IĐọc Nhanh Trong Năm Câu
Đạo Bahá'í بهائی là một tôn giáo độc thần ra đời ở Ba Tư giữa thế kỷ mười chín. Chữ bahá بهاء trong tiếng Ả Rập nghĩa là vinh quang, rạng rỡ, và người Bahá'í là người theo Bahá'u'lláh, danh hiệu có nghĩa là Vinh Quang Của Thượng Đế. Đạo có hai vị mở đường: Báb, người tuyên bố năm 1844 rằng mình là cánh cửa báo trước một đấng sắp đến, và Bahá'u'lláh, người năm 1863 tuyên bố chính mình là đấng ấy. Điều người mới đọc thấy lạ nhất ở đạo này là nó không có tu sĩ. Không có linh mục, không có imam, không có người giảng đạo chuyên nghiệp. Mọi việc chung từ một làng nhỏ tới cả thế giới đều do những hội đồng chín người lo, và những hội đồng ấy được bầu bằng phiếu kín mà không ai được ứng cử hay vận động. Điều thứ hai hay gây ngạc nhiên là đạo này đọc lịch sử tôn giáo loài người như một chuỗi mặc khải nối tiếp nhau, nên trong đền thờ Bahá'í có thể nghe đọc cả kinh của những đạo khác.
Một. Đạo dạy ba chữ một: Thượng Đế là một, các tôn giáo lớn cùng một nguồn, và loài người là một gia đình.
Hai. Đạo có một chuỗi kế tục rõ ràng: Báb mất năm 1850, Bahá'u'lláh mất năm 1892, rồi con ông là 'Abdu'l-Bahá, rồi cháu ngoại trưởng của 'Abdu'l-Bahá là Shoghi Effendi, và từ năm 1963 là Viện Công lý Toàn cầu, một hội đồng chín người bầu năm năm một lần.
Ba. Kinh sách là chính văn của Báb, của Bahá'u'lláh và của 'Abdu'l-Bahá, viết bằng tiếng Ả Rập và tiếng Ba Tư. Quyển luật gốc là Kitáb-i-Aqdas, nghĩa là Quyển Sách Thánh Nhất.
Bốn. Đạo dùng riêng một bộ lịch gọi là lịch Badí', mười chín tháng, mỗi tháng mười chín ngày, năm mới rơi vào ngày xuân phân. Tháng cuối năm là tháng giữ chay.
Năm. Nơi thờ chung gọi là Mashriqu'l-Adhkár, người ngoài quen gọi là đền thờ Bahá'í, dựng theo lối chín cạnh với mái vòm ở giữa, mở cửa cho người thuộc mọi đạo. Ngôi đền được biết tới nhiều nhất là Đền Hoa Sen ở New Delhi.
Trang này đi theo mười lăm mục và viết theo lối mô tả. Thư viện thuật lại điều đạo Bahá'í tự nhận trong hộp theo giáo nghĩa, thuật lại điều giới sử học khảo được trong hộp theo sử liệu, và giữ hai thứ ấy tách bạch. Những chỗ các nguồn ghi khác nhau, như số tín đồ trên thế giới, năm đạo vào Việt Nam hay tháng cấp giấy đăng ký hoạt động, thư viện ghi cả hai con số kèm nguồn chứ không chọn một. Trang không xét đạo này đúng hay sai so với đạo khác.
IIBa Tư Thế Kỷ Mười Chín Và Niềm Chờ Đợi Đấng Qá'im
Muốn hiểu vì sao lời tuyên bố của Báb năm 1844 làm dấy lên một phong trào lớn đến thế, phải nhìn vào đời sống tôn giáo của Ba Tư lúc ấy. Đất nước dưới triều Qájár theo dòng Shia Mười Hai Imam, dòng Shia đông nhất mà trang Hồi Giáo của thư viện đã tả. Dòng này tin rằng vị Imam thứ mười hai đã đi vào trạng thái ẩn mặt từ thế kỷ thứ chín, và một ngày nào đó sẽ trở lại với tư cách Qá'im, nghĩa là đấng sẽ đứng lên, để lập lại công chính trên mặt đất. Niềm chờ đợi ấy không phải chuyện xa xôi trong sách vở. Đến những năm 1840, trong giới học giả có tính toán lưu hành rằng thời điểm ấy sắp tới, vì năm 1260 theo lịch Hijri, tức năm 1844 dương lịch, tròn một nghìn năm kể từ ngày vị Imam ẩn mặt.
Trường phái Shaykhí, cây cầu dẫn tới Báb
Trong lòng dòng Shia lúc ấy có một trường phái nhỏ nhưng sôi nổi gọi là Shaykhí, theo tên Shaykh Ahmad al-Ahsá'í, mất năm 1826, và người kế tục ông là Siyyid Kázim Rashtí, mất cuối năm 1843. Hai vị dạy rằng sự trở lại của Qá'im cần được hiểu theo nghĩa tinh thần nhiều hơn nghĩa đen, và họ nói với môn đồ rằng ngày ấy đã rất gần. Khi Siyyid Kázim qua đời mà không chỉ định người kế vị, nhiều môn đồ của ông tỏa đi các ngả để tìm đấng được hứa. Một trong số họ là Mullá Husayn, và chính ông là người đầu tiên nghe Báb tuyên bố tại Shiraz.
Dòng Shia Mười Hai Imam chờ vị Imam ẩn mặt trở lại. Các văn bản của phong trào Báb và của đạo Bahá'í đọc chính mình như câu trả lời cho niềm chờ đợi ấy, và cho cả niềm chờ đợi của các đạo khác.
Chuẩn bị sẵn một nhóm môn đồ tin rằng thời điểm đã tới và sẵn lòng đi tìm. Phần lớn những người theo Báb thời đầu xuất thân từ nhóm này.
Ở Ba Tư thời ấy, giới giáo sĩ nắm việc giảng dạy, xử kiện và nhiều việc dân sự. Một lời tuyên bố về mặc khải mới vì thế đụng ngay tới cả một hệ thống, và đó là lý do phong trào của Báb gặp chống đối rất sớm.
Vì ra đời trong môi trường Shia, đạo Bahá'í hay bị gọi là một nhánh hay một phong trào cải cách của Hồi Giáo. Chính người Bahá'í không nhận cách gọi ấy. Họ xem đạo mình là một tôn giáo độc lập, có đấng sáng lập, kinh sách, luật lệ, lịch và nơi thờ riêng, cũng như Kitô Giáo ra đời trong môi trường Do Thái nhưng không phải là một nhánh Do Thái Giáo. Về phía mình, giới học giả Hồi Giáo nói chung cũng không xem đạo Bahá'í là một phần của Hồi Giáo, vì Hồi Giáo tin Muhammad là vị sứ giả cuối cùng. Hai phía đi từ hai tiền đề khác nhau nhưng gặp nhau ở một kết luận: đây là hai đạo khác nhau.
IIIBáb, Người Mở Cửa
Tên thật của Báb là Siyyid 'Alí-Muhammad, sinh ngày 20 tháng Mười năm 1819 tại Shiraz, trong một gia đình buôn bán thuộc dòng dõi Muhammad, nên mang danh hiệu siyyid. Cha mất sớm, ông được người cậu nuôi dạy và theo nghề buôn của gia đình. Danh hiệu mà ông tự nhận là Báb باب, nghĩa đen là cái cửa. Trong ngôn ngữ Shia, chữ ấy chỉ người làm cửa ngõ giữa tín đồ và vị Imam ẩn mặt. Về sau các văn bản của ông nói rõ hơn rằng ông không chỉ là cửa ngõ tới vị Imam mà chính là Qá'im được chờ đợi, đồng thời là người báo trước một đấng lớn hơn sẽ đến sau mình.
Theo lời kể của đạo, tối ngày 22 tháng Năm năm 1844, Mullá Husayn tới Shiraz và được một thanh niên lạ mời về nhà. Trong căn phòng trên gác, người thanh niên ấy viết liền một mạch phần mở đầu của bài bình giải chương Yúsuf trong Kinh Qur'an và tuyên bố mình là đấng mà Mullá Husayn đang tìm. Khoảnh khắc ấy được đạo Bahá'í xem là mốc khởi đầu của một thời đại mới. Năm 1844 là năm thứ nhất của lịch Badí', và ngày Tuyên bố của Báb là một trong những ngày thánh lớn nhất trong năm. Cũng theo truyền thống của đạo, chính đêm ấy tại Tehran, 'Abdu'l-Bahá, con trưởng của Bahá'u'lláh, cất tiếng khóc chào đời.
Trong mấy tháng sau đó, mười tám người lần lượt tìm tới và nhận ông, được gọi là Mười Tám Chữ Sống. Trong số ấy có một người phụ nữ là nhà thơ Táhirih, người về sau nổi tiếng vì đã bỏ mạng che mặt trước một hội nghị của những người theo Báb ở Badasht năm 1848, như một cử chỉ tuyên bố rằng luật cũ đã hết thời. Báb gửi các môn đồ đi khắp Ba Tư và vùng Iraq để loan tin, còn bản thân ông lên đường hành hương tới Mecca. Trở về, ông bị quản thúc, rồi bị giam ở hai pháo đài vùng núi tây bắc là Máh-Kú và Chihríq. Phần lớn những gì ông viết ra đời trong những năm bị giam này, trong đó quan trọng nhất là bộ Bayán, quyển sách đặt luật lệ cho cộng đồng của ông và nhiều lần nhắc tới một đấng mà Thượng Đế sẽ làm hiển lộ.
Ngày 9 tháng Bảy năm 1850, Báb bị xử tử tại một quảng trường ở Tabriz, khi mới ba mươi tuổi. Hài cốt của ông được những người theo ông giấu đi và giữ kín gần sáu mươi năm, chuyển qua nhiều nơi, tới năm 1909 mới được đặt vào một ngôi lăng trên sườn núi Carmel ở Haifa. Ngôi lăng mái vàng ấy ngày nay là hình ảnh quen thuộc nhất của đạo Bahá'í.
Tư liệu về Báb khá dày so với nhiều đấng sáng lập tôn giáo khác, vì ông sống giữa thế kỷ mười chín và nhiều văn bản của ông còn giữ được. Bên cạnh các bản viết tay của chính ông còn có biên niên sử của cộng đồng, đáng kể nhất là quyển thường gọi là The Dawn-Breakers của Nabíl-i-A'zam, do Shoghi Effendi dịch và biên tập sang tiếng Anh năm 1932, cùng các ghi chép của những nhà ngoại giao và nhà Đông phương học châu Âu đương thời. Học giả Edward Granville Browne ở Cambridge là người phương Tây đầu tiên nghiên cứu phong trào này một cách hệ thống. Giới sử học nhìn chung thống nhất về các mốc lớn: năm sinh, năm tuyên bố, các năm bị giam và năm bị xử tử. Chỗ còn bàn là cách đọc từng giai đoạn trong tư tưởng của Báb, nhất là mức độ ông tự nhận vai trò của mình ở những năm đầu so với những năm cuối.
Người Bahá'í xem Báb là một Hiện thân của Thượng Đế độc lập, có mặc khải riêng, đồng thời là người mở đường cho Bahá'u'lláh. Vì thế đạo Bahá'í nói rằng mình có hai đấng sáng lập song sinh, và hai ngày sinh của hai vị được mừng liền nhau như một dịp lễ đôi. Phong trào của Báb trước năm 1863 thường được giới nghiên cứu gọi riêng là phong trào Bábí, và cần phân biệt với đạo Bahá'í về sau, dù phần lớn người Bábí đã đi theo Bahá'u'lláh.
IVBahá'u'lláh, Bốn Mươi Năm Lưu Đày
Bahá'u'lláh بهاءالله tên thật là Mírzá Husayn-'Alí Núrí, sinh ngày 12 tháng Mười Một năm 1817 tại Tehran, con một viên quan trong triều Qájár, gốc ở vùng Núr thuộc tỉnh Mázandarán. Năm 1844, khi nghe tin về Báb qua một sứ giả của Mullá Husayn, ông nhận ngay lời tuyên bố ấy và trở thành một trong những người đỡ đầu nổi bật nhất của phong trào, dù chưa bao giờ gặp Báb.
Síyáh-Chál, căn ngục tối năm 1852
Năm 1852, trong một đợt bắt giam hàng loạt những người theo Báb, Bahá'u'lláh bị giam ở Síyáh-Chál, nghĩa là Hố Đen, một hầm ngục dưới đất ở Tehran, cổ đeo xích nặng. Theo chính lời ông viết về sau, trong bốn tháng ấy ông nhận được những dấu hiệu đầu tiên của sứ mệnh mình. Đạo Bahá'í xem căn ngục ấy là nơi mặc khải của Bahá'u'lláh bắt đầu, dù ông giữ kín điều ấy thêm mười năm nữa.
Baghdad và vườn Ridván
Ra khỏi ngục, Bahá'u'lláh bị trục xuất khỏi Ba Tư và tới Baghdad, khi ấy thuộc đế quốc Ottoman, đầu năm 1853. Đây là khởi đầu của chuỗi lưu đày kéo dài trọn phần đời còn lại. Từ năm 1854 tới năm 1856, ông bỏ đi một mình vào vùng núi quanh Sulaymaniyah, sống như một người tu khổ hạnh suốt hai năm. Trở về Baghdad, ông viết ba tác phẩm về sau được đọc nhiều nhất: Những Lời Ẩn Giấu, một tập châm ngôn ngắn bằng tiếng Ả Rập và tiếng Ba Tư, Bảy Thung Lũng, một luận văn thần bí viết theo lối thơ Sufi, và Kitáb-i-Íqán, quyển Sách Xác Tín, giảng về cách đọc các lời tiên tri trong kinh sách cũ.
Năm 1863, được lệnh dời tới Constantinople, Bahá'u'lláh dựng lều trong một khu vườn bên bờ sông Tigris và ở đó mười hai ngày, từ ngày 21 tháng Tư tới ngày 2 tháng Năm. Người Bahá'í gọi khu vườn ấy là Ridván رضوان, nghĩa là thiên đường, sự hài lòng. Trong mười hai ngày ấy, theo truyền thống của đạo, ông cho những người thân cận biết rằng chính ông là đấng mà Báb đã báo trước. Mười hai ngày Ridván ngày nay là dịp lễ lớn nhất của đạo, và cũng là lúc các hội đồng Bahá'í khắp thế giới tiến hành bầu cử hằng năm.
Adrianople, Akka và những lá thư gửi vua chúa
Từ Constantinople, ông bị đưa tiếp tới Adrianople, nay là Edirne, và sống ở đó từ năm 1863 tới năm 1868. Chính ở Adrianople ông công bố sứ mệnh rộng rãi hơn, và cũng ở đây xảy ra sự chia tách với người em cùng cha khác mẹ là Mírzá Yahyá, người vốn được Báb chọn làm người đứng đầu danh nghĩa của cộng đồng Bábí. Phần lớn người Bábí theo Bahá'u'lláh và từ đó gọi mình là Bahá'í. Một nhóm nhỏ theo Mírzá Yahyá, gọi là người Azalí.
Trong những năm cuối ở Adrianople và những năm đầu ở Akka, Bahá'u'lláh viết một loạt thư gửi các vua chúa và người đứng đầu các tôn giáo đương thời ở châu Âu và châu Á, kêu gọi họ lấy công lý làm gốc và hòa giải với nhau. Đạo Bahá'í xem những lá thư ấy là lời công bố sứ mệnh với thế giới. Năm 1868 ông bị đày tới Akka, một thành lũy ven biển Địa Trung Hải, rồi những năm cuối đời được sống ở một dinh thự ngoài thành gọi là Bahjí. Ông qua đời tại đó ngày 29 tháng Năm năm 1892. Ngôi lăng của ông ở Bahjí là nơi thiêng nhất đối với người Bahá'í, và là hướng họ quay về khi đọc lời nguyện bắt buộc.
Năm 1890, học giả Edward Granville Browne tới Bahjí và được Bahá'u'lláh tiếp bốn lần. Browne ghi lại cuộc gặp trong phần dẫn nhập của bản dịch A Traveller's Narrative xuất bản năm 1891, và đoạn ghi chép ấy là một trong số rất ít lời kể của người ngoài đạo từng trực tiếp gặp ông. Về văn bản, các nhà nghiên cứu ước tính chính văn của Bahá'u'lláh gồm từ mười lăm nghìn tới hơn hai mươi nghìn thư và tác phẩm, phần lớn chưa được dịch. Niên đại các sự kiện chính ít tranh cãi, vì phần lớn có trong giấy tờ hành chính của hai đế quốc Ba Tư và Ottoman.
Không, theo chính giáo nghĩa Bahá'í. Đạo dạy rằng Thượng Đế là thực thể không thể biết tới trọn vẹn, không nhập thể vào một con người. Bahá'u'lláh được xem là một Hiện thân của Thượng Đế, giống như tấm gương phản chiếu ánh mặt trời: tấm gương cho thấy mặt trời nhưng không phải là mặt trời. Ảnh chụp và tranh vẽ Bahá'u'lláh cùng Báb tuy còn giữ được, nhưng người Bahá'í không treo ở nơi thờ hay trong nhà, chỉ được xem trong khuôn khổ hành hương tại Trung tâm Thế giới, như một cách giữ lòng tôn kính.
V'Abdu'l-Bahá, Shoghi Effendi Và Viện Công Lý Toàn Cầu
Nhiều tôn giáo chia nhánh ngay sau khi đấng sáng lập qua đời, vì câu hỏi ai được quyền dẫn dắt và ai được quyền giải thích kinh sách. Đạo Bahá'í có một khái niệm riêng để trả lời câu hỏi ấy từ trước, gọi là Giao Ước. Theo đó, chính Bahá'u'lláh đã viết trong di chúc ai là người kế tục, ai có quyền giải thích lời ông, và cơ quan nào sẽ ban hành luật cho những việc kinh sách không nói tới.
'Abdu'l-Bahá, Trung Tâm Của Giao Ước
'Abdu'l-Bahá عبدالبهاء, tên thật 'Abbás, sinh ngày 23 tháng Năm năm 1844, là con trưởng của Bahá'u'lláh. Danh hiệu ông tự chọn có nghĩa là Tôi Tớ Của Bahá. Ông theo cha suốt bốn mươi năm lưu đày, từ lúc tám tuổi, và theo di chúc của cha thì trở thành người đứng đầu đạo và người giải thích duy nhất có thẩm quyền đối với lời của Bahá'u'lláh. Đạo gọi ông là Trung Tâm Của Giao Ước và xem ông là mẫu mực của đời sống Bahá'í, nhưng không xem ông là một Hiện thân của Thượng Đế.
Năm 1908, ông được trả tự do sau bốn mươi năm bị giữ ở Akka. Từ năm 1910 tới năm 1913, dù đã ngoài sáu mươi tuổi, ông đi Ai Cập, châu Âu và Bắc Mỹ, nói chuyện ở nhà thờ, hội đường, đại học và hội từ thiện, trình bày giáo nghĩa Bahá'í cho công chúng phương Tây. Năm 1912 ông đặt viên đá góc cho ngôi đền Bahá'í tại Wilmette gần Chicago. Ông qua đời tại Haifa ngày 28 tháng Mười Một năm 1921. Thư từ và quyển Di Chúc của ông là một phần của kinh sách Bahá'í.
Shoghi Effendi, Người Giám Hộ
Theo di chúc của 'Abdu'l-Bahá, người đứng đầu đạo từ năm 1921 là cháu ngoại trưởng của ông, Shoghi Effendi Rabbání, sinh năm 1897, khi ấy mới hai mươi bốn tuổi và đang học ở Đại học Oxford. Chức vị của ông gọi là Người Giám Hộ của đạo. Trong ba mươi sáu năm, ông làm ba việc lớn. Thứ nhất, ông dịch nhiều tác phẩm chính sang tiếng Anh, và bản dịch của ông trở thành chuẩn cho phần lớn các bản dịch sang những thứ tiếng khác. Thứ hai, ông dựng bộ máy hành chính gồm các hội đồng địa phương và quốc gia theo đúng khung mà Bahá'u'lláh và 'Abdu'l-Bahá đã phác ra. Thứ ba, ông cho xây phần mái lăng của Báb, hoàn tất năm 1953, và quy hoạch khu vườn trên núi Carmel. Ông qua đời bất ngờ tại London ngày 4 tháng Mười Một năm 1957, không có con và không chỉ định người Giám hộ kế tiếp.
Viện Công lý Toàn cầu, từ năm 1963
Sau khi Shoghi Effendi mất, một nhóm tín đồ lão thành do ông bổ nhiệm, gọi là Những Bàn Tay Của Chính Nghĩa, tạm giữ việc chung trong sáu năm. Tháng Tư năm 1963, đúng dịp Ridván tròn một trăm năm, đại biểu của năm mươi sáu hội đồng quốc gia khi ấy bầu ra Viện Công lý Toàn cầu بيت العدل الأعظم, cơ quan mà Bahá'u'lláh đã định sẵn trong Kitáb-i-Aqdas. Viện gồm chín người, bầu năm năm một lần tại một Đại hội Quốc tế, bằng phiếu kín của thành viên tất cả các hội đồng quốc gia. Từ năm 1983, Viện làm việc trong một tòa nhà trên núi Carmel. Viện có thẩm quyền ban hành luật cho những điều kinh sách không nói rõ, nhưng không có quyền giải thích kinh sách, việc ấy thuộc riêng về 'Abdu'l-Bahá và Shoghi Effendi.
VIDòng Thời Gian Gần Hai Trăm Năm
Đạo Bahá'í là một trong những đạo lớn trẻ nhất, nên gần như mọi mốc của nó đều có giấy tờ ghi lại, và ngày tháng ít khi phải đoán. Dưới đây là những mốc đủ lớn để đổi hướng dòng chảy của đạo, kể như những sự kiện tôn giáo.
- 1817Bahá'u'lláh chào đời tại TehranNgày 12 tháng Mười Một, trong một gia đình quan lại gốc vùng Núr.
- 1819Báb chào đời tại ShirazNgày 20 tháng Mười. Từ năm 2015, hai ngày sinh được mừng liền nhau theo âm lịch.
- 1844Báb tuyên bố tại ShirazĐêm 22 rạng 23 tháng Năm, trước Mullá Husayn. Năm thứ nhất của lịch Badí'. Cùng đêm ấy 'Abdu'l-Bahá chào đời.
- 1850Báb bị xử tử tại TabrizNgày 9 tháng Bảy. Hài cốt được giấu giữ gần sáu mươi năm.
- 1852Bahá'u'lláh bị giam ở Síyáh-ChálBốn tháng trong hầm ngục Tehran, nơi đạo xem là chỗ mặc khải của ông bắt đầu.
- 1853Lưu đày tới BaghdadMở đầu chuỗi bốn mươi năm lưu đày. Từ năm 1854 tới 1856 ông ở một mình trong vùng núi Sulaymaniyah.
- 1863Mười hai ngày RidvánTừ 21 tháng Tư tới 2 tháng Năm, tại một khu vườn bên sông Tigris. Mốc khai lập đạo Bahá'í.
- 1868Tới AkkaBị giữ trong thành lũy, rồi những năm cuối đời sống ở dinh thự Bahjí ngoài thành.
- khoảng 1873Kitáb-i-AqdasQuyển Sách Thánh Nhất, bộ luật gốc của đạo, viết bằng tiếng Ả Rập tại Akka.
- 1892Bahá'u'lláh qua đời tại BahjíNgày 29 tháng Năm. Di chúc chỉ định 'Abdu'l-Bahá làm người kế tục.
- 1910 tới 1913'Abdu'l-Bahá sang phương TâyĐi Ai Cập, châu Âu và Bắc Mỹ. Năm 1912 đặt viên đá góc đền Wilmette.
- 1921'Abdu'l-Bahá qua đờiNgày 28 tháng Mười Một tại Haifa. Shoghi Effendi làm Người Giám hộ.
- 1953Khánh thành đền Wilmette và hoàn tất mái lăng BábNgôi đền Bahá'í đầu tiên ở phương Tây, bốn mươi mốt năm sau khi đặt viên đá góc.
- 1954Đạo Bahá'í tới Việt NamTheo Ban Tôn giáo Chính phủ. Một nghiên cứu năm 2021 lại ghi đạo đã vào nước ta từ thập niên 1920. Xem mục Tại Việt Nam.
- 1957Shoghi Effendi qua đời tại LondonNgày 4 tháng Mười Một. Những Bàn Tay Của Chính Nghĩa tạm giữ việc chung.
- 1963Bầu Viện Công lý Toàn cầu lần đầuTháng Tư, đúng một trăm năm sau Ridván. Từ đó bầu năm năm một lần.
- 1986Khánh thành Đền Hoa Sen ở New DelhiTháng Mười Hai. Một trong những công trình được viếng nhiều nhất Ấn Độ.
- 2008Các thánh địa ở Haifa và miền tây Galilee vào danh sách Di sản Thế giớiUNESCO ghi danh lăng Bahá'u'lláh ở Akka và lăng Báb ở Haifa. Cùng năm, tổ chức Bahá'í tại Việt Nam được công nhận.
- 2015Thống nhất lịch Badí' toàn cầuTheo thư ngày 10 tháng Bảy năm 2014 của Viện Công lý Toàn cầu, năm mới tính theo điểm xuân phân tại Tehran.
VIIGiáo Nghĩa Cốt Lõi
Đạo Bahá'í không có một bản tín điều ngắn buộc mọi người đọc thuộc như kinh Tin Kính của Kitô Giáo hay lời Shahada của Hồi Giáo. Giáo nghĩa nằm rải trong chính văn của Bahá'u'lláh và được 'Abdu'l-Bahá gom lại thành những nguyên tắc dễ nhớ khi giảng ở phương Tây. Người Bahá'í hay tóm tất cả trong ba chữ một, rồi từ đó suy ra những nguyên tắc cho đời sống cá nhân và xã hội.
Thượng Đế là một
Theo giáo nghĩa Bahá'í, chỉ có một Thượng Đế, đấng tạo ra và duy trì vạn vật. Bản thể của Thượng Đế vượt ngoài mọi hiểu biết của con người, như một bức tranh không thể hiểu người họa sĩ. Con người chỉ biết tới Thượng Đế qua những thuộc tính của Ngài được phản chiếu nơi muôn vật, và rõ nhất là qua những Hiện thân mà Ngài gửi tới từng thời đại. Các danh xưng khác nhau mà các đạo dùng, như Thượng Đế, Allah, Brahman hay Đấng Tạo Hóa, được hiểu là những cách gọi khác nhau của cùng một thực tại.
Các tôn giáo cùng một nguồn, và mặc khải tiệm tiến
Đây là chỗ riêng nhất của đạo Bahá'í. Đạo dạy rằng Thượng Đế không mặc khải một lần rồi thôi, mà gửi tới loài người một chuỗi Hiện thân của Thượng Đế, mỗi vị hợp với trình độ và nhu cầu của thời mình. Chính văn Bahá'í nhắc tên Abraham, Moses, Krishna, Zarathustra, Đức Phật, Chúa Giêsu, Muhammad, rồi Báb và Bahá'u'lláh. Cách hiểu này gọi là mặc khải tiệm tiến. 'Abdu'l-Bahá hay ví nó như một ngôi trường nhiều lớp, thầy mỗi lớp dạy khác nhau nhưng cùng một nền giáo dục.
Mỗi tôn giáo, theo cách đọc ấy, có hai phần. Phần tâm linh gồm lòng yêu Thượng Đế, lòng thương người, sự trung thực, và phần ấy không thay đổi. Phần xã hội gồm luật lệ về ăn uống, cưới hỏi, nghi lễ, và phần ấy đổi theo thời. Người Bahá'í cũng nói rõ rằng Bahá'u'lláh không phải vị cuối cùng: chính văn nói sẽ có Hiện thân khác sau ông, nhưng không sớm hơn một nghìn năm.
Giới nghiên cứu tôn giáo so sánh ghi nhận rằng quan niệm mặc khải tiệm tiến có gốc rễ trong chính Hồi Giáo, vốn đã xem Abraham, Moses và Giêsu là những vị tiên tri đi trước Muhammad. Điểm mới của đạo Bahá'í là mở rộng chuỗi ấy ra ngoài dòng Abraham để gồm cả những vị như Krishna và Đức Phật, và không khép chuỗi lại ở bất kỳ vị nào. Các học giả cũng lưu ý rằng mỗi đạo có cách tự hiểu riêng mà đạo Bahá'í không nhất thiết chia sẻ. Chẳng hạn, phần đông Phật tử không xem Đức Phật là người được Thượng Đế gửi tới, vì giáo lý Phật Giáo không đặt một đấng sáng thế ở trung tâm. Đây là cách đạo Bahá'í đọc các đạo khác, không phải cách các đạo khác tự đọc mình.
Loài người là một
Chữ một thứ ba là trung tâm của cả đạo. Một câu của Bahá'u'lláh hay được trích nhất nói rằng trái đất chỉ là một quê hương và loài người là công dân của nó. Người Bahá'í hiểu rằng nhân loại đang đi qua giai đoạn cuối của tuổi thiếu niên để bước vào tuổi trưởng thành, và dấu hiệu của tuổi trưởng thành là nhận ra mình là một gia đình. Mọi hình thức định kiến, theo chủng tộc, giai cấp, tôn giáo hay quốc tịch, vì thế bị xem là trái với ý Thượng Đế.
Những nguyên tắc 'Abdu'l-Bahá nêu ở phương Tây
Khi giảng ở châu Âu và Bắc Mỹ, 'Abdu'l-Bahá thường trình bày giáo nghĩa thành một danh sách nguyên tắc. Danh sách không cố định, lúc dài lúc ngắn, nhưng những điều sau đây trở lại gần như trong mọi bài nói chuyện:
Mỗi người có bổn phận tự tìm hiểu, không theo đạo chỉ vì cha mẹ hay xứ sở mình theo. Trẻ con nhà Bahá'í tới mười lăm tuổi tự quyết định có nhận mình là Bahá'í hay không.
'Abdu'l-Bahá ví hai thứ như hai cánh của một con chim. Tôn giáo nào nói điều trái với lý trí và khoa học thì, theo lời ông, là mê chấp chứ không phải tôn giáo.
Hai giới như hai cánh của nhân loại, một cánh yếu thì cả con chim không bay được. Khi gia đình phải chọn cho ai đi học trước, chính văn dặn ưu tiên con gái, vì con gái sẽ là người thầy đầu tiên của thế hệ sau.
Mọi trẻ em đều phải được học, và cha mẹ có bổn phận lo việc ấy. Cộng đồng nào cũng được khuyến khích mở lớp đạo đức cho trẻ em không phân biệt đạo.
Mỗi dân tộc giữ tiếng mẹ đẻ, đồng thời cả thế giới chọn thêm một ngôn ngữ chung để học song song. Đạo không chỉ định ngôn ngữ nào.
Không phải chia đều của cải, mà là không để ai rơi xuống dưới mức sống xứng đáng và không để của cải dồn cực độ vào một nhóm. Lao động tận tâm được xem ngang với việc thờ phượng.
Định kiến chủng tộc, tôn giáo, giai cấp và quốc gia được xem là căn nguyên của chia rẽ và xung đột.
Mục tiêu dài hạn mà đạo đặt ra cho nhân loại, đi kèm những điều kiện tinh thần như lòng tin nhau và sự công bằng.
Linh hồn và đời sau
Đạo Bahá'í dạy rằng mỗi người có một linh hồn lý trí, bắt đầu từ lúc thụ thai và không mất đi sau khi chết. Đạo không nhận thuyết luân hồi. Đời này được ví như quãng thai nhi trong bụng mẹ: thai nhi phát triển mắt, tai, tay chân mà trong bụng mẹ chưa dùng tới, và con người trong đời này phát triển những phẩm chất tinh thần như lòng yêu thương, sự công bằng, lòng kiên nhẫn, để dùng ở cõi sau. Thiên đường và địa ngục không phải hai nơi chốn mà là trạng thái gần hay xa Thượng Đế, và linh hồn tiếp tục tiến lên sau cái chết.
Tham vấn
Một khái niệm ít người ngoài biết nhưng rất đậm trong đời sống Bahá'í là tham vấn. Đây là cách bàn bạc để ra quyết định, dùng từ gia đình tới hội đồng toàn cầu. Người tham gia nói thẳng ý mình nhưng không bám lấy nó. Khi ý đã nói ra thì nó thuộc về cả nhóm chứ không còn là của riêng người nói, và ai cũng được khuyến khích đổi ý nếu thấy ý khác hợp hơn. Không đồng thuận thì biểu quyết theo đa số, và mọi người cùng làm theo, kể cả người bỏ phiếu chống. Lý do được giải thích là có đồng lòng thì cái sai mới lộ ra nhanh để sửa.
Không, và đây là chỗ hay nhầm nhất. Đạo Bahá'í dạy rằng các tôn giáo cùng một nguồn, nhưng không dạy rằng chúng giống nhau, cũng không lấy mỗi đạo một ít rồi ghép lại. Đạo có kinh sách riêng, luật riêng, lịch riêng và nhận Bahá'u'lláh là Hiện thân cho thời đại này. Người Việt đọc tới đây dễ liên tưởng tới đạo Cao Đài với chủ trương Tam giáo quy nguyên, Ngũ chi phục nhất. Hai đạo có chỗ gần nhau ở ý tưởng các đạo chung một gốc, nhưng khác nhau ở gần như mọi chỗ khác: đạo Bahá'í không thờ Tam Trấn, không có Thiên Nhãn, không có cơ bút, không có hàng chức sắc, và ra đời ở Ba Tư chứ không ở Nam Kỳ. Trang Cao Đài của thư viện nói rõ phần của đạo ấy.
VIIIKinh Điển Và Quyển Sách Thánh Nhất
Kinh sách Bahá'í gồm chính văn của ba vị: Báb, Bahá'u'lláh và 'Abdu'l-Bahá. Chỉ những gì chính ba vị viết ra hoặc duyệt lại mới được xem là kinh văn. Những lời người khác ghi lại theo trí nhớ, dù đáng tin tới đâu, cũng chỉ là tư liệu tham khảo. Bên cạnh đó, các bản giải thích của Shoghi Effendi có thẩm quyền ràng buộc về cách hiểu, và thư của Viện Công lý Toàn cầu có thẩm quyền ràng buộc về luật và hướng dẫn. Kho chính văn rất lớn và phần lớn viết bằng hai thứ tiếng: tiếng Ả Rập, thường dùng cho những văn bản trang trọng về luật và nguyện, và tiếng Ba Tư, thường dùng cho thư từ và luận văn.
| Tác phẩm | Tác giả và niên đại | Nội dung cốt |
|---|---|---|
| Kitáb-i-Aqdas الكتاب الأقدس | Bahá'u'lláh, khoảng 1873, tại Akka | Quyển Sách Thánh Nhất. Bộ luật gốc: nguyện, chay, hôn nhân, thừa kế, lịch, cơ cấu hành chính. Bản dịch tiếng Anh có thẩm quyền xuất bản năm 1992 |
| Kitáb-i-Íqán | Bahá'u'lláh, khoảng 1861 tới 1862, tại Baghdad | Sách Xác Tín. Giảng cách đọc lời tiên tri trong kinh sách cũ và khái niệm Hiện thân của Thượng Đế. Là tác phẩm giáo lý chính của đạo |
| Những Lời Ẩn Giấu | Bahá'u'lláh, khoảng 1857 tới 1858, tại Baghdad | Hơn một trăm châm ngôn ngắn, phần tiếng Ả Rập và phần tiếng Ba Tư, về đạo đức và đời sống tâm linh |
| Bảy Thung Lũng và Bốn Thung Lũng | Bahá'u'lláh, thời Baghdad | Luận văn thần bí viết theo lối thơ Sufi, tả hành trình của linh hồn qua các chặng |
| Bayán | Báb, khoảng 1847 tới 1848, khi bị giam ở Máh-Kú | Bộ luật của Báb. Người Bahá'í xem luật trong Bayán đã được Kitáb-i-Aqdas thay thế, nhưng giữ Bayán như chính văn |
| Di Chúc của 'Abdu'l-Bahá | 'Abdu'l-Bahá, viết trong khoảng 1901 tới 1908 | Chỉ định Shoghi Effendi làm Người Giám hộ và phác khung cho Viện Công lý Toàn cầu |
| Những Câu Hỏi Đã Được Giải Đáp | 'Abdu'l-Bahá, trả lời trong khoảng 1904 tới 1906 | Các cuộc trò chuyện tại bàn ăn ở Akka, bàn về triết học, Kinh Thánh, linh hồn, tiến hóa |
Quyển Sách Thánh Nhất
Kitáb-i-Aqdas là quyển sách giữ vị trí trung tâm, nhưng lại là quyển người ngoài ít biết nhất, vì mãi tới năm 1992 mới có bản dịch tiếng Anh có thẩm quyền. Sách không dài, viết bằng tiếng Ả Rập, gồm những đoạn văn vần xen lẫn luật lệ cụ thể. Trong đó Bahá'u'lláh đặt ra lời nguyện bắt buộc hằng ngày, tháng chay, luật hôn nhân, luật thừa kế, cấm rượu và chất gây nghiện, cấm cờ bạc, bỏ lối xưng tội với giáo sĩ, bỏ đời tu viện, bỏ lệ ô uế nghi lễ, và lập các Viện Công lý. Sách cũng nói rằng không được hiểu những luật ấy như một bộ luật hình mà như chìa khóa của lòng thương xót Thượng Đế dành cho con người.
Đọc kinh không cần người giảng
Vì đạo không có tu sĩ, kinh sách không có người độc quyền giảng. Mỗi tín đồ tự đọc và tự hiểu, và được khuyến khích đọc kinh mỗi sáng và mỗi tối. Được chia sẻ cách hiểu của riêng mình, nhưng không ai được nói cách hiểu ấy có thẩm quyền với người khác. Các nhóm học trong cộng đồng Bahá'í thường chỉ có người điều phối chứ không có người giảng.
Có một số, nhưng không nhiều. Thư viện chưa tra được một bản tiếng Việt đã xuất bản chính thức của Kitáb-i-Aqdas hay Kitáb-i-Íqán, nên không ghi tên sách tiếng Việt nào ở đây. Người muốn đọc chính văn có thể dùng thư viện số của đạo tại bahai.org, nơi có bản gốc và bản tiếng Anh có thẩm quyền.
IXLịch Badí', Ngày Lễ Và Luật Sống
Đạo Bahá'í không có bí tích, không có lễ nhập đạo có nghi thức, không có người chủ lễ. Nghi thức rất ít và rất giản dị. Cái giữ nhịp cho đời sống đạo là một bộ lịch riêng, những lời nguyện hằng ngày, một tháng chay mỗi năm, và buổi họp mười chín ngày một lần của cộng đồng địa phương.
Lịch Badí', mười chín nhân mười chín
Lịch Badí' بديع, nghĩa là mới lạ, kỳ diệu, do Báb lập ra và được Bahá'u'lláh xác nhận trong Kitáb-i-Aqdas. Năm có mười chín tháng, mỗi tháng mười chín ngày, cộng lại là ba trăm sáu mươi mốt ngày. Bốn hoặc năm ngày còn thiếu để khớp với năm mặt trời được chèn vào trước tháng cuối, gọi là Ayyám-i-Há, những ngày dành cho quà tặng, tiệc tùng và việc thiện. Mỗi tháng mang tên một thuộc tính của Thượng Đế. Năm thứ nhất là năm 1844, nên năm dương lịch 2026 tương ứng phần lớn với năm 183 của lịch Badí'.
Năm mới gọi là Naw-Rúz نوروز, nghĩa là ngày mới, rơi vào ngày xuân phân. Từ năm 2015, theo thư ngày 10 tháng Bảy năm 2014 của Viện Công lý Toàn cầu, ngày ấy được tính theo thời điểm xuân phân tại Tehran, nên dương lịch xê dịch giữa ngày 20 và 21 tháng Ba. Cũng từ năm ấy, hai ngày sinh của Báb và Bahá'u'lláh được tính theo trăng: rơi vào ngày thứ nhất và thứ hai sau lần trăng mới thứ tám kể từ Naw-Rúz, nên mỗi năm một khác, trong khoảng giữa tháng Mười và tháng Mười Một.
| Thứ tự | Tên tháng | Nghĩa | Bắt đầu quãng |
|---|---|---|---|
| 1 | Bahá | Vinh quang | 21 tháng 3 |
| 2 | Jalál | Uy nghi | 9 tháng 4 |
| 3 | Jamál | Mỹ lệ | 28 tháng 4 |
| 4 | 'Azamat | Cao cả | 17 tháng 5 |
| 5 | Núr | Ánh sáng | 5 tháng 6 |
| 6 | Rahmat | Từ bi | 24 tháng 6 |
| 7 | Kalimát | Lời | 13 tháng 7 |
| 8 | Kamál | Toàn hảo | 1 tháng 8 |
| 9 | Asmá' | Danh hiệu | 20 tháng 8 |
| 10 | 'Izzat | Uy lực | 8 tháng 9 |
| 11 | Mashíyyat | Ý muốn | 27 tháng 9 |
| 12 | 'Ilm | Tri thức | 16 tháng 10 |
| 13 | Qudrat | Quyền năng | 4 tháng 11 |
| 14 | Qawl | Lời nói | 23 tháng 11 |
| 15 | Masá'il | Câu hỏi | 12 tháng 12 |
| 16 | Sharaf | Vinh dự | 31 tháng 12 |
| 17 | Sultán | Chủ tể | 19 tháng 1 |
| 18 | Mulk | Vương quyền | 7 tháng 2 |
| Chèn | Ayyám-i-Há | Những ngày Há, bốn hoặc năm ngày | 26 tháng 2 |
| 19 | 'Alá' | Tối cao, tháng chay | khoảng 1 hoặc 2 tháng 3 |
Mười một ngày thánh
| Ngày thánh | Thời điểm quãng | Nhớ tới | Nghỉ việc |
|---|---|---|---|
| Naw-Rúz | 20 hoặc 21 tháng 3 | Năm mới, ngay sau tháng chay | Có |
| Ngày thứ nhất Ridván | 20 hoặc 21 tháng 4 | Bahá'u'lláh tới vườn Ridván năm 1863 | Có |
| Ngày thứ chín Ridván | 28 hoặc 29 tháng 4 | Gia đình Bahá'u'lláh tới vườn | Có |
| Ngày thứ mười hai Ridván | 1 hoặc 2 tháng 5 | Bahá'u'lláh rời vườn lên đường | Có |
| Tuyên bố của Báb | 23 hoặc 24 tháng 5 | Đêm Báb tuyên bố năm 1844 | Có |
| Bahá'u'lláh thăng thiên | 28 hoặc 29 tháng 5 | Ngày Bahá'u'lláh qua đời năm 1892 | Có |
| Báb tử đạo | 9 hoặc 10 tháng 7 | Ngày Báb bị xử tử năm 1850 | Có |
| Ngày sinh của Báb | Theo trăng, tháng 10 hoặc 11 | Sinh năm 1819 | Có |
| Ngày sinh của Bahá'u'lláh | Ngày kế tiếp | Sinh năm 1817 | Có |
| Ngày Giao Ước | 25 hoặc 26 tháng 11 | Vai trò của 'Abdu'l-Bahá | Không |
| 'Abdu'l-Bahá thăng thiên | 27 hoặc 28 tháng 11 | Ngày 'Abdu'l-Bahá qua đời năm 1921 | Không |
Nguyện, chay và những điều cấm
Mỗi tín đồ từ mười lăm tuổi đọc một lời nguyện bắt buộc mỗi ngày, được chọn một trong ba bài: bài ngắn đọc một lần trong khoảng từ trưa tới hoàng hôn, bài vừa đọc ba lần sáng trưa tối, bài dài đọc một lần bất cứ lúc nào trong ngày. Lời nguyện đọc riêng, không đọc chung theo người dẫn. Khi đọc, người ấy quay mặt về phía lăng Bahá'u'lláh ở Bahjí. Ngoài ra còn có lệ lặp lại câu الله أبهى, phiên âm Alláh-u-Abhá, nghĩa là Thượng Đế Vinh Quang Nhất, chín mươi lăm lần mỗi ngày.
Tháng chay là tháng 'Alá', mười chín ngày cuối cùng của năm, thường từ ngày 1 hoặc 2 tới ngày 19 hoặc 20 tháng Ba. Người từ mười lăm tới bảy mươi tuổi không ăn không uống từ lúc mặt trời mọc tới lúc mặt trời lặn. Được miễn là người ốm, người đi đường, phụ nữ mang thai hoặc cho con bú, người làm việc nặng. Người Bahá'í cũng giữ Huqúqu'lláh حقوق الله, nghĩa là Quyền Của Thượng Đế, một khoản dâng mười chín phần trăm trên phần của cải dư ra sau chi tiêu cần thiết, tính theo lương tâm từng người và không ai được đi thu. Đạo cấm rượu và chất gây nghiện trừ khi bác sĩ chỉ định, cấm cờ bạc, cấm nói xấu sau lưng.
Lễ Mười Chín Ngày
Ngày đầu mỗi tháng Badí', cộng đồng Bahá'í ở một địa phương họp chung một buổi gọi là Lễ Mười Chín Ngày. Buổi họp có ba phần. Phần tâm linh đọc kinh và lời nguyện. Phần hành chính nghe hội đồng địa phương báo cáo và cả cộng đồng tham vấn, góp ý. Phần giao lưu ăn uống với nhau. Buổi họp này chỉ dành cho tín đồ, khác với các buổi cầu nguyện và lớp học mở cho mọi người.
Cưới và tang
Đám cưới Bahá'í không có người chủ lễ. Điều bắt buộc duy nhất là cô dâu và chú rể, trước mặt hai người làm chứng do hội đồng địa phương chấp nhận, mỗi người nói một câu ngắn trong Kitáb-i-Aqdas: chúng tôi quả thật sẽ tuân theo ý muốn của Thượng Đế. Phần còn lại theo văn hóa từng nơi. Hôn nhân một vợ một chồng và cần sự đồng ý của cả hai người lẫn cha mẹ còn sống của cả hai bên, một quy định được giải thích là để giữ gìn sự đoàn kết giữa hai gia đình. Về tang lễ, người chết được chôn chứ không hỏa táng, không đưa đi quá một giờ đường từ nơi mất, và có một lời nguyện riêng cho người chết, là lời nguyện duy nhất trong đạo được đọc chung.
XĐền Thờ Chín Cạnh Và Trung Tâm Thế Giới
Tên gọi của đền thờ Bahá'í là Mashriqu'l-Adhkár مشرق الأذكار, nghĩa là Nơi Rạng Lên Sự Tưởng Nhớ Thượng Đế. Kitáb-i-Aqdas dặn mỗi nơi nên dựng một ngôi nhà như thế, nhưng trong thực tế đền thờ rất hiếm, và phần lớn cộng đồng Bahá'í sinh hoạt tại nhà riêng hoặc tại các trung tâm Bahá'í, tức những ngôi nhà làm văn phòng và phòng họp, không phải nơi thờ.
Những quy tắc của một ngôi đền
Mỗi đền có chín mặt và một mái vòm ở giữa. Ngoài quy ước ấy, kiến trúc sư được tự do theo vật liệu và văn hóa từng nơi, nên không có hai ngôi đền nào giống nhau.
Chín mặt thường có chín lối vào. Ai cũng vào được, không cần là Bahá'í, không cần thưa hỏi, không cần đóng góp.
Bên trong không có hình người, không có bàn thờ, không có giảng đài. Bên trong chỉ có ghế ngồi và khoảng lặng.
Buổi thờ chỉ đọc hoặc hát kinh, của đạo Bahá'í và cả của các đạo khác, không có ai giảng giải. Nhạc cụ không được dùng bên trong, chỉ có giọng người.
| Nơi | Năm hoàn tất | Cấp |
|---|---|---|
| Ashgabat, Turkmenistan | Đầu thế kỷ 20 | Đền đầu tiên, nay không còn |
| Wilmette, gần Chicago, Hoa Kỳ | 1953 | Châu lục |
| Kampala, Uganda | 1961 | Châu lục |
| Sydney, Úc | 1961 | Châu lục |
| Langenhain, gần Frankfurt, Đức | 1964 | Châu lục |
| Thành phố Panama, Panama | 1972 | Châu lục |
| Apia, Samoa | 1984 | Châu lục |
| New Delhi, Ấn Độ | 1986 | Châu lục, Đền Hoa Sen |
| Santiago, Chile | 2016 | Châu lục |
| Battambang, Campuchia | 2017 | Địa phương |
| Norte del Cauca, Colombia | 2018 | Địa phương |
| Matunda Soy, Kenya | 2021 | Địa phương |
| Tanna, Vanuatu | 2021 | Địa phương |
| Kinshasa, Cộng hòa Dân chủ Congo | 2023 | Quốc gia |
Đền Hoa Sen, ngôi đền gần người Việt nhất
Ngôi đền được người châu Á biết tới nhiều nhất là Đền Hoa Sen ở New Delhi, khánh thành tháng Mười Hai năm 1986, do kiến trúc sư Fariborz Sahba thiết kế. Công trình gồm hai mươi bảy cánh hoa ốp đá cẩm thạch trắng, xếp thành ba vòng chín cánh, quanh là chín hồ nước. Hoa sen được chọn vì là hình ảnh thiêng chung của nhiều đạo trên tiểu lục địa. Các nguồn tổng hợp ghi đền đón hơn hai triệu rưỡi lượt khách mỗi năm, có ngày lễ lên tới hơn một trăm nghìn lượt. Ngôi đền gần Việt Nam nhất về địa lý là đền địa phương ở Battambang, miền tây Campuchia, khánh thành năm 2017, với mái gợi dáng mái chùa Khmer.
Trung tâm Thế giới ở Haifa và Akka
Vì Bahá'u'lláh bị đày tới Akka và qua đời ở đó, và vì hài cốt Báb được đặt trên núi Carmel ngay bên kia vịnh, hai thành phố ven biển này trở thành Trung tâm Thế giới Bahá'í. Ở đó có lăng Bahá'u'lláh tại Bahjí, lăng Báb với mái vòm dát vàng, mười chín bậc vườn trải dọc sườn núi Carmel mở cửa năm 2001, và tòa nhà của Viện Công lý Toàn cầu. Năm 2008, UNESCO ghi danh các thánh địa Bahá'í ở Haifa và miền tây Galilee vào danh sách Di sản Thế giới. Theo Bahá'í World News Service, mỗi năm có quãng một triệu người tới thăm lăng và vườn.
Ngôi sao chín cánh, cũng là ấn ký thư viện dùng cho trang này, là biểu tượng được dùng rộng rãi nhất để nhận ra đạo Bahá'í, nhưng không do kinh sách quy định. Con số chín được chọn vì theo phép tính abjad gán số cho chữ Ả Rập, chữ bahá có tổng là chín, và chín là số lẻ lớn nhất có một chữ số, được xem là biểu tượng của sự trọn vẹn. Người Bahá'í còn dùng hai biểu tượng khác mang tính nghi lễ hơn: bức thư pháp Danh Xưng Tối Đại, chữ يا بهاء الأبهى, phiên âm Yá Bahá'u'l-Abhá, nghĩa là Hỡi Vinh Quang Của Đấng Vinh Quang Nhất, và biểu tượng đá nhẫn gồm ba vạch ngang tượng trưng cho thế giới của Thượng Đế, thế giới của các Hiện thân và thế giới con người, nối bằng một vạch dọc, hai bên có hai ngôi sao năm cánh chỉ Báb và Bahá'u'lláh.
XIKhông Tu Sĩ, Chỉ Có Hội Đồng
Kitáb-i-Aqdas bỏ hẳn tầng lớp giáo sĩ. Không ai trong đạo Bahá'í được trả lương để làm lễ, giảng đạo hay giải thích kinh sách. Thay vào đó là một hệ thống hội đồng bầu cử gọi là Trật Tự Hành Chính. Điểm đáng chú ý nhất là quyền quyết định thuộc về hội đồng như một tập thể chứ không thuộc về cá nhân nào trong hội đồng. Một thành viên ra khỏi phòng họp thì trở lại làm một tín đồ như mọi người.
Chín người, bầu mỗi năm vào ngày thứ nhất của Ridván, ở nơi có từ chín tín đồ trưởng thành trở lên. Lo việc giáo dục, hôn nhân, tổ chức Lễ Mười Chín Ngày, giúp đỡ tín đồ trong vùng.
Chín người, bầu mỗi năm bởi đại biểu của cả nước tại một đại hội quốc gia. Theo Bahá'í World News Service, hiện có 188 hội đồng cấp quốc gia.
Chín người, bầu năm năm một lần tại Đại hội Quốc tế ở Haifa, bởi thành viên các hội đồng quốc gia. Là cơ quan tối cao của đạo.
Song song với các hội đồng bầu có một nhánh người được bổ nhiệm gồm Hội đồng Cố vấn Châu lục và các thành viên Hội đồng Phụ tá. Họ khích lệ, tư vấn và theo dõi đời sống cộng đồng nhưng không có quyền ra quyết định hành chính.
Mạng lưới các chương trình học theo nhóm nhỏ, nổi tiếng nhất là chuỗi sách của Viện Ruhi phát triển ở Colombia từ thập niên 1970. BWNS ghi có hơn ba trăm viện đào tạo trên thế giới.
Bầu mà không ứng cử
Cách bầu cử của đạo Bahá'í là chỗ người ngoài thấy lạ nhất. Không ai được tự ứng cử, không ai được đề cử người khác, không ai được vận động, kể cả nói bóng gió. Mỗi người trong phòng bầu, sau khi cầu nguyện và im lặng suy nghĩ, viết lên phiếu kín tên chín người mà mình thấy hợp nhất, dựa trên những phẩm chất được chính văn nêu ra như lòng trung thành, sự tận tụy, trí tuệ đã được rèn luyện và kinh nghiệm đã được chứng tỏ. Chín người nhiều phiếu nhất trở thành hội đồng. Người được bầu không được từ chối nếu không có lý do chính đáng. Hội đồng tự bầu lấy chủ tịch và thư ký trong số chín người, nhưng chủ tịch chỉ điều hành buổi họp chứ không có quyền riêng. Người Bahá'í xem cách bầu ấy là một hình thức thờ phượng hơn là một cuộc tranh cử.
Giao Ước và những nhóm tách ra
Nhờ chuỗi kế tục được viết rõ trong di chúc, cộng đồng Bahá'í trên thế giới hiện gần như là một khối thống nhất dưới Viện Công lý Toàn cầu. Dẫu vậy, lịch sử của đạo cũng ghi nhận vài nhóm tách ra, đều rất nhỏ. Thời Adrianople có nhóm theo Mírzá Yahyá, gọi là người Azalí, thực ra là một nhánh Bábí chứ không tự gọi là Bahá'í. Sau khi Bahá'u'lláh mất, một người con khác của ông là Mírzá Muhammad-'Alí không nhận vai trò của 'Abdu'l-Bahá và có một số người theo. Sau năm 1957, có vài nhóm nhỏ theo một người trong Những Bàn Tay Của Chính Nghĩa đã tự nhận chức Giám hộ. Các nhóm ấy nay chỉ còn quy mô rất nhỏ. Đạo Bahá'í chính dòng xem việc chống lại chuỗi kế tục đã định là vi phạm Giao Ước, và người làm việc ấy không còn được xem là thành viên của cộng đồng.
Người quen với cơ cấu Giáo hội Công Giáo dễ đọc các hội đồng Bahá'í như một bộ máy giáo quyền. Chỗ khác nằm ở hai điểm. Thứ nhất, không ai trong hệ thống có chức thánh, tức không ai được xem là có ơn riêng để làm trung gian giữa tín đồ và Thượng Đế. Thứ hai, không ai giữ quyền suốt đời, mọi chức vụ trong các hội đồng đều qua bầu định kỳ. Ngay Viện Công lý Toàn cầu cũng là một hội đồng, không thành viên nào có tiếng nói riêng nhân danh Viện.
XIISố Tín Đồ, Và Vì Sao Các Con Số Chênh Nhau
Đạo Bahá'í là đạo có ranh giới thành viên rõ: người trở thành Bahá'í thường ký một thẻ ghi danh và được hội đồng địa phương ghi vào sổ. Vậy mà các con số được công bố chênh nhau rất xa, từ dưới năm triệu tới gần tám triệu rưỡi. Báo cáo năm 2025 của Pew Research Center không tách riêng người Bahá'í mà xếp vào nhóm chung với Sikh, Kỳ Na Giáo, Thần Đạo, Đạo Giáo, Bái Hỏa Giáo và nhiều đạo khác, nhóm này chiếm 2,2 phần trăm dân số thế giới theo số liệu mốc 2020.
| Phạm vi | Con số | Năm dữ liệu | Nguồn |
|---|---|---|---|
| Toàn cầu | Hơn 5 triệu người, ở hơn một trăm nghìn địa phương | Trang thống kê hiện hành, tra tháng 9 năm 2026 | Bahá'í World News Service, cơ quan tin tức chính thức của cộng đồng Bahá'í |
| Toàn cầu | 8,3 triệu người | 2018 | World Religion Database, dẫn lại qua bách khoa Bahaipedia |
| Toàn cầu, nhóm các tôn giáo khác | 2,2 phần trăm dân số thế giới, không tách riêng Bahá'í | 2020, công bố 2025 | Pew Research Center |
| Ấn Độ, theo điều tra dân số | 11.324 người | 2001 | Điều tra dân số Ấn Độ năm 2001 |
| Ấn Độ, theo điều tra dân số | 4.572 người | 2011 | Điều tra dân số Ấn Độ năm 2011, dẫn lại qua Wikipedia tiếng Anh |
| Ấn Độ, theo ước tính | Gần 1,9 triệu người | quãng 2010 | Các ước tính nhân khẩu tôn giáo tổng hợp trên Wikipedia tiếng Anh |
| Việt Nam | Khoảng 7.000 người ở 45 tỉnh thành | tháng 12 năm 2021 | Ban Tôn giáo Chính phủ, tài liệu đăng ngày 25 tháng Tám năm 2023 |
Nói thẳng mấy chỗ vênh.
Thứ nhất, hai con số toàn cầu đi ra từ hai phép tính khác nhau. Con số hơn năm triệu là con số chính thức của cộng đồng, gần với danh sách ghi danh. Con số tám triệu của World Religion Database là một ước tính nhân khẩu, dựa vào tài liệu của các nước và phép ngoại suy. Thư viện nêu cả hai chứ không chọn một.
Thứ hai, điều tra dân số và sổ ghi danh đo hai thứ khác nhau. Ở Ấn Độ, phần lớn người nhận đạo từ thập niên 1960 trở đi sống ở nông thôn, và các nhà nghiên cứu cho rằng nhiều người trong số ấy vẫn khai ô tôn giáo theo cộng đồng làng hay theo giấy tờ cũ khi gặp điều tra viên. Ngược lại, sổ ghi danh có thể giữ tên những người đã thôi sinh hoạt từ lâu. Hai sai lệch ấy đi theo hai chiều ngược nhau.
Thứ ba, tự nhận và thực hành là hai chuyện, con số nào cũng đếm danh xưng chứ không đếm mức độ tham gia.
Thứ tư, đạo này trải rất mỏng trên rất nhiều nước. Theo chính cộng đồng, người Bahá'í có mặt ở gần như mọi nước và vùng lãnh thổ, thuộc khoảng hai nghìn một trăm dân tộc và nhóm bản địa, và chính văn được dịch ra hơn tám trăm thứ tiếng. Ở đa số các nước, điều tra dân số không tách riêng nhóm nhỏ như vậy.
XIIIĐạo Bahá'í Tại Việt Nam
Đạo Bahá'í là một trong mười sáu tôn giáo được Nhà nước Việt Nam công nhận. Mục này chỉ ghi bốn thứ: đạo vào nước ta khi nào, tổ chức nào được công nhận và vào năm nào, bao nhiêu tín đồ theo nguồn chính thức, và nơi sinh hoạt chính. Trong văn bản hành chính, tên đạo thường viết không dấu là Baha'i, và tổ chức được công nhận mang tên Cộng đồng tôn giáo Baha'i Việt Nam.
Về năm đạo vào Việt Nam, hai nguồn ghi khác nhau, nên thư viện ghi cả hai.
Mốc năm 1954. Tài liệu Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam của Ban Tôn giáo Chính phủ, đăng ngày 25 tháng Tám năm 2023, và bài trên báo Nhân Dân ngày 25 tháng Bảy năm 2008 đều ghi đạo được du nhập vào Việt Nam từ năm 1954. Các nguồn của chính cộng đồng Bahá'í gắn mốc này với chuyến tới Sài Gòn năm 1954 của bà Shirin Fozdar, một tín đồ Bahá'í khi ấy sống ở Singapore.
Mốc thập niên 1920. Bài nghiên cứu của tác giả Vũ Văn Chung trên Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, số 16 kỳ 2 năm 2021, ghi đạo Baha'i du nhập vào Việt Nam những năm 1920, nửa đầu thế kỷ hai mươi.
Có thể mốc 1920 nói về những tiếp xúc lẻ tẻ đầu tiên còn mốc 1954 nói về lúc cộng đồng bắt đầu hình thành, nhưng thư viện chưa kiểm được tư liệu gốc của mốc 1920 nên không kết luận.
Đăng ký hoạt động và công nhận tổ chức
Việc công nhận đi qua hai bước. Bước thứ nhất là cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo năm 2007, và ở đây ba nguồn ghi ba cách. Báo Nhân Dân năm 2008 ghi Ban Tôn giáo Chính phủ trao giấy chứng nhận vào tháng Hai năm 2007. Tài liệu năm 2023 của Ban Tôn giáo Chính phủ ghi ngày 28 tháng Ba năm 2007. Bài nghiên cứu năm 2021 của Vũ Văn Chung ghi tháng Ba năm 2007. Thư viện ghi cả ba và chưa kiểm được văn bản gốc.
Bước thứ hai là công nhận tổ chức tôn giáo năm 2008. Trước đó, ngày 21 tháng Ba năm 2008, đúng ngày Naw-Rúz, cộng đồng tổ chức đại hội toàn quốc lần thứ nhất và bầu Hội đồng Tinh thần cấp quốc gia chín người. Theo bài của Vũ Văn Chung, ngày 14 tháng Bảy năm 2008 Ban Tôn giáo Chính phủ ký quyết định công nhận tổ chức Cộng đồng tôn giáo Baha'i Việt Nam, và báo Nhân Dân đưa tin về việc công nhận này ngày 25 tháng Bảy năm 2008. Tài liệu của Ban Tôn giáo Chính phủ chỉ ghi năm 2008.
| Nguồn | Năm số liệu | Số tín đồ | Chi tiết |
|---|---|---|---|
| Báo Nhân Dân, 25 tháng Bảy năm 2008 | 2008 | Khoảng 7.000 | Sinh hoạt tại 93 cộng đồng thuộc 43 tỉnh thành |
| Vũ Văn Chung, Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 2021 | 2020 | Hơn 8.000 | Ở 45 tỉnh thành. Riêng Hà Nội gần 450 tín đồ với hai Hội đồng tinh thần là Lê Đại Hành và Hữu Bằng |
| Ban Tôn giáo Chính phủ, tài liệu đăng 25 tháng Tám năm 2023 | Tính tới tháng 12 năm 2021 | Khoảng 7.000 | Sinh sống ở 45 tỉnh thành |
| Báo VietNamNet, 20 tháng Bảy năm 2025 | 2025 | Khoảng 7.000 | Sinh hoạt tại 36 cộng đồng ở các tỉnh thành |
Còn một con số nữa phải nêu cho đủ. Các cơ sở dữ liệu quốc tế về tôn giáo ước tính số người Bahá'í ở Việt Nam cao hơn rất nhiều, có nguồn dẫn World Religion Database mốc 2015 ghi quãng 413.000 người. Thư viện chưa đối chiếu được phép tính của con số ấy, nên chỉ ghi nó như một ước tính và dùng con số của Ban Tôn giáo Chính phủ làm số chính.
Nơi sinh hoạt
Việt Nam chưa có đền thờ Mashriqu'l-Adhkár nào. Tài liệu năm 2023 của Ban Tôn giáo Chính phủ ghi rõ Cộng đồng tôn giáo Baha'i Việt Nam không có cơ sở thờ tự tập trung, chỉ sinh hoạt tôn giáo tại một số văn phòng làm việc ở các địa phương và tại nhà riêng. Điều này khớp với lối sinh hoạt của đạo ở phần lớn các nước. Vì thế thư viện hiện chưa có trang địa điểm nào của đạo Bahá'í trên đất Việt.
XIVTrong Con Mắt Phong Thủy
Xin thưa trước cho thật rõ. Mục này là cách đọc riêng của thư viện, nhìn đạo Bahá'í bằng con mắt phong thủy cổ truyền của người Việt, để bạn đọc quen lối ấy có chỗ đối chiếu. Đạo Bahá'í không dạy phong thủy, không có thuật chọn đất hay chọn hướng theo khí, và không có gì trong mục này là điều đạo ấy dạy.
Lập trường của chính đạo ấy
Kinh sách Bahá'í không đặt ra thủ tục xem ngày tốt xấu cho việc cưới, việc tang hay việc dựng nhà. Ngày cưới do hai gia đình tự chọn. Ngày lễ trong năm được định theo lịch Badí', và lịch ấy tính bằng thiên văn chứ không bằng thần sát. Tinh thần chung của đạo là đặt lý trí và khoa học ngang với niềm tin, nên việc gán cát hung cho phương hướng hay con số không có chỗ trong giáo nghĩa. Đứng trên lập trường của chính đạo ấy, phong thủy không phải là một phần của đạo.
Hướng duy nhất mà đạo quy định: Qiblih
Mỗi đạo có quy tắc riêng về hướng, và quy tắc ấy thường không liên quan gì tới khí trường. Nhà thờ Công Giáo theo truyền thống cổ quay về phía đông, mang ý nghĩa phụng vụ. Thánh đường Hồi Giáo hướng theo qibla về Mecca. Thần xã Nhật Bản có thuật chọn đất riêng. Đạo Bahá'í có đúng một hướng, gọi là Qiblih قبله, là lăng Bahá'u'lláh ở Bahjí, gần Akka. Người Bahá'í quay mặt về đó khi đọc lời nguyện bắt buộc, dù đang ở đâu. Hướng này không đổi theo tuổi người đọc, không đổi theo năm, không đổi theo sao.
Tính bằng đường tròn lớn trên mặt địa cầu, từ Hà Nội hướng ấy rơi vào quãng 297 độ, từ Thành phố Hồ Chí Minh quãng 301 độ, tức là hướng tây tây bắc. Phần tính độ là phép đo của thư viện. Nếu đặt lên la bàn hai mươi bốn sơn của phong thủy cổ truyền, cả hai con số rơi vào sơn Tuất. Đây chỉ là một cách đối chiếu cho người đọc quen la bàn, còn với người Bahá'í thì đó đơn giản là hướng về Bahjí.
Ngôi đền không có mặt trước
Toàn bộ phép chọn hướng của phong thủy dựa trên việc một công trình có mặt trước và mặt sau, tức có tọa và có hướng. Đền thờ Bahá'í chín mặt, chín lối vào bằng nhau, nên theo thước đo cổ truyền thì không có tọa hướng để tính. Trang đạo Sikh của thư viện gặp đúng chỗ này ở Harmandir Sahib bốn cửa, và đó là chỗ phép đọc cổ truyền hết chỗ dùng.
Con số chín và ngày xuân phân
Hai chỗ khác gợi người đọc thuật số liên tưởng, và thư viện ghi ra để phân minh. Con số chín: trong Lạc Thư của người Á Đông, chín là số dương lớn nhất, đứng ở cung Ly phương nam, và cửu cung là khung của nhiều môn thuật số. Trong đạo Bahá'í, chín đến từ giá trị abjad của chữ bahá. Hai con số trùng nhau nhưng đi ra từ hai nguồn không liên quan gì tới nhau. Ngày xuân phân: năm mới Bahá'í rơi vào đúng tiết Xuân phân trong hai mươi bốn tiết khí mà nông lịch Việt vẫn dùng, lúc ngày và đêm dài bằng nhau. Người Ba Tư mừng Naw-Rúz vào ngày ấy từ nhiều thế kỷ trước khi có đạo Bahá'í, và đạo đã giữ lại mốc ấy làm đầu năm.
Mọi điều trong mục này là cách thư viện đọc, không phải điều đạo dạy. Người Bahá'í dựng đền chín cạnh vì con số của chữ bahá chứ không vì cửu cung, quay mặt về Bahjí vì đó là nơi Bahá'u'lláh an nghỉ chứ không vì sơn Tuất, mừng năm mới ngày xuân phân vì lịch Badí' định như vậy chứ không vì tiết khí. Trang này không khuyên người Bahá'í xem phong thủy, và không gán phong thủy cho đạo ấy. Nói cho gọn: kiến trúc thì đọc được bằng nhiều thước đo, giáo lý thì chỉ có một.
XVNhững Chỗ Hay Hiểu Lầm
Phần cuối gom lại những câu mà người Việt hay hỏi về đạo Bahá'í. Ba chỗ trượt thường gặp nhất: lẫn một đạo riêng với một nhánh của đạo khác vì cùng ra đời trên một vùng đất, lẫn chủ trương các đạo cùng một nguồn với việc gom các đạo lại làm một, và lẫn một ngôi đền dựng theo dáng bản địa với đền thờ của đạo bản địa.
Không. Đạo ra đời trong môi trường Shia ở Ba Tư, nhưng có đấng sáng lập, kinh sách, luật, lịch và nơi thờ riêng. Người Bahá'í xem đạo mình là một tôn giáo độc lập, và giới học giả Hồi Giáo nói chung cũng không xem đạo này là một phần của Hồi Giáo.
Không hẳn. Đạo dạy các đạo lớn cùng một nguồn và cùng một phần tâm linh không đổi, nhưng phần luật lệ thì đổi theo thời. Đạo cũng không lấy mỗi đạo một ít rồi ghép lại, mà có luật và kinh riêng.
Không. Bahá'u'lláh là Hiện thân của Thượng Đế, như tấm gương phản chiếu mặt trời chứ không phải mặt trời. Đạo dạy Thượng Đế không nhập thể vào con người.
Không. Kitáb-i-Aqdas bỏ tầng lớp giáo sĩ. Việc chung do các hội đồng chín người được bầu kín lo, không ai được trả lương để làm lễ hay giảng đạo.
Không. Đó là đền thờ Bahá'í khánh thành năm 1986. Dáng hoa sen được chọn vì là hình ảnh thiêng chung của nhiều đạo trên tiểu lục địa. Bên trong không có tượng, chỉ có ghế ngồi và tiếng đọc kinh.
Không. Đó là biểu tượng quen dùng, lấy từ con số chín là giá trị abjad của chữ bahá. Hai biểu tượng mang tính nghi lễ hơn là thư pháp Danh Xưng Tối Đại và biểu tượng đá nhẫn.
Đạo khuyến khích chia sẻ niềm tin nhưng cấm ép buộc, cấm dùng lợi ích vật chất để lôi kéo. Trẻ con nhà Bahá'í cũng tới mười lăm tuổi mới tự quyết có nhận mình là Bahá'í hay không.
Chưa có. Theo Ban Tôn giáo Chính phủ, Cộng đồng tôn giáo Baha'i Việt Nam không có cơ sở thờ tự tập trung, sinh hoạt tại văn phòng ở các địa phương và nhà riêng. Đền gần nhất về địa lý là đền địa phương ở Battambang, Campuchia.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đạo Bahá'í là gì
Đạo Bahá'í là một tôn giáo độc thần ra đời ở Ba Tư giữa thế kỷ mười chín, do Báb mở đường năm 1844 và Bahá'u'lláh khai lập năm 1863. Đạo dạy ba chữ một: Thượng Đế là một, các tôn giáo lớn cùng một nguồn, loài người là một gia đình. Đạo không có tu sĩ, việc chung do các hội đồng chín người được bầu kín lo, đứng đầu là Viện Công lý Toàn cầu đặt tại Haifa. Theo Bahá'í World News Service, đạo có hơn năm triệu tín đồ, còn World Religion Database ước khoảng tám triệu.
Đạo Bahá'í có phải là một nhánh của Hồi Giáo không
Không. Đạo Bahá'í ra đời trong môi trường Hồi Giáo dòng Shia ở Ba Tư, nhưng có đấng sáng lập, kinh sách, luật lệ, lịch và nơi thờ riêng. Người Bahá'í xem đạo mình là một tôn giáo độc lập, cũng như Kitô Giáo ra đời trong môi trường Do Thái mà không phải là một nhánh Do Thái Giáo. Giới học giả Hồi Giáo nói chung cũng không xem đạo Bahá'í là một phần của Hồi Giáo, vì Hồi Giáo tin Muhammad là vị sứ giả cuối cùng.
Bahá'u'lláh là ai
Bahá'u'lláh, nghĩa là Vinh Quang Của Thượng Đế, tên thật là Mírzá Husayn-'Alí Núrí, sinh năm 1817 tại Tehran và mất năm 1892 tại Bahjí gần Akka. Ông là đấng sáng lập đạo Bahá'í, tuyên bố sứ mệnh tại vườn Ridván ở Baghdad năm 1863, và sống gần bốn mươi năm trong cảnh lưu đày. Người Bahá'í xem ông là Hiện thân của Thượng Đế cho thời đại này, không phải chính Thượng Đế. Tác phẩm chính của ông là Kitáb-i-Aqdas và Kitáb-i-Íqán.
Lịch Bahá'í có bao nhiêu tháng
Lịch Bahá'í, gọi là lịch Badí', có mười chín tháng, mỗi tháng mười chín ngày, cộng thêm bốn hoặc năm ngày chèn gọi là Ayyám-i-Há để khớp với năm mặt trời. Mỗi tháng mang tên một thuộc tính của Thượng Đế như Vinh quang, Ánh sáng, Tri thức. Năm mới Naw-Rúz rơi vào ngày xuân phân, quãng 20 hoặc 21 tháng Ba. Tháng cuối năm là tháng chay. Năm thứ nhất của lịch là năm 1844, năm Báb tuyên bố tại Shiraz.
Vì sao đền thờ Bahá'í có chín cạnh
Chín cạnh là quy ước chung của mọi đền thờ Bahá'í, gắn với con số chín là giá trị tính theo phép abjad của chữ bahá, nghĩa là vinh quang, và là số lẻ lớn nhất có một chữ số, tượng trưng sự trọn vẹn. Chín mặt thường có chín lối vào bằng nhau, cho người từ mọi phía và mọi đạo đều vào được. Ngoài quy ước chín cạnh và mái vòm, kiến trúc mỗi ngôi đền tự do theo văn hóa nơi ấy, như Đền Hoa Sen ở New Delhi hay đền ở Battambang có mái gợi dáng mái chùa Khmer.
Đạo Bahá'í ở Việt Nam có được công nhận không
Có. Cộng đồng tôn giáo Baha'i Việt Nam được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo năm 2007, ngày 28 tháng Ba theo Ban Tôn giáo Chính phủ, tháng Hai theo báo Nhân Dân, và được công nhận tổ chức tôn giáo năm 2008, ngày 14 tháng Bảy theo một nghiên cứu năm 2021. Theo Ban Tôn giáo Chính phủ, tính tới tháng 12 năm 2021 đạo có khoảng bảy nghìn tín đồ ở 45 tỉnh thành, không có cơ sở thờ tự tập trung mà sinh hoạt tại văn phòng và nhà riêng.
Đạo Bahá'í có linh mục hay người giảng đạo không
Không. Kitáb-i-Aqdas bỏ tầng lớp giáo sĩ, nên đạo không có linh mục, imam hay thầy giảng chuyên nghiệp. Mỗi tín đồ tự đọc kinh và tự hiểu. Việc chung do Hội đồng Tinh thần Địa phương, Hội đồng Tinh thần Quốc gia và Viện Công lý Toàn cầu lo, mỗi hội đồng chín người, được bầu bằng phiếu kín mà không ai được ứng cử, đề cử hay vận động. Quyền quyết định thuộc về hội đồng như một tập thể, không thuộc về cá nhân nào.