫn đêm.

Ba đoạn của Shema. Đoạn thứ nhất và đoạn thứ hai có trong mezuzah. Hai đoạn ấy cùng hai đoạn trong sách Xuất Hành chương 13 có trong tefillin.
ĐoạnChữ mở đầuNguồnNội dung chính
Thứ nhấtשְׁמַע, Shema, rồi וְאָהַבְתָּ, Ve'ahavtaĐệ Nhị Luật 6,4 tới 9Thượng Đế là một, yêu mến Ngài hết lòng, dạy con, buộc trên tay và đầu, viết trên khung cửa. Lời nói với một người, số ít.
Thứ haiוְהָיָה אִם־שָׁמֹעַ, Vehayah im shamoaĐệ Nhị Luật 11,13 tới 21Giữ điều răn thì mưa xuống đúng mùa, bỏ theo thần khác thì trời đóng lại. Nhắc lại việc đặt lời trên lòng, buộc trên tay, dạy con, viết trên khung cửa. Lời nói với số đông.
Thứ baוַיֹּאמֶר, VayomerDân Số 15,37 tới 41Làm tua ở bốn góc áo, nhìn tua mà nhớ các điều răn, không đi theo lòng và mắt mình. Khép bằng lời nhắc cuộc ra khỏi Ai Cập.

Đoạn thứ hai: mưa đúng mùa

Đoạn thứ hai mở bằng một câu điều kiện: nếu các ngươi thật lòng nghe theo các điều răn, yêu mến Đức Chúa và phụng thờ Ngài hết lòng hết linh hồn, thì Ngài sẽ cho mưa xuống trên đất đúng mùa, mưa đầu mùa và mưa cuối mùa, để các ngươi thu lúa, rượu mới và dầu. Rồi tới lời cảnh giác: hãy giữ mình kẻo lòng bị dụ mà đi phụng thờ thần khác, vì khi ấy trời sẽ đóng lại, không có mưa, đất không sinh hoa lợi.

Nửa sau của đoạn nhắc lại gần như nguyên các lệnh trong đoạn thứ nhất: đặt lời trên lòng, buộc trên tay, đeo giữa hai mắt, dạy con, viết trên khung cửa, và khép bằng lời hứa cho ngày tháng của các ngươi và con cháu được lâu dài. Khác biệt dễ thấy nhất là ngôi: đoạn thứ nhất nói với một người, đoạn thứ hai phần lớn nói với số đông, nên nhiều nhà chú giải đọc đoạn thứ hai như lời nói với cả cộng đồng.

Đoạn thứ ba: tua áo và cuộc ra khỏi Ai Cập

Đoạn thứ ba lấy từ sách Dân Số. Thượng Đế truyền cho Moshe bảo dân Israel làm tua, tiếng Hebrew là צִיצִת, phiên âm tsitsit, ở các góc áo qua mọi thế hệ, và gắn vào tua ở mỗi góc một sợi chỉ màu xanh gọi là tekhelet. Người ta nhìn tua mà nhớ mọi điều răn và làm theo, không đi lạc theo lòng mình và mắt mình. Đoạn khép bằng câu: Ta là Đức Chúa, Thượng Đế của các ngươi, Đấng đã đưa các ngươi ra khỏi đất Ai Cập để làm Thượng Đế của các ngươi.

Theo luật, điều răn về tua áo chỉ áp dụng ban ngày, vì bản văn nói nhìn tua. Vậy mà đoạn này vẫn được đọc cả buổi tối. Mishnah tiểu luận Berakhot chương 1 giải rằng người ta nhắc cuộc ra khỏi Ai Cập cả ban đêm, và đoạn thứ ba được giữ vì câu cuối của nó. Ba chữ cuối đoạn, Ani Adonai Eloheikhem, được đọc liền với chữ emet, nghĩa là chân thật, chữ mở đầu lời chúc tụng tiếp theo, và Shulchan Arukh, Orach Chayim 61,3, ghi rằng người dẫn lễ lặp lại lớn tiếng ba chữ ấy.

Tefillin, cách thực hành câu 8

Tefillin, tiếng Hebrew תְּפִלִּין, là hai hộp da vuông sơn đen, mỗi hộp gắn dây da. Trong hộp chứa bốn đoạn Torah chép tay trên giấy da: hai đoạn trong sách Xuất Hành chương 13, câu 1 tới 10 và câu 11 tới 16, cùng đoạn thứ nhất và đoạn thứ hai của Shema. Bốn đoạn này được chọn vì cả bốn đều nói tới dấu trên tay và vật đeo giữa hai mắt. Hộp trên đầu chia bốn ngăn, mỗi ngăn một đoạn chép riêng. Hộp trên tay chỉ có một ngăn, bốn đoạn chép liền trên một tờ.

Hộp tay đặt ở bắp tay của cánh tay yếu, phía trong, hướng về tim, dây quấn xuống cẳng tay và bàn tay. Hộp đầu đặt ở chân tóc. Theo luật truyền thống, việc đeo tefillin là bổn phận của nam giới từ tuổi trưởng thành trong đạo, đeo trong kinh sáng các ngày thường, không đeo vào ngày Shabbat và các ngày lễ lớn, vì theo Talmud chính những ngày ấy đã là dấu.

Thứ tự bốn đoạn trong hộp đầu là chỗ các nhà luận giải thời trung đại hiểu khác nhau. Rashi xếp theo thứ tự trong Torah. Cháu ngoại ông là Rabbeinu Tam đổi chỗ hai đoạn Shema cho nhau. Cả hai kiểu tefillin đều còn được làm, và có người đeo cả hai kiểu, lần lượt, để giữ trọn cả hai ý kiến.

Mezuzah, cách thực hành câu 9

Mezuzah là cuộn giấy da chép tay đoạn thứ nhất và đoạn thứ hai của Shema, tức hai đoạn có câu viết trên khung cửa nhà ngươi. Cuộn được một người chép kinh chuyên nghiệp viết bằng mực theo đúng luật chép Torah, rồi cuộn lại, cho vào một hộp nhỏ và gắn lên khung cửa bên phải khi bước vào. Shulchan Arukh, phần Yoreh De'ah chương 289, đặt chỗ gắn ở đầu phần ba phía trên của khung. Mặt ngoài cuộn thường viết chữ שַׁדַּי, phiên âm Shaddai, một danh xưng của Thượng Đế. Người Ashkenazi gắn hộp hơi nghiêng, người Sephardi thường gắn thẳng, như trang trụ Do Thái Giáo của thư viện đã nói.

Nhiều người khi đi qua cửa đưa tay chạm vào mezuzah rồi đưa lên môi. Đó là tục, không phải luật.

Nghĩa đen hay nghĩa bóng

Truyền thống các rabbi hiểu câu 8 và câu 9 theo nghĩa đen, và coi tefillin, mezuzah là những điều răn phải làm. Dù vậy, ngay trong giới chú giải Do Thái đã có tiếng nói nhận rằng lời văn tự nó có thể đọc theo nghĩa bóng. Rashbam, cháu ngoại của Rashi và anh của Rabbeinu Tam, khi chú giải câu tương tự ở Xuất Hành 13,9 viết rằng theo tầng nghĩa sâu của lời văn thì câu ấy nói hãy nhớ mãi như thể điều ấy được viết trên tay ngươi, và ông dẫn câu trong sách Diễm Ca: hãy đặt em như ấn tín trên lòng anh. Rashbam vẫn giữ luật đeo tefillin, ông chỉ phân biệt nghĩa của lời văn với luật được truyền lại. Người Karaite, một dòng Do Thái không nhận Torah truyền khẩu làm thẩm quyền, đọc các câu này theo nghĩa bóng và không đeo tefillin. Thư viện ghi các cách hiểu ấy cạnh nhau, không xét cách nào đúng hơn.

Theo sử liệu

Tefillin và mezuzah là những vật đạo hiếm hoi có hiện vật cổ để đối chiếu. Theo bài tổng thuật trên trang 18Forty dựa trên các công bố khảo cổ, những hộp tefillin cổ đầu tiên được tìm thấy năm 1949 trong một hang gần phế tích Qumran bên Biển Chết, và các đợt tìm kiếm về sau ở các hang miền sa mạc Judea đã thu được hơn 27 hộp da và 44 tờ giấy da có chữ. Một nhóm chứa đúng bốn đoạn mà luật các rabbi quy định. Một nhóm khác, chỉ gặp ở các hang quanh Qumran, chép thêm những đoạn liền kề, trong đó có Mười Điều Răn. Chuyện Mười Điều Răn cũng có dấu vết trong văn bản của đạo: Talmud tiểu luận Berakhot tờ 12a ghi rằng việc đọc Mười Điều Răn cùng Shema về sau bị bỏ khỏi kinh nguyện hằng ngày, để khỏi có người nói rằng chỉ mười điều ấy mới được ban ở Sinai.

VChữ Echad Và Những Cách Hiểu

Câu 6,4 có sáu chữ và không có động từ. Tiếng Hebrew Kinh Thánh cho phép đặt hai danh từ cạnh nhau mà hiểu ngầm chữ là ở giữa, nên sáu chữ ấy có thể chia ý theo nhiều cách. Các bản dịch và các nhà chú giải đã nêu ít nhất bốn cách đọc:

  • Đức Chúa, Thượng Đế của chúng ta, Đức Chúa là một. Đây là cách của bản JPS 1917 ở cột Anh.
  • Đức Chúa là Thượng Đế của chúng ta, Đức Chúa là một. Đây là cách của cột Việt.
  • Đức Chúa, Thượng Đế của chúng ta, là một Đức Chúa duy nhất.
  • Đức Chúa là Thượng Đế của chúng ta, chỉ một mình Đức Chúa.

Chỗ khác nhau dồn về chữ echad. Nó nói về bản thể của Thượng Đế, rằng Ngài là một, không chia, không ghép. Hay nó nói về mối quan hệ, rằng dân này chỉ thờ một mình Ngài. Các nhà chú giải Do Thái qua nhiều đời đã đi theo cả hai hướng, và phần lớn giữ cả hai cùng lúc.

Rashi: một hôm nay, một cho muôn dân mai sau

Rashi giải: Đức Chúa, hiện nay là Thượng Đế của chúng ta mà chưa được các dân khác nhận, về sau sẽ là Đức Chúa duy nhất của muôn dân, và ông dẫn Xôphônia 3,9 cùng Dacaria 14,9: ngày ấy Đức Chúa sẽ là một và Danh Ngài là một. Câu Shema vì thế vừa là lời tuyên xưng vừa là niềm trông đợi.

Rashbam: chỉ một mình Ngài

Rashbam giải cụm Đức Chúa là một thành: chỉ phụng thờ một mình Ngài, không ghép thêm một thần nào khác để thờ cùng, kể cả qua các phép bói toán. Cách đọc này nhấn vào sự độc tôn trong việc thờ phượng. Nhiều học giả Kinh Thánh hiện đại cũng đọc câu 6,4 theo hướng này, đặt nó trong bối cảnh một thế giới cổ có nhiều thần.

Maimonides: một không giống bất cứ cái một nào

Trong Mishneh Torah, phần Nền Tảng Của Torah chương 1 đoạn 7, Maimonides viết rằng Thượng Đế là một, không phải hai hay nhiều hơn, và là một theo cách vượt trên mọi thứ một có trong thế gian: không như một loài gồm nhiều cá thể, không như một thân thể chia được thành phần. Ông coi việc biết điều ấy là một điều răn, rút chính từ câu 6,4.

Kabbalah và Hasid: sự hợp nhất

Trong truyền thống Kabbalah, đọc câu Shema được hiểu như một việc hợp nhất các phương diện của Thượng Đế mà con người cảm nhận được về lại thành một, gọi là yiḥud. Một số bậc thầy Hasid đi xa hơn, hiểu echad là ngoài Thượng Đế không có gì tồn tại độc lập thật sự. Đây là cách hiểu của tầng suy tư huyền học, không phải của mọi dòng.

Câu 6,4 ngoài Do Thái Giáo

Sách Tin Mừng Máccô 12,29 ghi Đức Giêsu trích câu Shema khi được hỏi điều răn nào đứng đầu. Vì thế các giáo hội Kitô Giáo cũng đọc câu 6,4, và đọc nó trong khung thần học của mình. Thư viện ghi sự kiện ấy, không so sánh hay phán định cách hiểu nào đúng.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ cần nhớ, gọn trong một câu: chữ echad trong câu 6,4 được hiểu theo ít nhất hai hướng, một về bản thể của Thượng Đế là một không chia, một về sự thờ phượng chỉ dành cho một mình Ngài, và truyền thống Do Thái giữ cả hai. Chữ ד viết lớn ở cuối chữ ấy là dấu của sự chú tâm do truyền thống chép Torah giữ lại, không phải một lỗi chép.

VITín Đồ Đọc Khi Nào Và Ra Sao

Phần dưới tả những gì người quan sát thấy ở hội đường và trong gia đình, theo các bộ luật và theo tục đã ghi lại. Chi tiết cụ thể khác nhau giữa các cộng đồng.

Sáng và tối

Mishnah tiểu luận Berakhot chương 1 đặt hai giờ đọc. Buổi tối bắt đầu từ lúc trời tối, các nhà hiền triết cho đọc tới nửa đêm, rabban Gamliel cho tới rạng sáng. Buổi sáng bắt đầu khi trời đủ sáng để phân biệt màu xanh với màu trắng, và theo ý rabbi Yehoshua mà luật theo, kéo dài tới hết giờ thứ ba của ban ngày. Shema buổi sáng nằm trong kinh sáng Shacharit, Shema buổi tối nằm trong kinh tối Ma'ariv.

Giữa các lời chúc tụng

Shema ở hội đường không đứng một mình. Theo Mishnah tiểu luận Berakhot chương 1, buổi sáng có hai lời chúc tụng trước và một lời sau, buổi tối có hai lời trước và hai lời sau. Lời ngay trước Shema nói về tình yêu Thượng Đế dành cho dân mình, nên câu Ve'ahavta được đọc như lời đáp lại.

Che mắt khi đọc câu đầu

Talmud tiểu luận Berakhot tờ 13b kể rằng rabbi Yehuda HaNasi đưa tay lướt qua mặt khi đọc câu đầu. Shulchan Arukh, Orach Chayim 61,5, ghi thành lệ: đặt tay lên mặt khi đọc câu đầu để khỏi nhìn đi chỗ khác mà mất chú tâm. Người ta thường dùng bàn tay phải che mắt, nhiều người đọc câu đầu lớn tiếng, rồi hạ giọng đọc câu Barukh shem.

Ba chữ trước Shema

Theo chú giải của Rema trên Shulchan Arukh, Orach Chayim 61,3, người Ashkenazi đọc Shema một mình, không có đủ nhóm cầu nguyện, thêm ba chữ El melekh ne'eman, nghĩa là Thượng Đế, vị Vua trung tín, trước chữ Shema, để bù ba chữ còn thiếu cho đủ 248 chữ. Khi đọc cùng cộng đồng thì thay bằng tiếng Amen. Phần lớn cộng đồng Sephardi không thêm ba chữ này.

Trước khi ngủ

Talmud tiểu luận Berakhot tờ 4b và 5a ghi lời rabbi Yehoshua ben Levi: dù đã đọc Shema ở hội đường, đọc lại trên giường trước khi ngủ vẫn là một điều răn. Phần này gọi là Keri'at Shema al ha-mitah, trong sách kinh nguyện đi kèm một lời chúc tụng xin giấc ngủ bình an và một số thánh vịnh. Đây cũng là chỗ nhiều trẻ em Do Thái học Shema, từ miệng cha mẹ bên giường.

Lời cuối đời

Talmud tiểu luận Berakhot tờ 61b kể rằng rabbi Akiva bị hành hình đúng vào giờ đọc Shema, và ông vẫn đọc, kéo dài chữ echad cho tới khi tắt thở trên chính chữ ấy. Từ đó thành tục: người sắp mất cố đọc câu Shema, hoặc người thân đọc thay bên giường, trong phần lời xưng thú cuối đời.

Ngày Yom Kippur

Ngày Yom Kippur, câu Barukh shem được đọc lớn tiếng, theo midrash Devarim Rabbah 2,36. Cuối buổi kinh Ne'ilah khép ngày ấy, cả hội đường đọc câu Shema một lần, câu Barukh shem ba lần theo nhiều sách lễ, rồi câu Đức Chúa là Thượng Đế bảy lần, lệ mà Shulchan Arukh, Orach Chayim 623,6, ghi nhận.

Ngoài hai lần đọc chính, câu đầu của Shema còn xuất hiện ở nhiều chỗ khác trong kinh nguyện, chẳng hạn trong nghi thức Ashkenazi, khi cuộn Torah được rước ra khỏi hòm trong buổi đọc Torah ngày Shabbat, người dẫn lễ xướng câu này và cộng đồng đọc theo. Người Ashkenazi và người Sephardi phát âm một số âm khác nhau, và mỗi cộng đồng giữ giai điệu riêng. Thư viện tả những việc ấy để quý vị hiểu điều mình thấy, không đứng ra chỉ dẫn nghi thức.

VIINhững Chỗ Hay Hiểu Lầm

Năm điểm dưới đây là những chỗ hiểu lệch gặp thường xuyên hơn cả, ghi lại để quý vị đối chiếu.

Shema là một lời cầu xin

Shema không xin điều gì. Nó là ba đoạn Torah được đọc lên, và Mishnah tiểu luận Berakhot chương 2 gọi việc đọc đoạn đầu là nhận lấy ách vương quyền của Trời. Phần cầu xin trong kinh nguyện Do Thái nằm ở bài Amidah đọc ngay sau đó. Vì thế người Do Thái nói đọc Shema chứ ít khi nói cầu Shema.

Shema chỉ là một câu

Câu đầu nổi tiếng đến mức nhiều người nghĩ Shema chỉ có câu ấy. Thực ra, theo luật, đọc Shema là đọc cả ba đoạn: Đệ Nhị Luật 6,4 tới 9, Đệ Nhị Luật 11,13 tới 21 và Dân Số 15,37 tới 41. Câu đầu là trọng tâm, và theo Talmud tiểu luận Berakhot tờ 13b, câu ấy là phần đòi hỏi chú tâm nhất.

Câu Barukh shem là câu Kinh Thánh

Câu này không có trong bản Torah nào. Nó là lời đáp của dân chúng trong sân Đền Thờ, theo Mishnah tiểu luận Yoma chương 6, được chèn vào giữa câu 6,4 và câu 6,5 khi đọc Shema. Chính vì không phải lời Torah nên nó được đọc thầm, trừ ngày Yom Kippur.

Hai chữ lớn là lỗi in hay nét trang trí

Chữ ע và chữ ד viết lớn trong câu đầu là lệ chép Torah được truyền lại, không phải lỗi in. Hai lối giải quen thuộc là để khỏi đọc nhầm thành những chữ mang nghĩa khác, và để hai chữ ghép lại thành chữ עד, người làm chứng.

Tefillin và mezuzah là bùa hộ mệnh

Người quen với bùa trấn trạch dễ đọc mezuzah như một vật hộ thân cho nhà. Maimonides, trong Mishneh Torah phần luật về tefillin và mezuzah, đã phản đối cách hiểu ấy, viết rằng ai coi mezuzah là bùa là đã biến một điều răn thành vật dụng vì lợi riêng. Theo giáo nghĩa, tefillin và mezuzah là lời nhắc về Thượng Đế và về chính những câu trong đoạn Shema.

?Hỏi Đáp Nhanh

Shema Yisrael nghĩa là gì

Shema Yisrael là hai chữ đầu của câu Đệ Nhị Luật 6,4, nghĩa là hãy nghe, hỡi Israel. Trọn câu là שְׁמַע יִשְׂרָאֵל יְהֹוָה אֱלֹהֵינוּ יְהֹוָה אֶחָד, đọc là Shema Yisra'el, Adonai Eloheinu, Adonai eḥad, thư viện dịch là: hãy nghe, hỡi Israel, Đức Chúa là Thượng Đế của chúng ta, Đức Chúa là một. Đây là câu tuyên xưng trung tâm của Do Thái Giáo, nói rằng Thượng Đế là một.

Kinh Shema gồm những đoạn nào

Shema trọn bài gồm ba đoạn Torah: Đệ Nhị Luật 6,4 tới 9, Đệ Nhị Luật 11,13 tới 21 và Dân Số 15,37 tới 41. Ngay sau câu đầu, người Do Thái đọc thầm thêm câu Barukh shem kevod malkhuto le'olam va'ed, câu này không thuộc Kinh Thánh. Trang này in trọn đoạn thứ nhất và tóm lược hai đoạn còn lại.

Vì sao câu Barukh shem được đọc thầm

Vì câu ấy không phải lời Torah mà là lời đáp của dân chúng trong sân Đền Thờ, theo Mishnah tiểu luận Yoma chương 6. Talmud tiểu luận Pesachim tờ 56a kể rằng tổ phụ Jacob đã nói câu này, còn Moshe không chép nó vào Torah, nên các nhà hiền triết cho đọc mà đọc nhỏ. Midrash Devarim Rabbah 2,36 kể rằng Moshe nghe câu này từ các thiên thần, nên chỉ ngày Yom Kippur mới đọc lớn tiếng.

Người Do Thái đọc Shema khi nào

Theo luật, Shema được đọc hai lần mỗi ngày, trong kinh sáng và kinh tối, dựa trên chữ khi ngươi nằm xuống và khi ngươi thức dậy ở câu 6,7. Ngoài ra còn đọc lại trên giường trước khi ngủ, theo Talmud tiểu luận Berakhot tờ 4b và 5a, và theo tục là lời cuối đời của người sắp mất. Ngày Yom Kippur, câu đầu được đọc cùng cả hội đường ở cuối buổi kinh Ne'ilah.

Vì sao che mắt khi đọc câu đầu của Shema

Để chú tâm trọn vào câu đầu. Talmud tiểu luận Berakhot tờ 13b kể rằng rabbi Yehuda HaNasi đưa tay lướt qua mặt khi đọc câu này, và bộ luật Shulchan Arukh, Orach Chayim 61,5, ghi thành lệ đặt tay lên mặt để khỏi nhìn đi chỗ khác. Người ta thường dùng bàn tay phải. Đây là cử chỉ giúp chú tâm, không phải một phép gì.

›Đọc Tiếp