VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đạo Bön Tây Tạng: Tonpa Shenrab, Chín Thừa, Chữ Vạn Yungdrung Và Núi Kailash

བོན་ Bön, chữ Tạng · Bön, Bon, Bön giáo, Yungdrung Bön, Bön vĩnh cửu, Bổn giáo

Một đạo trên cao nguyên Tây Tạng có vị Phật riêng mà truyền thống đặt ở mười tám nghìn năm trước, đi nhiễu núi thiêng ngược chiều người Phật Giáo, và lấy chữ vạn xoay ngược làm tên gọi của chính mình.

Khởi lập
Không có mốc lập đạo xác định được
Truyền thống Bön đặt Tonpa Shenrab vào năm 16017 trước Công nguyên, còn sử liệu thấy Yungdrung Bön định hình thành một truyền thống có kinh điển và tu viện từ thế kỷ 10 tới thế kỷ 11
Vùng phát tích
Cao nguyên Tây Tạng, vùng Zhangzhung quanh núi Kailash
Truyền thống Bön đặt cội nguồn xa hơn nữa ở vùng đất Olmo Lungring phía tây, nơi tới nay chưa ai định vị được trên bản đồ
Số tín đồ
Không có phép đếm đáng tin. Ước tính được dẫn nhiều nhất là tới khoảng 400.000 người trên toàn cao nguyên Tây Tạng
Nguồn Ước tính của một số học giả, được nhiều báo cáo về tôn giáo trên thế giới dẫn lại. Pew Research Center không tách Bön thành mục riêng, ước tính dẫn từ bản năm 2012 và lặp lại ở các bản sau, bảng Pew số liệu mốc 2020 công bố tháng 6 năm 2025

IĐọc Nhanh Trong Năm Câu

Đạo Bön བོན་ là truyền thống tôn giáo lâu đời của cao nguyên Tây Tạng, đứng song song với Phật Giáo Tây Tạng suốt hơn một nghìn năm mà vẫn giữ bản sắc riêng. Người theo đạo gọi mình là Bönpo བོན་པོ་, và gọi đạo của mình là Yungdrung Bön གཡུང་དྲུང་བོན་, nghĩa là Bön vĩnh cửu. Theo giáo nghĩa, đạo này do Tonpa Shenrab Miwoche truyền dạy, một vị Phật mà truyền thống đặt ở một thời xa hơn Đức Phật Thích Ca rất nhiều, sinh ra ở vùng đất Olmo Lungring phía tây. Bön có kinh điển riêng chừng ba trăm tập, có tu viện, có tăng sĩ thọ giới, có học vị geshe, có một hệ giáo pháp chia làm chín thừa mà đỉnh cao là Dzogchen. Người ngoài nhận ra người Bön nhanh nhất qua hai chỗ: họ đi nhiễu tháp và núi thiêng ngược chiều kim đồng hồ, và biểu tượng thiêng của họ là chữ vạn xoay ngược chiều, tiếng Tạng gọi là yungdrung. Giới học giả tới nay vẫn còn bàn Bön giữ lại bao nhiêu phần của tôn giáo cổ trước khi Phật Giáo vào Tây Tạng, và hai đạo đã vay mượn của nhau tới đâu.

Một. Chữ Bön có ít nhất ba nghĩa khác nhau tùy người dùng: tôn giáo cổ của cao nguyên trước Phật Giáo, truyền thống Yungdrung Bön có kinh điển và tu viện từ thế kỷ 10 và 11 trở đi, và lớp tín ngưỡng dân gian về thần núi, thần đất, thần nước. Đọc sai nghĩa là hiểu sai cả bài.

Hai. Người Bön tin đạo của mình có trước Phật Giáo Tây Tạng và do một vị Phật riêng là Tonpa Shenrab truyền dạy. Sử học thì chưa có tài liệu độc lập nào xác nhận niên đại ấy, và bài này đặt hai cách nhìn cạnh nhau.

Ba. Giáo pháp Bön chia làm chín thừa, bốn thừa đầu lo việc đời này như bói toán, chữa bệnh, cầu an, tang lễ, năm thừa sau hướng tới giải thoát, và thừa cao nhất là Dzogchen, đại toàn thiện.

Bốn. Yungdrung གཡུང་དྲུང་ vừa là một chữ nghĩa là vĩnh cửu, bất hoại, vừa là tên hình chữ vạn xoay ngược chiều kim đồng hồ. Nó có mặt trong chính tên đạo, và không có liên hệ gì với dấu hiệu của Đức Quốc Xã.

Năm. Núi Kailash ở miền tây cao nguyên là tâm điểm địa lý của Bön, và tu viện Menri, lập năm 1405, là trung tâm học thuật lớn nhất của đạo này. Bön không có mặt tổ chức tại Việt Nam.

Bài đi theo mười lăm mục. Chỗ nào giáo nghĩa và sử liệu vênh nhau thì đặt hai hộp theo giáo nghĩatheo sử liệu cạnh nhau, chỗ nào hai nguồn ghi khác nhau thì ghi cả hai. Phần cận đại chỉ ghi các mốc của tu viện, kinh điển và việc nghiên cứu, không bàn chuyện thời sự.

IICao Nguyên, Cái Tên Và Ba Nghĩa Của Chữ Bön

Cao nguyên Tây Tạng là miền thung lũng cao, bao quanh là núi tuyết, hồ nước mặn, đồng cỏ gió lộng. Người sống ở đó từ rất sớm đã hình dung thế giới đầy những thế lực có chủ: núi có thần núi, hồ có thần hồ, đất có chủ đất. Một người ốm, một trận mưa đá phá mùa, đều có thể được hiểu là mối quan hệ với một thế lực nào đó đã bị làm lệch. Đó là mặt bằng mà Bön lớn lên trên đó, và Phật Giáo gặp phải khi vào Tây Tạng.

Chữ Bön nghĩa là gì

Trong cách dùng của chính người theo đạo, chữ Bön བོན་ đứng đúng ở chỗ mà chữ chos ཆོས་, tức pháp, đứng trong Phật Giáo Tây Tạng: nó chỉ giáo pháp, chân lý, con đường. Người Bön nói nghe Bön, giảng Bön, hành Bön theo cùng lối người Phật tử nói nghe pháp, giảng pháp. Người thực hành gọi là Bönpo. Tên đầy đủ mà đạo tự gọi là Yungdrung Bön, Bön vĩnh cửu, để phân biệt với những nghĩa khác của chữ Bön. Tiếng Hán viết là 苯教, âm Hán Việt là Bổn giáo, còn tên Yungdrung Bön thì viết là 雍仲苯教. Thư viện dùng tên Đạo Bön cho gần với cách đọc gốc.

Theo sử liệu

Nhà Tạng học người Na Uy Per Kværne, trong bài khảo sát về lịch sử nghiên cứu Bön, tách chữ Bön ra làm ba nghĩa, và cách tách ấy nay được dùng rộng rãi. Nghĩa thứ nhất là tôn giáo của cao nguyên trước khi Phật Giáo vào, mà sử học chỉ biết qua ít văn thư cổ, trong đó có các bản tìm được ở hang Đôn Hoàng. Các bản ấy nhắc tới những người hành lễ gọi là bon pogshen, lo việc tang lễ và cúng tế của triều đình. Nghĩa thứ hai là truyền thống Yungdrung Bön, có kinh điển, có tu viện, có hệ giáo lý, hiện rõ trong sử liệu từ thế kỷ 10 và 11. Nghĩa thứ ba là lớp tín ngưỡng dân gian về thần núi, thần đất, thần nước, bói toán và cầu an, mà nhà Tạng học Rolf Stein gọi là tôn giáo không tên, vì người Tây Tạng theo Phật Giáo hay theo Bön đều cùng sống trong lớp ấy. Người theo Yungdrung Bön thì đọc ba lớp ấy thành một mạch liền: đạo của họ là đạo cổ, bị suy vi rồi được khôi phục, chứ không phải một truyền thống mới.

Zhangzhung, vương quốc phía tây

Tên đất gắn chặt với Bön nhất là Zhangzhung ཞང་ཞུང་, một vùng ở miền tây cao nguyên, quây quanh núi Kailash. Theo truyền thống Bön, trước khi truyền vào miền trung Tây Tạng, giáo pháp đã được giữ ở Zhangzhung, nhiều bản kinh được dịch từ tiếng Zhangzhung sang tiếng Tạng, và nhiều bản kinh Bön ngày nay vẫn mở đầu bằng tên đề bằng tiếng Zhangzhung rồi mới tới tên đề tiếng Tạng. Truyền thống cũng ghi một kinh thành gọi là Khyunglung Ngulkhar, cung điện bạc của thung lũng Khyung, ở không xa núi Kailash.

Về phía sử học, Zhangzhung được nhắc tới trong sử liệu Tây Tạng cổ như một vùng có tổ chức riêng, về sau nhập vào vùng văn hóa Tây Tạng. Tiếng Zhangzhung chỉ còn biết qua một số ít văn bản song ngữ và danh sách từ, và giới ngôn ngữ học còn đang tranh luận nó thuộc nhánh nào. Vì thế chỗ nào bài này nói Zhangzhung theo lời kể của Bön, bài ghi rõ là theo truyền thống.

Ba dòng Bön ngày nay

Yungdrung Bön

Dòng chính, cũng là dòng mà bài này mô tả phần lớn. Lấy Tonpa Shenrab làm tổ sư, có kinh điển Kangyur và Tengyur riêng, có tu viện và tăng sĩ, trung tâm học thuật là tu viện Menri.

Bön mới

Tiếng Tạng là Bön sarma. Một dòng hình thành từ khoảng thế kỷ 14, chủ yếu ở miền đông cao nguyên, kết hợp văn bản Bön với các nhân vật và thực hành vốn gắn với phái Nyingma của Phật Giáo Tây Tạng. Dòng Yungdrung Bön không phải lúc nào cũng nhận dòng này là của mình.

Lớp tín ngưỡng dân gian

Thờ thần núi, cúng khói thơm, treo cờ gió, bói toán, chữa bệnh bằng nghi lễ. Lớp này chung cho cả người Bön và người Phật Giáo trên cao nguyên, và nhiều sách phổ thông gọi nhầm cả lớp ấy là Bön.

Chỗ hay hiểu lầm

Sách phổ thông, kể cả một số bộ bách khoa viết từ giữa thế kỷ 20, hay mô tả Bön là tôn giáo shaman trước Phật Giáo, chuyên phép thuật và cúng tế. Mô tả ấy trộn nghĩa thứ nhất với nghĩa thứ hai. Yungdrung Bön mà người ta gặp ở tu viện Menri là một truyền thống có triết học, có giới luật tu viện, có chương trình học nhiều năm và có hệ thiền Dzogchen. Những nghi lễ cầu an, chữa bệnh vẫn có mặt trong Bön, nhưng chúng được xếp vào một khung giáo pháp chứ không đứng một mình.

IIITổ Sư Tonpa Shenrab Miwoche

Người Bön gọi bậc khai sáng đạo mình là Tonpa Shenrab Miwoche སྟོན་པ་གཤེན་རབ་མི་བོ་ཆེ་. Tonpa nghĩa là bậc thầy, người chỉ đường. Shenrab nghĩa là bậc tối thượng trong hàng shen, tức hàng người hành lễ. Miwoche nghĩa là đại nhân. Tiếng Hán viết tên ngài là 辛饒, âm Hán Việt là Tân Nhiêu. Trong Bön, ngài giữ đúng vị trí mà Đức Phật Thích Ca giữ trong Phật Giáo: một bậc đã giác ngộ trọn vẹn, là Phật của thời đại này. Theo luật của thư viện, bài không mô tả hình tượng ngài theo lối gợi người đọc hình dung chân dung, chỉ ghi vai trò và lời kể.

Theo giáo nghĩa

Theo các bộ tiểu sử của Bön, Tonpa Shenrab sinh ra ở vùng đất Olmo Lungring འོལ་མོ་ལུང་རིང་, một phần của xứ Tagzig, trong một cung điện ở phía nam núi Yungdrung Gutseg, ngọn núi chín tầng. Ngày sinh được ghi là mồng tám tháng giêng năm Giáp Tý theo lịch Tạng, tức năm Mộc Dương Thử. Ngài sống đời một vương tử, lấy vợ, có con, và mãi tới năm ba mươi mốt tuổi mới từ bỏ đời sống thế tục để tu khổ hạnh và giảng dạy. Truyền thống kể ngài chỉ tới Tây Tạng một lần, khi đuổi theo đàn ngựa bị một ma vương tên Khyabpa Lagring đánh cắp, và vào đất Tây Tạng qua núi Kongpo. Thấy người nơi ấy chưa đủ duyên nhận giáo pháp cao, ngài dạy các nghi lễ cầu an, trừ tà và thay vật hiến sống bằng những hình nặn từ bột. Ngài mất năm tám mươi hai tuổi, và theo lời kể, việc ra đi ấy là để nhắc người theo mình về lẽ vô thường.

Cuộc đời ấy được chép trong ba bộ tiểu sử, mỗi bộ một dạng. Dodü མདོ་འདུས་ là bản ngắn nhất. Zermig གཟེར་མིག་ là bản trung bình, gồm hai tập. Cả hai được coi là văn bản khai quật, tức terma, xuất hiện khoảng thế kỷ 10 tới thế kỷ 11. Zijid གཟི་བརྗིད་ là bản đồ sộ nhất, thường được đếm là mười hai tập, được truyền qua lối khẩu truyền và chép lại vào thế kỷ 14 bởi Loden Nyingpo. Chính bộ Zijid chứa phần trình bày chín thừa mà nhà Tạng học David Snellgrove dịch trích ra tiếng Anh năm 1967 dưới tên The Nine Ways of Bon.

Theo sử liệu

Niên đại theo lối tính chuẩn của Bön là ngài sinh năm 16017 trước Công nguyên, tức khoảng mười tám nghìn năm trước. Không phải mọi nguồn trong chính Bön đều ghi như vậy: một phép tính của học giả Bön Tsultrim Gyaltsen năm 1804 đặt năm sinh vào 20995 trước Công nguyên. Ngoài ra, các tài liệu khác nhau còn đưa ra những niên đại gần hơn rất nhiều, có nơi ghi đầu thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên, có nơi ghi thế kỷ 6 hoặc thế kỷ 4 trước Công nguyên, có nơi ghi năm 1917 trước Công nguyên. Thư viện ghi đủ các con số ấy chứ không chọn một.

Về phía sử học, chưa có tài liệu độc lập nào ngoài văn bản Bön xác nhận Tonpa Shenrab là một nhân vật lịch sử ở bất kỳ niên đại nào trong số trên. Giới nghiên cứu còn ghi nhận rằng cấu trúc tiểu sử của ngài rất gần với tiểu sử Đức Phật Thích Ca: sinh làm vương tử, rời bỏ đời thế tục, tu hành, giảng pháp, nhập diệt. Người đọc theo sử học coi đó là dấu của vay mượn trong thời Yungdrung Bön định hình. Người Bön thì đọc ngược lại, rằng khuôn tiểu sử ấy vốn là của Tonpa Shenrab từ trước. Hai cách đọc cùng tồn tại, và thư viện không phân xử.

Chỗ hay hiểu lầm

Người mới nghe hay đoán Tonpa Shenrab là Đức Phật Thích Ca được người Tây Tạng gọi theo tên riêng. Không phải. Trong Bön, Tonpa Shenrab là một vị Phật khác, sinh ở một nơi khác, vào một thời khác, có gia đình, có dòng truyền và có kinh điển riêng. Bön cũng không phủ nhận Đức Thích Ca, có văn bản Bön còn coi Đức Thích Ca là một hóa thân tiếp nối giáo pháp. Chỗ khác nằm ở vị trí trung tâm: người Phật Giáo quy y Đức Thích Ca, người Bön quy y Tonpa Shenrab.

IVDòng Thời Gian

Dòng thời gian của Bön có hai lớp chồng lên nhau. Lớp thứ nhất là niên đại theo truyền thống, bắt đầu từ mười tám nghìn năm trước. Lớp thứ hai là niên đại mà sử học kiểm được, bắt đầu từ các văn thư cổ và thật sự rõ nét từ thế kỷ 11. Dòng dưới đây ghi cả hai, và ghi rõ mốc nào thuộc lớp nào. Phần cận đại chỉ ghi các mốc của tu viện, kinh điển và việc nghiên cứu.

  • 16017 trước Công nguyênTonpa Shenrab ra đời, theo truyền thống
    Niên đại theo lối tính chuẩn của Bön. Một phép tính khác năm 1804 đặt mốc này vào 20995 trước Công nguyên. Sử học chưa có tài liệu độc lập để kiểm.
  • Trước thế kỷ 7Zhangzhung và các shen
    Theo truyền thống, giáo pháp được giữ ở vùng Zhangzhung quanh núi Kailash. Văn thư cổ nhắc tới những người hành lễ gọi là bon po và gshen lo việc tang lễ và cúng tế.
  • Thế kỷ 7 tới thế kỷ 9Phật Giáo vào Tây Tạng
    Phật Giáo được truyền vào và dần được triều đình bảo trợ. Truyền thống Bön kể đây là thời đạo mình suy vi, nhiều văn bản được chôn giấu để giữ cho đời sau.
  • 996 tới 1035Shenchen Luga
    Nhân vật lớn nhất của thời Bön phục hưng. Khoảng năm 1017, ông khai quật một khối văn bản lớn, và từ ông các dòng tộc giữ đạo Bön về sau truyền nối.
  • 1072Lập tu viện Yeru Wensakha
    Tu viện lớn ở vùng Tsang, tiền thân của Menri, giữ vai trung tâm học thuật Bön hơn ba thế kỷ.
  • Thế kỷ 14Bộ Zijid được chép lại, Bön mới hình thành
    Loden Nyingpo chép bộ tiểu sử đồ sộ Zijid theo lối khẩu truyền. Cùng thế kỷ, dòng Bön mới hình thành ở miền đông cao nguyên.
  • 1386Yeru Wensakha bị lũ cuốn
    Một trận lũ phá hủy tu viện, chấm dứt vai trò trung tâm của nó.
  • 1405Lập tu viện Menri
    Nyame Sherab Gyaltsen lập Menri ở vùng Tsang để nối truyền thống học thuật của Yeru Wensakha. Menri trở thành trung tâm lớn nhất của Yungdrung Bön.
  • Giữa thế kỷ 19Khắc ván kinh điển
    Bộ kinh điển Bön, gồm chừng ba trăm tập, được khắc lên ván gỗ để in, theo khảo cứu của Per Kværne.
  • 1967Menri được lập lại ở Dolanji
    Tu viện Menri được lập lại ở Dolanji, bang Himachal Pradesh, Ấn Độ, do Lungtok Tenpai Nyima và Lopön Tenzin Namdak. Cùng năm, David Snellgrove công bố bản dịch trích The Nine Ways of Bon.
  • 1972The Treasury of Good Sayings
    Samten Karmay công bố bản dịch và nghiên cứu một bộ sử Bön, mở đầu lối nghiên cứu coi trọng cách Bön tự kể về mình.
  • 1987Lập tu viện Triten Norbutse
    Tu viện Bön ở rìa phía tây thung lũng Kathmandu, Nepal, do Lopön Tenzin Namdak lập, nay là một trong hai nơi đào tạo học vị geshe của Bön.

VGiáo Nghĩa Cốt Lõi

Người Việt đọc giáo nghĩa Bön lần đầu sẽ thấy rất nhiều chỗ quen, vì khung lớn của nó gần với khung của Phật Giáo Tây Tạng: có luân hồi, có nghiệp, có giác ngộ, có lòng từ bi, có tánh không, có tăng đoàn, có Phật. Nhưng Bön dùng một bộ từ ngữ riêng, một dòng truyền riêng, một vị tổ riêng, và sắp xếp giáo pháp theo một khung riêng. Mục này đi qua từng khái niệm, mỗi khái niệm một tiểu mục, rồi mục sau nói riêng về chín thừa và mục sau nữa nói riêng về chữ vạn.

Luân hồi, nghiệp và giác ngộ

Như Phật Giáo, Bön dạy rằng chúng sinh trôi lăn trong vòng sinh tử, tái sinh vào sáu cõi theo nghiệp đã tạo, và cái khổ của vòng ấy bắt nguồn từ vô minh, tức không thấy đúng bản chất của tâm và của vạn vật. Mục tiêu sau cùng là giác ngộ, ra khỏi vòng sinh tử. Chữ tiếng Tạng cho bậc giác ngộ, sangs rgyas, được dùng chung ở cả hai đạo. Người hành giả phát tâm vì lợi ích của mọi chúng sinh thì Phật Giáo Tây Tạng gọi là byang chub sems dpa', còn Bön gọi là yungdrung sempa, nghĩa là người có tâm bất hoại. Chính chữ yungdrung, vĩnh cửu, bất hoại, lại hiện ra ở đây, như một sợi chỉ xuyên suốt cả hệ thuật ngữ của đạo này.

Nghiệp trong Bön cũng là hành vi có chủ ý của thân, miệng và ý, và quả của nó chín theo điều kiện. Mười điều thiện và mười điều bất thiện được giảng gần giống bên Phật Giáo. Chỗ khác chủ yếu nằm ở cách sắp xếp: Bön đặt nhiều thực hành mà Phật Giáo coi là tập tục dân gian, như bói toán, cầu an, chữa bệnh, vào ngay trong khung giáo pháp, ở những thừa thấp, như những bậc thang đầu tiên của cùng một con đường.

Kunzhi, cái nền của tất cả

Theo giáo nghĩa

Trong giáo pháp cao của Bön, nhất là ở tầng Dzogchen, khái niệm nền là kunzhi, tiếng Tạng kun gzhi ཀུན་གཞི་, nghĩa đen là cái nền của tất cả. Kunzhi được giảng là vốn trong sạch từ đầu, không bị cái gì làm ô nhiễm, là sự không và sự sáng không tách rời nhau. Mọi hiện tượng của luân hồi lẫn niết bàn đều hiện ra từ cái nền ấy. Cái biết thấy được chính mình trong cái nền ấy gọi là rigpa རིག་པ་, tức tánh giác. Không nhận ra nó gọi là marigpa, vô minh. Vì thế, theo lời giảng của Bön, giải thoát không phải là đi tới một nơi khác, mà là nhận ra cái vốn đã có.

Chữ kun gzhi cũng có trong văn bản Phật Giáo, nhưng ở nhiều hệ Phật Giáo nó chỉ tầng thức chứa, gần với A lại da thức, tức một thứ vẫn nằm trong vòng luân hồi. Bön dùng chữ ấy ở nghĩa cao hơn, chỉ cái nền tuyệt đối. Cùng một chữ mà hai tầng nghĩa, nên người so sánh hai truyền thống hay dừng lại ở đây.

Bốn Đấng Siêu Việt và Kuntu Zangpo

Ở tầng tuyệt đối, Bön đặt Kuntu Zangpo ཀུན་ཏུ་བཟང་པོ་, nghĩa là bậc toàn thiện, làm biểu tượng của pháp thân, tức chính cái nền giác ngộ không hình tướng. Phái Nyingma của Phật Giáo Tây Tạng cũng dùng tên này với vai trò tương tự, và đây là một trong những chỗ trùng hợp mà giới nghiên cứu hay dẫn.

Bên dưới, Bön tôn thờ một nhóm gọi là Bốn Đấng Siêu Việt, tiếng Tạng là de gshegs gtso bo rnam bzhi. Mỗi vị giữ một vai trong sự hình thành và truyền trao giáo pháp. Satrig Ersang là mẹ của trí tuệ, gắn với lòng từ và sự sinh thành. Shenlha Okar là vị thần của hàng shen mang ánh sáng trắng, gắn với lòng bi. Sangpo Bumtri là cha của thế gian, gắn với sự sáng tạo. Tonpa Shenrab là bậc thầy đưa giáo pháp tới chúng sinh. Theo luật của thư viện, bài chỉ ghi vai trò của các vị, không mô tả hình tướng.

Chỗ hay hiểu lầm

Tên Sangpo Bumtri, cha của thế gian, dễ khiến người đọc nghĩ tới một đấng sáng thế đứng ngoài và trên thế giới. Trong khung giáo pháp của Bön, các vị này là biểu hiện của giác ngộ, không phải chủ tể phán xét chúng sinh. Việc ra khỏi luân hồi vẫn do chính người tu nhận ra kunzhi, không do một đấng nào ban cho.

Thế giới ba tầng và các thần nơi chốn

Song song với tầng giáo pháp cao là một thế giới quan rất cụ thể, chia làm ba tầng. Tầng trên là cõi của các lha ལྷ་, các vị trên trời. Tầng giữa là cõi của các gnyan གཉན་, những thế lực ngự ở núi đá, cây lớn, khoảng không. Tầng dưới là cõi của các klu ཀླུ་, những thế lực dưới nước và dưới đất, người ta hay dịch là long thần hoặc nāga. Ngoài ra còn có sadag ས་བདག་, chủ đất của từng mảnh đất, và vô số thần núi, thần đèo, thần hồ.

Người Bön không coi các thế lực này là Phật hay là nơi quy y. Chúng là những kẻ cùng chia nhau thế giới với con người, có chỗ của mình, có tính khí của mình. Đào đất không xin phép, làm bẩn nguồn nước, chặt cây ở chỗ thiêng, đều có thể làm các thế lực ấy phật ý, và bệnh tật hay tai họa sau đó được hiểu là hệ quả. Vì thế mới có những nghi lễ xin đất, tạ đất, cầu an, chuộc mạng mà mục nghi lễ bên dưới mô tả. Người Việt quen tục cúng Thổ công, lễ động thổ và kiêng phạm vào chỗ có thần sẽ thấy lối nghĩ này không xa lạ.

Bốn Cửa Và Kho Thứ Năm

Ngoài cách chia chín thừa, Bön còn một cách sắp xếp giáo pháp khác gọi là Bốn Cửa và Kho Thứ Năm, tiếng Tạng sgo bzhi mdzod lnga སྒོ་བཞི་མཛོད་ལྔ་. Các nguồn giải nghĩa từng cửa có khác nhau đôi chút, dưới đây là cách hiểu phổ biến.

Cửa Nước Trắng

Chab dkar. Các pháp mật tông cao, gồm những thực hành gắn với các vị hộ pháp mang tướng phẫn nộ.

Cửa Nước Đen

Chab nag. Các nghi lễ cho đời sống thường ngày: trừ tà, chuộc mạng, tang lễ, bói toán, cầu an.

Cửa Xứ Phan

'Phan yul. Giới luật tu viện, giới của người tại gia và các bài giảng về tánh không, tức phần tương ứng với kinh và luật.

Cửa Bậc Thầy Dẫn Dắt

dPon gsas. Giáo pháp Dzogchen, truyền từ thầy sang trò.

Kho Thứ Năm

mTho thog. Kho tổng hợp, được coi là bao trùm và hoàn tất cả bốn cửa trước.

Dzogchen trong Bön

Dzogchen རྫོགས་ཆེན་, nghĩa là đại toàn thiện, là đỉnh của giáo pháp Bön, đứng ở thừa thứ chín. Người Bön giữ ba dòng Dzogchen chính. Dòng thứ nhất là A-tri, một hệ thực hành theo từng bước, gắn với một bậc thầy thế kỷ 11 tên là Meuton Gongdzad Ritrod Chenpo. Dòng thứ hai là Dzogchen Yangtse Longchen, do Zhodton Ngodrub Dragpa khai quật năm 1080. Dòng thứ ba, được coi là quý nhất, là Zhangzhung Nyengyud ཞང་ཞུང་སྙན་རྒྱུད་, tức dòng khẩu truyền của Zhangzhung.

Điểm đặc biệt mà người Bön nhấn mạnh ở dòng Zhangzhung Nyengyud là nó không phải văn bản khai quật mà là dòng truyền miệng liên tục từ thầy sang trò. Theo lời kể của dòng này, giáo pháp đi từ Kuntu Zangpo qua chín bậc tâm truyền, rồi qua hai mươi bốn bậc thầy, tới bậc thành tựu Tapihritsa, người trao nó cho Gyerpung Nangzher Lödpo, và từ đó được chép lại.

Theo giáo nghĩa

Lời dạy của Dzogchen Bön được tóm lại thường là thế này: tánh giác của tâm vốn trong sạch, vốn tự hiện, không cần tạo ra, chỉ cần nhận ra. Mọi phương tiện của tám thừa dưới đều là để chuẩn bị cho người tu tới được chỗ nhận ra ấy. Khi đã nhận ra, người tu không cần sửa đổi cái gì, chỉ cần để tâm ở trong trạng thái tự nhiên của nó, và nhờ đó các vọng niệm tự tan như chữ viết trên mặt nước.

Giới luật, người xuất gia và người tại gia

Bön có hệ giới luật riêng. Người tại gia giữ giới gọi là genyen དགེ་བསྙེན་, tương ứng với cư sĩ. Người xuất gia thọ giới đầy đủ gọi là drangsong དྲང་སྲོང་, chữ nghĩa đen là bậc hiền giả chính trực, tương ứng với tỳ kheo. Thừa thứ năm và thứ sáu trong chín thừa lần lượt dành cho hai hạng người này.

Bên cạnh tăng sĩ ở tu viện, Bön cũng giữ truyền thống những hành giả mật tông tại gia, sống với gia đình, giữ nghi lễ cho làng, và truyền nghề trong dòng họ. Lịch sử của Bön sau thế kỷ 11 thực ra được nối chủ yếu qua một số dòng tộc như Dru, Zhu, Pa và Meu, truyền giáo pháp từ đời này sang đời khác, trước khi hệ tu viện lớn hình thành.

VIChín Thừa Của Bön

Chín thừa, tiếng Tạng theg pa rim dgu ཐེག་པ་རིམ་དགུ་, là cách Bön sắp toàn bộ giáo pháp của mình thành chín bậc, từ những việc cụ thể nhất của đời thường lên tới giác ngộ. Cần biết rằng Bön có ba cách trình bày chín thừa khác nhau, theo ba khối văn bản gọi là kho phương Nam, kho phương Bắc và kho trung tâm. Cách được dẫn nhiều nhất, và được Snellgrove dịch trích năm 1967, là cách theo kho phương Nam, chép trong bộ Zijid. Bảng dưới theo cách ấy. Tên các thừa ghi theo phiên âm Latinh, vì thư viện chưa kiểm được nguyên tự Tạng của từng tên cho đủ chắc.

Chín thừa theo kho phương Nam của Bön. Bốn thừa đầu gọi là thừa nhân, năm thừa sau gọi là thừa quả. Cách dịch tên thừa sang tiếng Việt là của thư viện. Nguồn: Snellgrove, The Nine Ways of Bon, 1967, cùng các bài giới thiệu của trung tâm Bön.
ThứTên và phiên âmNghĩa tênNội dung chínhNhóm
1Phywa gshen, ChashenThừa của shen bói toánBói, xem lịch, tính số, chẩn bệnh, tìm nguyên nhân của tai họaThừa nhân
2sNang gshen, NangshenThừa của shen thế giới hiện tượngNghi lễ với các thần và thế lực của thế giới: cầu an, cúng dường, mời thần hộThừa nhân
3'Phrul gshen, TrulshenThừa của shen huyễn hóaNghi lễ hóa giải, trừ các thế lực gây hạiThừa nhân
4Srid gshen, SishenThừa của shen hiện hữuTang lễ, nghi lễ cho người chết và cho giai đoạn giữa hai đờiThừa nhân
5dGe bsnyen, GenyenThừa của cư sĩGiới của người tại gia, mười điều thiện, bố thí, dựng thápThừa quả
6Drang srong, DrangsongThừa của bậc hiền giảGiới luật đầy đủ của người xuất gia, đời sống tu việnThừa quả
7A dkar, AkarThừa của âm A trắngMật pháp: quán tưởng bổn tôn, trì chú, mạn đà laThừa quả
8Ye gshen, YeshenThừa của shen nguyên sơMật pháp cao hơn, nhấn vào sự tương ưng với thầy và bổn tônThừa quả
9Bla med, LameThừa vô thượngDzogchen, đại toàn thiệnThừa quả

Cái đáng chú ý nhất trong bảng là bốn thừa nhân. Bói toán, cầu an, hóa giải và tang lễ, những việc mà ở nhiều đạo khác nằm ngoài giáo lý chính thức, thậm chí bị coi là tập tục cần dè chừng, thì ở Bön lại được đặt vào ngay trong hệ giáo pháp như bốn bậc đầu tiên. Lý do mà các thầy Bön đưa ra là chúng sinh có nhiều căn cơ khác nhau: người đang ốm, đang gặp tai họa, đang mất người thân, trước hết cần được giúp ở đúng chỗ họ đang đứng, và chính sự giúp ấy mở đường cho họ tới các thừa cao hơn.

Năm thừa quả thì đi theo một trục quen thuộc với người đọc Phật Giáo Tây Tạng: giới luật của cư sĩ, giới luật của người xuất gia, hai tầng mật pháp, rồi Dzogchen ở đỉnh. Mỗi thừa trên không phủ nhận thừa dưới mà bao lấy nó, nên một vị thầy Dzogchen vẫn có thể làm lễ cầu an cho làng.

Chỗ hay hiểu lầm

Phái Nyingma của Phật Giáo Tây Tạng cũng chia giáo pháp làm chín thừa và cũng đặt Dzogchen ở đỉnh. Hai bảng trùng nhau ở con số chín và ở bậc cao nhất, nhưng các bậc dưới khác nhau rõ: bảng Nyingma bắt đầu bằng các thừa Thanh Văn, Độc Giác, Bồ Tát, không có bốn thừa nhân lo bói toán và tang lễ như Bön. Giới nghiên cứu vẫn bàn về quan hệ giữa hai bảng. Ở đây chỉ cần nhớ đừng lấy bảng này thay cho bảng kia.

VIIYungdrung, Chữ Vạn Xoay Ngược Của Bön

Không thể nói về Bön mà bỏ qua yungdrung གཡུང་དྲུང་. Nó vừa là một chữ trong tiếng Tạng, vừa là một hình: hình chữ vạn với bốn cánh gập về cùng một phía. Chữ ấy có mặt khắp nơi trong đạo này: trong tên đạo, trong tên bậc hành giả yungdrung sempa, trong tên ngọn núi chín tầng Yungdrung Gutseg. Theo luật của thư viện, mục này chỉ mô tả bằng chữ, không in hình.

Theo giáo nghĩa

Theo lời giảng của Bön, chữ yungdrung mang nghĩa vĩnh cửu, bất hoại, không đổi. Có một lối giải thích từng âm tiết được các thầy Bön hay dùng: yung chỉ cái không sinh, drung chỉ cái không diệt. Cái không sinh không diệt ấy chính là bản chất của tâm và của giáo pháp. Hình yungdrung vì thế là biểu tượng của sự bền vững tuyệt đối của chân lý, và trong Bön nó giữ vị trí gần giống vị trí của chày kim cương, tức vajra, trong Phật Giáo Tây Tạng. Tiếng Hán phiên âm chữ này là 雍仲, đọc theo âm Hán Việt là ung trọng.

Theo sử liệu

Nhà Tạng học Sam van Schaik, khảo các văn bản tìm được ở Đôn Hoàng, ghi nhận rằng yungdrung là một chữ tiếng Tạng có từ trước Phật Giáo, mang nghĩa chung là vĩnh cửu, và gắn với tôn giáo của triều đình Tây Tạng thời cổ. Khi Phật Giáo vào, các dịch giả Phật Giáo mượn chính chữ ấy để dịch nhiều khái niệm khác nhau, có người dùng nó cho niết bàn, có người dùng nó cho chữ Phạn sanātana, tức thường hằng. Về sau Phật Giáo Tây Tạng chuẩn hóa lại cách dùng. Tới thế kỷ 11, Bön lấy chữ yungdrung làm trung tâm bản sắc của mình, và cái tên Yungdrung Bön ra đời từ đó. Nói cách khác, chữ này không thuộc riêng bên nào từ đầu, mà là một chữ cổ được cả hai truyền thống dùng theo cách của mình.

Chiều xoay, và vì sao nó ngược với Phật Giáo Tây Tạng

Yungdrung của Bön xoay ngược chiều kim đồng hồ. Hình chữ vạn mà Phật Giáo Tây Tạng dùng thì xoay theo chiều kim đồng hồ. Chỗ khác ấy không phải ngẫu nhiên: nó khớp với chiều đi nhiễu của mỗi đạo. Người Phật Giáo Tây Tạng đi vòng quanh tháp, quanh chùa, quanh núi thiêng theo chiều kim đồng hồ, giữ vật thiêng ở bên tay phải mình. Người Bön đi theo chiều ngược lại. Cối kinh xoay tay của người Bön cũng quay theo chiều ngược với cối kinh của người Phật Giáo. Hình yungdrung vì thế giống một dấu chỉ đường, cho người đi biết mình đang ở trong truyền thống nào.

Cần ghi một chỗ dễ rối. Các sách gọi chiều của chữ vạn theo hai lối khác nhau: có sách gọi theo phía mà cánh gập hướng tới, có sách gọi theo chiều mà cả hình có vẻ đang quay. Vì thế cùng một hình, sách này gọi là xoay trái, sách kia gọi là xoay phải. Để tránh rối, thư viện mô tả theo chiều đi nhiễu tương ứng, là cách mà chính người Bön và người Phật Giáo Tây Tạng vẫn hiểu. Ở Việt Nam, như bài Phật Giáo đã ghi, chùa Việt dùng cả hai chiều.

Chỗ khác với dấu hiệu của Đức Quốc Xã

Người đọc lớn lên với sách lịch sử châu Âu thế kỷ 20 thường giật mình khi thấy hình chữ vạn trên cổng tu viện Bön. Cần phân biệt cho rõ, bằng cái nhìn bình tĩnh. Dấu hiệu mà Đảng Quốc Xã Đức dùng, tiếng Đức gọi là Hakenkreuz, nghĩa đen là chữ thập có móc, có bốn đặc điểm: nó dựng nghiêng bốn mươi lăm độ, đứng trên một đỉnh nhọn, cánh gập theo chiều kim đồng hồ, tô màu đen, đặt trong một vòng tròn trắng trên nền cờ đỏ.

Yungdrung của Bön khác ở cả bốn chỗ. Nó đặt thẳng, bốn cạnh song song hoặc vuông góc với mặt đất. Nó xoay ngược chiều kim đồng hồ, tức ngược cả với chiều của dấu Quốc Xã. Nó xuất hiện trên tường tu viện, trên bệ thờ, trên vải trang trí, trong khung cảnh tôn giáo. Và quan trọng nhất, nó mang nghĩa vĩnh cửu, bất hoại, một nghĩa đã được dùng trên cao nguyên Tây Tạng từ trước cả khi Phật Giáo tới, tức rất lâu trước khi có đảng phái ấy.

Chỗ hay hiểu lầm

Yungdrung là biểu tượng nhận diện chính danh của Bön. Nhưng thư viện Vạn Đạo Đường có luật chung không dùng hình chữ vạn trong ấn ký ở bất kỳ dạng nào, áp cho cả Phật Giáo, Kỳ Na và Bön, vì người xem ở nhiều nước đọc hình ấy theo những cách rất khác nhau. Đổi lại, ấn ký của trang này là ngọn núi thiêng chín tầng, tức Yungdrung Gutseg, một biểu tượng thiêng thật sự của Bön chứ không phải vật thay thế tạm. Nêu điều này không nhằm nói hình yungdrung có gì sai, chỉ để người đọc biết vì sao hình ấy không có trên đầu trang.

VIIIKinh Điển: Kangyur Và Tengyur Của Bön

Bön có một bộ kinh điển đồ sộ, chia làm hai phần theo đúng khuôn mà Phật Giáo Tây Tạng dùng. Kangyur བཀའ་འགྱུར་ là phần chứa lời dạy được coi là của chính Tonpa Shenrab. Tengyur བརྟེན་འགྱུར་ là phần chứa luận giải, chú thích, nghi quỹ do các bậc thầy đời sau soạn. Theo Per Kværne viết trong bộ Encyclopedia of Religion, toàn bộ kinh điển Bön ngày nay gồm khoảng ba trăm tập, được khắc lên ván gỗ để in vào quãng giữa thế kỷ 19.

Phần Kangyur được chia theo bốn loại lớn: kinh, tức mdo, bát nhã, tức 'bum, mật chú, tức rgyud, và tâm, tức mdzod, là phần chứa giáo pháp cao nhất. Một số ấn bản còn thêm một tập về dòng truyền. Số tập thì khác nhau tùy ấn bản, bảng dưới ghi theo một ấn bản có 179 tập.

Cách chia phần Kangyur của Bön theo một ấn bản 179 tập. Các ấn bản khác có số tập khác, và cách chia cũng có chỗ lệch. Nguồn: Tổng hợp từ danh mục Kangyur Bön do nhóm Karmay và Nagano biên soạn, xuất bản ở Osaka đầu thập niên 2000, cùng mục từ Bön Kangyur và Tengyur.
PhầnTên TạngTậpNội dung
Kinhmdo1 tới 74Lời giảng về luân hồi, nghiệp, giới luật, tiểu sử Tonpa Shenrab
Bát nhã'bum75 tới 144Các bản giảng về trí tuệ và tánh không, dài và lặp nhiều, như khối Bát Nhã của Phật Giáo
Mật chúrgyud145 tới 170Nghi quỹ mật tông, quán tưởng, trì chú, các pháp hộ pháp
Tâmmdzod171 tới 178Giáo pháp cao nhất, trong đó có các văn bản Dzogchen
Dòng truyền179Ghi chép về sự truyền thừa giáo pháp

Terma, văn bản khai quật

Phần lớn kinh điển Bön, theo cách chính đạo này kể, là terma གཏེར་མ་, tức văn bản được chôn giấu trong thời đạo suy vi rồi được khai quật lại khi đủ duyên. Người khai quật gọi là tertön. Các văn bản có thể được tìm thấy trong hang đá, trong cột chùa, dưới chân tượng, và một số được coi là khai quật từ trong tâm của hành giả. Cuộc khai quật được nhắc nhiều nhất là của Shenchen Luga, sống từ năm 996 tới năm 1035, người tìm được một khối văn bản lớn vào khoảng năm 1017. Các văn bản khai quật được chia thành kho phương Nam, kho phương Bắc và kho trung tâm, tùy nơi tìm thấy.

Bên cạnh terma là dòng khẩu truyền, tiếng Tạng snyan brgyud, như dòng Zhangzhung Nyengyud đã nói ở mục trước, và bộ Zijid được chép vào thế kỷ 14. Phật Giáo Tây Tạng, nhất là phái Nyingma, cũng có truyền thống terma rất lớn, và đây là một trong những chỗ hai đạo gần nhau nhất.

Theo sử liệu

Kinh điển Bön chỉ thật sự vào tầm nghiên cứu quốc tế từ nửa sau thế kỷ 20. Snellgrove dịch trích bộ Zijid năm 1967. Samten Karmay công bố The Treasury of Good Sayings năm 1972, dịch và nghiên cứu một bộ sử do chính người Bön viết. Từ cuối thập niên 1990, một nhóm học giả Nhật Bản và châu Âu biên soạn các bộ danh mục cho Kangyur và Tengyur Bön, lần đầu cho phép tra từng văn bản.

Kết quả so sánh văn bản cho thấy nhiều đoạn kinh Bön rất gần với văn bản Phật Giáo tương ứng, đôi khi gần như trùng câu chữ nhưng thay tên người và tên đất. Giới nghiên cứu đọc hiện tượng ấy khác nhau. Một hướng cho rằng Bön đã chuyển thể văn bản Phật Giáo trong thời định hình. Một hướng khác nhắc rằng việc vay mượn đi theo cả hai chiều, và rằng Bön cũng giữ nhiều văn bản về nghi lễ, tang chế, thần thoại không có bản tương ứng nào bên Phật Giáo. Người Bön thì giữ cách hiểu của mình, rằng các văn bản ấy vốn là lời Tonpa Shenrab.

IXNghi Lễ Và Thực Hành

Nhìn từ bên ngoài, đời sống thực hành của một người Bön tại gia rất giống đời sống của một người Phật Giáo Tây Tạng: lễ lạy, đi nhiễu, trì chú, cúng khói thơm, treo cờ gió. Chỗ khác nằm ở chiều đi, câu chú, vị được hướng tới, và việc các nghi lễ đời thường được xếp vào thừa nào.

Đi nhiễu ngược chiều kim đồng hồ

Tiếng Tạng là kora སྐོར་བ་. Người Bön đi vòng quanh tháp, tu viện, núi thiêng, hồ thiêng theo chiều ngược kim đồng hồ, giữ vật thiêng ở bên tay trái. Đây là dấu hiệu dễ nhận ra nhất ngoài đời.

Câu chú Matri

Câu chú tám âm tiết thường được coi là câu chú tâm yếu của Bön, phiên âm Latinh là Om Ma Tri Mu Ye Sa Le Du, gắn với vị mẹ của trí tuệ. Người Bön khắc câu này lên đá mani và trì trên tràng hạt, như người Phật Giáo Tây Tạng trì câu Om Mani Padme Hum.

Cúng khói thơm

Tiếng Tạng là sang བསང་. Đốt cành bách, lá thơm, rắc bột lúa mạch lên lửa để khói bốc lên cúng các vị trên trời và tẩy sạch chỗ ở. Tục này chung cho cả người Bön và người Phật Giáo trên cao nguyên.

Cờ gió

Tiếng Tạng là lungta རླུང་རྟ་, nghĩa đen là ngựa gió. Những lá cờ vải năm màu in chú và lời cầu, treo ở đèo cao, mái nhà, cầu treo, để gió mang lời cầu đi. Người Bön xếp và giải nghĩa các màu theo lối riêng của mình.

Torma và hình thế mạng

Những hình nặn từ bột lúa mạch trộn bơ, dùng làm vật cúng hoặc làm vật thế mạng trong nghi lễ chuộc, gọi là lüd. Truyền thống Bön kể chính Tonpa Shenrab dạy dùng các hình này thay cho vật hiến sống.

Bói và xem lịch

Thuộc thừa thứ nhất. Người Bön bói bằng chuỗi hạt, bằng dây nút, bằng quan sát điềm, và tính lịch theo năm tháng Tạng để chọn ngày làm việc lớn.

Tang lễ và cõi giữa hai đời

Tang lễ là mảng mà Bön có truyền thống sâu nhất. Văn thư cổ về những người hành lễ bon po và gshen chủ yếu nói về việc họ lo tang lễ cho giới quyền quý, và trong chín thừa, cả thừa thứ tư được dành cho việc này. Bön có giáo lý riêng về giai đoạn giữa lúc chết và lúc tái sinh, tương ứng với khái niệm trung ấm, tiếng Tạng là bardo, mà người Việt biết qua các sách về Phật Giáo Tây Tạng. Thầy tụng được mời tới đọc văn dẫn đường cho người mất, làm lễ chuộc và lễ cúng trong những tuần sau khi mất. Người Việt quen lễ cúng thất và lễ cầu siêu sẽ thấy nhịp này gần gũi, dù nội dung các bài tụng khác hẳn.

Đời sống ở tu viện

Ngày thường của tăng sĩ Bön gồm tụng kinh sáng tối, học kinh luận, tranh biện và nhập thất. Chương trình học lấy học vị geshe kéo dài nhiều năm, gồm luận lý, giới luật, tánh không, mật pháp, Dzogchen, cùng y học và lịch pháp. Lịch lễ theo lịch Tạng, có Losar tức Tết Tạng, và các ngày kỷ niệm đời Tonpa Shenrab.

Chỗ hay hiểu lầm

Một số sách cũ mô tả Bön là tôn giáo hiến tế động vật. Mô tả ấy nói về những nghi lễ mà văn thư cổ ghi lại cho thời trước Phật Giáo, tức nghĩa thứ nhất của chữ Bön. Yungdrung Bön, qua chính lời kể về Tonpa Shenrab, thay vật hiến sống bằng torma và hình thế mạng nặn từ bột, và giới luật của người xuất gia Bön cấm sát sinh như giới luật Phật Giáo.

XNúi Kailash Và Hồ Mapang

Núi Kailash đứng ở miền tây cao nguyên Tây Tạng, vùng Ngari, là một khối núi đá phủ tuyết có dáng gần như kim tự tháp, bốn mặt dốc đứng, đứng tách hẳn khỏi các đỉnh xung quanh. Tiếng Tạng gọi nó là Tise ཏི་སེ་ hoặc Gang Rinpoche གངས་རིན་པོ་ཆེ་, nghĩa là ngọn núi tuyết quý. Về độ cao, các nguồn ghi khác nhau: Britannica ghi 6.714 mét, còn nhiều nguồn khác, dựa trên các phép đo mới hơn, ghi 6.638 mét. Thư viện ghi cả hai.

Kailash là núi thiêng của bốn đạo cùng lúc. Người Ấn Độ Giáo coi đó là chốn ngự của thần Shiva. Người Kỳ Na coi đó là nơi vị Tirthankara đầu tiên đạt giải thoát. Người Phật Giáo Tây Tạng coi đó là chốn của bổn tôn Chakrasamvara. Và người Bön coi đó là tâm điểm của vùng Zhangzhung, nơi Tonpa Shenrab đã tới và làm phép thiêng hóa cả vùng.

Theo giáo nghĩa

Theo truyền thống Bön, ngọn núi xưa kia mang tên của vị thần núi ngự trên đó. Tonpa Shenrab tới vùng này, nhập vào núi, và hiển lộ ở đó mạn đà la của ba trăm sáu mươi vị bổn tôn, biến cả vùng thành chỗ nương tựa của giáo pháp. Ngài đặt lại tên núi là Tise, trong tiếng Zhangzhung ti nghĩa là nước, se nghĩa là thần hộ trì. Một số văn bản Bön còn đồng nhất Kailash với chính núi Yungdrung Gutseg གཡུང་དྲུང་དགུ་བརྩེགས་, ngọn núi chín tầng ở trung tâm vùng đất Olmo Lungring.

Chỗ đồng nhất ấy không phải văn bản Bön nào cũng theo. Chính các thầy Bön cũng giảng rằng Yungdrung Gutseg của Olmo Lungring và núi Tise ở Zhangzhung là hai nơi, và việc có văn bản gán tên cùng địa hình của nơi này lên nơi kia giống như nhiều thành phố trên thế giới cùng mang một tên. Với người hành hương, sự phân biệt ấy không quan trọng lắm: ngọn núi chín tầng là hình mẫu của một thế giới có trục, và Kailash là nơi trục ấy chạm xuống mặt đất mà mắt người thấy được.

Vòng nhiễu quanh chân núi dài chừng năm mươi hai cây số, các nguồn ghi từ 52 tới 53 cây số, vượt một con đèo cao trên năm nghìn mét. Người Bön đi ngược chiều kim đồng hồ, trong khi người Phật Giáo và người Ấn Độ Giáo đi theo chiều kim đồng hồ, nên trên cùng một con đường, người hành hương hai bên đi ngược mặt nhau. Dưới chân núi là hồ Manasarovar, người Bön gọi là Mapang Yutso, nơi theo truyền thống có vị nữ vương của loài klu cùng vô số thần nước ngự.

Theo sử liệu

Các cuộc khảo sát ở miền tây cao nguyên đã ghi nhận nhiều di chỉ cổ quanh vùng Kailash và thung lũng Khyunglung: nền thành trên đá, hang có người ở, mộ táng. Việc gắn các di chỉ ấy với kinh thành Khyunglung Ngulkhar của truyền thống Bön chưa được giới khảo cổ thống nhất. Tên gọi, niên đại và tôn giáo của những cư dân ấy vẫn là câu hỏi đang mở.

XITu Viện Menri Và Cơ Cấu Tăng Đoàn

Bön không có một giáo hội trung ương theo nghĩa có quyền quyết định về tín lý cho mọi người theo đạo. Cái giữ Bön lại với nhau là các dòng truyền thừa, các dòng tộc giữ đạo và các tu viện lớn, trong đó tu viện Menri སྨན་རི་ đứng đầu. Vị viện chủ của Menri, gọi là Menri Trizin, được người Bön rộng rãi coi là người đứng đầu tinh thần của Yungdrung Bön.

Từ Yeru Wensakha tới Menri

Trước Menri có tu viện Yeru Wensakha, lập năm 1072 ở vùng Tsang, miền trung cao nguyên, do dòng tộc Dru điều hành, và giữ vai trung tâm học thuật Bön suốt hơn ba thế kỷ. Năm 1386, một trận lũ phá hủy tu viện này. Năm 1405, Nyame Sherab Gyaltsen lập Menri trên sườn núi gần đó để nối truyền thống học thuật đã mất. Về năm mất của ngài, các nguồn ghi lệch nhau một năm: bộ Encyclopedia of Buddhism ghi ngài sống từ 1356 tới 1415, một số nguồn khác ghi 1356 tới 1416. Cùng vùng Tsang còn hai tu viện Bön lớn là Yungdrung LingKharna, thường được kể cùng Menri như ba trung tâm học thuật của đạo.

Menri ở Dolanji và Triten Norbutse ở Kathmandu

Năm 1967, tu viện Menri được lập lại tại Dolanji, bang Himachal Pradesh, Ấn Độ, do Lungtok Tenpai Nyima, vị Menri Trizin đời thứ ba mươi ba, cùng Lopön Tenzin Namdak đứng ra xây dựng. Menri ở Dolanji nay có trên hai trăm tăng sĩ, có trường tranh biện và chương trình đào tạo geshe. Năm 1987, Lopön Tenzin Namdak lập tu viện Triten Norbutse ở rìa phía tây thung lũng Kathmandu, Nepal. Hai nơi này là hai nơi duy nhất hiện đào tạo học vị geshe của Bön. Trên cao nguyên, nhiều tu viện Bön vẫn giữ sinh hoạt, và ở vùng núi Nepal như Dolpo và Mustang có những làng theo Bön lâu đời.

Menri Trizin

Viện chủ tu viện Menri, được coi là người đứng đầu tinh thần của Yungdrung Bön. Chữ trizin nghĩa là người giữ tòa.

Lopön

Bậc thầy giảng dạy chính của một tu viện, người phụ trách chương trình học.

Geshe

Học vị cao nhất của chương trình học tu viện, sau nhiều năm học luận lý, giới luật, mật pháp và Dzogchen.

XIIBön Và Phật Giáo Tây Tạng: Vay Mượn Qua Lại

Hai đạo cùng sống trên một cao nguyên hơn một nghìn năm, cùng dùng một ngôn ngữ, cùng một lối kiến trúc tu viện, cùng một nền y học và lịch pháp, cùng một lớp tín ngưỡng dân gian bên dưới. Người ngoài đứng trong sân một tu viện Bön và một tu viện Phật Giáo Tây Tạng có khi không phân biệt được. Nhưng người trong cuộc thì phân biệt rất rõ, và bảng dưới gom những chỗ khác thường được nêu.

Những chỗ khác giữa Yungdrung Bön và Phật Giáo Tây Tạng thường được nêu. Đây là mô tả, không phải so sánh hơn kém.
NétYungdrung BönPhật Giáo Tây Tạng
Bậc khai sángTonpa Shenrab, sinh ở Olmo LungringĐức Phật Thích Ca, sinh ở Lâm Tỳ Ni
Chữ chỉ giáo phápBönChos, tức pháp
Chiều đi nhiễuNgược chiều kim đồng hồTheo chiều kim đồng hồ
Chiều của chữ vạnXoay ngược chiều kim đồng hồXoay theo chiều kim đồng hồ
Ngôn ngữ gốc của kinh theo truyền thốngTiếng Zhangzhung, gốc xa hơn ở TagzigTiếng Phạn
Cách chia giáo phápChín thừa theo ba kho, Bốn Cửa và Kho Thứ NămBa thừa, riêng phái Nyingma có chín thừa
Đỉnh của giáo phápDzogchen, với ba dòng riêng của BönDzogchen ở phái Nyingma, Mahamudra ở các phái khác
Theo sử liệu

Đây là chỗ tranh luận lớn nhất trong ngành Bön học, và thư viện ghi các cách đọc chính mà không phân xử. Helmut Hoffmann, giữa thế kỷ 20, đọc Bön cổ như một tôn giáo linh hồn và shaman, còn Yungdrung Bön về sau là sự mô phỏng Phật Giáo. David Snellgrove sửa lại cách đọc ấy, coi Bön là một dạng Phật Giáo không chính thống, có thể bắt nguồn từ Phật Giáo mật tông đã vào miền tây cao nguyên qua ngả Zhangzhung, và chủ ý nhấn vào các yếu tố trước Phật Giáo thay vì chối bỏ chúng. Per Kværne dùng chữ Bön chủ yếu cho truyền thống định hình từ thế kỷ 10 và 11, có ý thức về sự liên tục với quá khứ. Samten Karmay, bản thân xuất thân từ truyền thống Bön, coi trọng lời Bön tự kể và xem Bön là một truyền thống riêng. Geoffrey Samuel cho rằng Bön về căn bản là một biến thể của Phật Giáo Tây Tạng nhưng giữ lại một số yếu tố thật sự cổ từ trước Phật Giáo.

Cách nhìn của chính người Bön thì rõ ràng: đạo của họ là giáo pháp của một vị Phật khác, có trước Phật Giáo trên cao nguyên, và nếu có chỗ giống thì là vì Phật Giáo Tây Tạng đã nhận nhiều thứ từ Bön khi vào vùng đất này. Giữa hai đầu ấy, nhiều nhà nghiên cứu gần đây nhấn vào một điều cả hai phía đều chấp nhận được: hai đạo đã vay mượn của nhau theo cả hai chiều suốt nhiều thế kỷ. Phật Giáo Tây Tạng nhận từ lớp cổ của cao nguyên các thần núi, lễ khói thơm, cờ gió, nhiều thần hộ pháp địa phương. Bön nhận từ Phật Giáo khuôn tu viện, khuôn luận lý, nhiều khối văn bản. Phái Nyingma và Bön đặc biệt gần nhau: cùng truyền thống terma, cùng Dzogchen, cùng tên Kuntu Zangpo.

Thế kỷ 19, phong trào Rimé, tức không phân tông, ở miền đông cao nguyên đưa các bậc thầy nhiều truyền thống lại học của nhau, trong đó có bậc thầy Bön Shardza Tashi Gyaltsen.

Chỗ hay hiểu lầm

Có hai cách nói sai ngược chiều nhau. Một là cho rằng Bön chỉ là bản chép của Phật Giáo Tây Tạng với tên đã đổi. Hai là cho rằng Phật Giáo Tây Tạng chỉ là Bön khoác áo Ấn Độ. Cả hai đều bỏ qua hơn một nghìn năm hai truyền thống sống cạnh nhau, tranh luận với nhau và học của nhau. Ghi nhận sự gần gũi ấy không làm bớt bản sắc riêng của bên nào.

XIIISố Tín Đồ, Và Vì Sao Không Có Phép Đếm Đáng Tin

Thư viện phải nói thẳng ngay từ đầu: không có phép đếm đáng tin về số người theo Bön. Con số được dẫn nhiều nhất trong tài liệu tiếng Anh là tới khoảng 400.000 người trên toàn cao nguyên Tây Tạng. Nhưng đó là ước tính của một số học giả, được nhiều báo cáo về tôn giáo trên thế giới dẫn lại từ năm 2012, chứ không phải kết quả của một cuộc kiểm đếm. Bài của Per Kværne trong bộ Encyclopedia of Religion không đưa con số mà chỉ ghi rằng người Bön là một thiểu số không nhỏ, có những vùng ở miền đông cao nguyên mà cả vùng theo Bön, và có những cộng đồng rải rác ở nơi khác.

Pew Research Center, trong báo cáo công bố tháng 6 năm 2025 với số liệu mốc 2020, chia dân số thế giới thành bảy nhóm lớn và không có mục riêng cho Bön. Tùy cách trả lời, người Bön có thể rơi vào nhóm Phật Giáo hoặc nhóm các tôn giáo khác.

Không có cuộc điều tra nào tách riêng Bön

Thư viện không tìm được cuộc điều tra dân số hay khảo sát quy mô lớn nào ở vùng cư dân Tây Tạng hỏi riêng người dân có theo Bön hay không.

Lớp tín ngưỡng chung

Người Bön và người Phật Giáo cùng sống trong một lớp tín ngưỡng dân gian: cùng cúng khói thơm, treo cờ gió, thờ thần núi. Ở tầng ấy, ranh giới giữa hai đạo rất mờ. Nhiều gia đình mời thầy Bön làm lễ này, mời thầy Phật Giáo làm lễ khác.

Chữ Bön có ba nghĩa

Người đếm theo nghĩa rộng, gộp cả lớp tín ngưỡng dân gian, sẽ ra con số rất lớn. Người đếm theo nghĩa hẹp, chỉ những ai tự nhận theo Yungdrung Bön, sẽ ra con số nhỏ hơn nhiều.

Vì những lẽ ấy, thư viện ghi con số ước tính kèm đủ nguồn và năm, và khuyên người đọc hiểu nó như một cỡ độ lớn, tức hàng trăm nghìn người, chứ không phải một con số chính xác. Con số tăng sĩ và tu viện thì đếm được dễ hơn, như trên hai trăm tăng sĩ ở Menri Dolanji mà mục trước đã ghi.

Ngoài cao nguyên và tại Việt Nam

Ngoài cao nguyên, Bön có mặt ở Ấn Độ với tu viện Menri và khu định cư quanh đó ở Dolanji, ở Nepal với tu viện Triten Norbutse và các làng Bön vùng núi Dolpo, Mustang, và từ cuối thế kỷ 20 là ở một số trung tâm tu học tại châu Âu và châu Mỹ do các thầy Bön lập, như Shenten Dargye Ling ở Pháp. Các trung tâm phương Tây chủ yếu dạy thiền Dzogchen và các pháp thực hành cho người tại gia.

Tại Việt Nam, thư viện không tìm thấy tổ chức hay cơ sở thờ tự nào của đạo Bön. Theo số liệu Ban Tôn giáo Chính phủ công bố ngày 01 tháng 8 năm 2025, Việt Nam công nhận 16 tôn giáo với 43 tổ chức tôn giáo được cấp đăng ký hoạt động, trên 27,7 triệu tín đồ29.890 cơ sở thờ tự, trong đó không có Bön. Người Việt biết tới Bön chủ yếu qua sách về Phật Giáo Tây Tạng, qua các chuyến hành hương núi Kailash, và qua sách dịch về thiền Dzogchen.

XIVTrong Con Mắt Phong Thủy

Xin nói rõ trước một câu, vì câu này quyết định cách đọc cả mục: Bön không dạy phong thủy Trung Hoa. Không có văn bản Bön nào bàn long mạch theo lối Loan Đầu, không có thầy Bön nào xem hướng nhà theo bát trạch. Mục này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền Việt Nam, viết ra để bạn đọc quen lối ấy có chỗ đối chiếu, không phải để gán phong thủy cho Bön.

Bön có lối xem đất và lịch pháp của riêng mình

Điều đó không có nghĩa là Bön không quan tâm tới đất. Trái lại, vì thế giới quan của Bön đầy những chủ đất, thần nước, thần núi, nên việc chọn đất và xin đất là việc hệ trọng. Trên cao nguyên có một môn gọi là sa dpyad ས་དཔྱད་, nghĩa là xem đất, dùng chung cho cả người Bön lẫn người Phật Giáo, để xét hình thế một mảnh đất trước khi dựng tu viện hay dựng nhà. Trước khi động thổ, người ta làm lễ xin đất, tiếng Tạng là sa chog ས་ཆོག་, để báo với sadag và các klu của nơi ấy, xin phép, dâng vật cúng, và hứa giữ sạch chỗ ở của họ.

Lịch pháp Tây Tạng cũng có một nhánh gốc Trung Hoa, gọi là nag rtsis, tức phép tính đen, dùng tám quẻ gọi là spar kha và chín số gọi là sme ba, tức đúng bộ tám quẻ và chín số Lạc Thư mà người học phong thủy Việt biết. Người Phật Giáo lẫn người Bön đều dùng nhánh này để chọn ngày, xem tuổi, xem hạn. Riêng Bön xếp việc bói toán và tính lịch vào thừa thứ nhất trong chín thừa, và coi đó là môn do Tonpa Shenrab truyền dạy.

Tu viện Bön hướng theo quy tắc gì

Câu trả lời thành thật là Bön không có một luật chung về hướng như thánh đường Hồi Giáo hướng về Mecca hay nhà thờ Công Giáo truyền thống hướng về phía đông. Cái quyết định nhiều nhất trong bố cục một tu viện Bön là thế núi của nơi dựng, lễ xin đất với các chủ đất ở đó, và chiều đi nhiễu ngược kim đồng hồ, vì lối đi nhiễu quanh điện chính, quanh tháp, quanh hàng cối kinh phải được sắp cho người đi theo đúng chiều ấy. Nhiều tu viện trên cao nguyên, cả Bön lẫn Phật Giáo, tựa lưng vào sườn núi và quay mặt về hướng có nắng, nhưng đó là xu hướng quan sát được ở vùng núi lạnh, không phải điều luật của đạo.

Đối chiếu một số nét trong thế giới quan và công trình của Bön với khái niệm quen thuộc trong phong thủy cổ truyền Việt Nam. Cột bên phải là cách đọc của thư viện, không phải giáo nghĩa Bön.
Nét của BönChỗ đối chiếu theo lối Việt
Núi Kailash và núi chín tầng làm trục của thế giớiGần với ý niệm tổ sơn, ngọn núi mẹ mà từ đó long mạch tỏa ra, và với ý niệm một trục trung tâm giữ cho vùng đất yên
Sadag chủ đất và klu dưới nước, dưới đấtGần với Thổ công, Thổ địa và Long thần trong tín ngưỡng Việt, đều là các thế lực có chủ ở từng mảnh đất, từng dòng nước
Lễ xin đất trước khi dựngGần với lễ động thổ của người Việt, cũng là báo với thần đất và xin phép trước khi đào móng
Cờ gió treo ở đèo cao và đỉnh núiNgược với nguyên tắc tàng phong tụ khí của phong thủy: cờ gió cần chỗ gió lộng để lời cầu bay đi, còn chỗ ở theo lối Việt cần chỗ kín gió để khí tụ lại
Tám quẻ và chín số trong lịch phápChính là bát quái và cửu cung Lạc Thư, cùng một gốc đại lục, nhưng người Tây Tạng dùng để xem tuổi và chọn ngày nhiều hơn là để xem hướng nhà
Chỗ hay hiểu lầm

Lớp thứ nhất, của chính Bön. Thế giới có chủ, lễ xin đất, chiều đi nhiễu, núi thiêng làm trục. Đây là giáo nghĩa và nghi lễ, và trong đó không có phong thủy Trung Hoa.

Lớp thứ hai, chung cho cả cao nguyên. Môn xem đất sa dpyad và nhánh lịch pháp gốc Trung Hoa có tám quẻ và chín số. Người Bön và người Phật Giáo cùng dùng, và nhánh lịch pháp ấy mới là chỗ gặp thật sự với thuật số mà người Việt quen.

Lớp thứ ba, cách đọc của thư viện này. Bảng đối chiếu ở trên, chỉ để người quen lối Việt hình dung được. Xem hướng nhà theo bát trạch không phải là thực hành Bön, cũng như đi nhiễu ngược chiều quanh một ngọn núi không phải là thực hành phong thủy.

XVNhững Chỗ Hay Hiểu Lầm

Bön là đạo ít được viết về bằng tiếng Việt, và phần lớn thông tin tới với người Việt đi qua sách về Phật Giáo Tây Tạng, sách du lịch và các bộ bách khoa cũ. Mục này gom những chỗ hay bị hiểu lệch nhất.

Bön chỉ là shaman giáo trước Phật Giáo

Không đủ. Mô tả ấy chỉ đúng một phần với nghĩa thứ nhất của chữ Bön, tức tôn giáo cổ mà sử học biết rất ít. Yungdrung Bön ngày nay có kinh điển chừng ba trăm tập, có tu viện, có tăng sĩ thọ giới, có học vị geshe và có hệ thiền Dzogchen.

Bön là một phái của Phật Giáo Tây Tạng

Người Bön không nhận như thế. Họ quy y một vị Phật khác là Tonpa Shenrab, giữ kinh điển riêng, đi nhiễu ngược chiều. Một số học giả coi Bön là một dạng Phật Giáo không chính thống, số khác coi là truyền thống riêng. Thư viện ghi cả hai cách nhìn và dùng cách người Bön tự gọi mình.

Chữ vạn xoay ngược của Bön có liên hệ với Đức Quốc Xã

Không. Yungdrung đã mang nghĩa vĩnh cửu trên cao nguyên Tây Tạng từ trước cả khi Phật Giáo tới. Dấu hiệu của Đảng Quốc Xã dựng nghiêng bốn mươi lăm độ, xoay theo chiều kim đồng hồ, màu đen trên vòng tròn trắng nền đỏ. Yungdrung Bön đặt thẳng, xoay ngược chiều, và mang nghĩa bất hoại.

Chữ vạn xoay ngược là chữ vạn xấu, chữ vạn xoay xuôi mới là chữ vạn tốt

Không. Chiều xoay chỉ cho biết truyền thống nào: Phật Giáo Tây Tạng dùng chiều xuôi khớp với chiều đi nhiễu của họ, Bön dùng chiều ngược khớp với chiều đi nhiễu của mình. Ở Việt Nam, chùa dùng cả hai chiều. Không bên nào coi chiều của bên kia là điềm xấu.

Tonpa Shenrab là Đức Phật Thích Ca được gọi bằng tên khác

Không. Trong Bön, Tonpa Shenrab là một vị Phật khác, sinh ở Olmo Lungring, được truyền thống đặt vào năm 16017 trước Công nguyên, có gia đình và dòng truyền riêng. Sử học thì chưa có tài liệu độc lập về ngài, và thư viện ghi cả giáo nghĩa lẫn sử liệu.

Người Bön thờ ma quỷ và hiến tế máu

Không. Bön có nghi lễ hóa giải các thế lực gây hại, nhưng mục đích là đưa mọi thứ về thế cân bằng, không phải thờ các thế lực ấy. Truyền thống Bön kể chính Tonpa Shenrab thay vật hiến sống bằng hình nặn từ bột, và giới luật Bön cấm sát sinh.

Đạo Bön đã tuyệt

Không. Bön vẫn có tu viện trên cao nguyên, có tu viện Menri ở Dolanji với trên hai trăm tăng sĩ, có tu viện Triten Norbutse ở Kathmandu, có làng Bön ở vùng núi Nepal và có trung tâm tu học ở châu Âu, châu Mỹ.

Olmo Lungring là một nơi có trên bản đồ

Chưa ai định vị được. Truyền thống Bön đặt Olmo Lungring trong xứ Tagzig ở phía tây Tây Tạng, và giới nghiên cứu đã đưa ra nhiều giả thuyết về vùng Trung Á hay Ba Tư, nhưng không giả thuyết nào thuyết phục được số đông. Người Bön thì hiểu Olmo Lungring vừa là một nơi chốn vừa là một cõi thiêng.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đạo Bön là gì

Đạo Bön là truyền thống tôn giáo lâu đời của cao nguyên Tây Tạng, đứng song song với Phật Giáo Tây Tạng suốt hơn một nghìn năm. Người theo đạo gọi nó là Yungdrung Bön, tức Bön vĩnh cửu, và tin rằng nó do Tonpa Shenrab Miwoche truyền dạy, một vị Phật riêng mà truyền thống đặt vào năm 16017 trước Công nguyên. Bön có kinh điển chừng ba trăm tập, có tu viện, có tăng sĩ, có hệ giáo pháp chín thừa mà đỉnh cao là Dzogchen. Dấu hiệu dễ nhận nhất là người Bön đi nhiễu ngược chiều kim đồng hồ và dùng chữ vạn xoay ngược chiều.

Đạo Bön và Phật Giáo Tây Tạng khác nhau thế nào

Hai đạo giống nhau ở khung lớn: luân hồi, nghiệp, giác ngộ, tu viện, mật pháp, Dzogchen. Chỗ khác nằm ở vị tổ, người Bön quy y Tonpa Shenrab còn người Phật Giáo quy y Đức Phật Thích Ca, ở kinh điển riêng, ở chiều đi nhiễu và chiều chữ vạn ngược nhau, ở câu chú, và ở cách chia giáo pháp thành chín thừa trong đó bốn thừa đầu dành cho bói toán, cầu an, hóa giải và tang lễ. Giới học giả còn bàn về quan hệ giữa hai đạo, nhưng đều ghi nhận rằng chúng đã vay mượn của nhau theo cả hai chiều.

Chữ vạn của đạo Bön có phải chữ vạn của Đức Quốc Xã không

Không. Chữ vạn của Bön gọi là yungdrung, nghĩa là vĩnh cửu, bất hoại, một chữ đã có trên cao nguyên Tây Tạng từ trước khi Phật Giáo tới. Nó đặt thẳng và xoay ngược chiều kim đồng hồ, khớp với chiều đi nhiễu của người Bön. Dấu hiệu của Đảng Quốc Xã Đức, gọi là Hakenkreuz, dựng nghiêng bốn mươi lăm độ, xoay theo chiều kim đồng hồ, tô màu đen trong vòng tròn trắng trên nền cờ đỏ. Hai hình khác nhau ở góc đặt, ở chiều, ở màu, ở khung cảnh, và khác hoàn toàn ở ý nghĩa.

Tonpa Shenrab là ai

Tonpa Shenrab Miwoche là bậc khai sáng đạo Bön. Theo các bộ tiểu sử của Bön, ngài sinh ra ở vùng đất Olmo Lungring, sống đời vương tử, có gia đình, xuất gia năm ba mươi mốt tuổi, chỉ tới Tây Tạng một lần khi đuổi theo đàn ngựa bị đánh cắp, và mất năm tám mươi hai tuổi. Niên đại chuẩn của Bön đặt năm sinh của ngài vào 16017 trước Công nguyên, một phép tính khác ghi 20995 trước Công nguyên. Sử học chưa có tài liệu độc lập nào ngoài văn bản Bön xác nhận ngài là nhân vật lịch sử.

Đạo Bön có bao nhiêu tín đồ

Không có phép đếm đáng tin. Con số được dẫn nhiều nhất là tới khoảng 400.000 người trên toàn cao nguyên Tây Tạng, là ước tính của một số học giả được nhiều báo cáo về tôn giáo trên thế giới dẫn lại từ năm 2012. Pew Research Center, báo cáo tháng 6 năm 2025 với số liệu mốc 2020, không tách Bön thành mục riêng. Phép đếm khó vì chữ Bön có nhiều nghĩa, vì người Bön và người Phật Giáo cùng sống trong một lớp tín ngưỡng dân gian, và vì nhiều gia đình mời thầy của cả hai đạo.

Vì sao người Bön đi quanh núi Kailash ngược chiều kim đồng hồ

Vì đó là chiều đi nhiễu của Bön, chiều mà người Bön coi là chiều tẩy sạch, và nó khớp với chiều xoay của hình yungdrung, biểu tượng của đạo. Người Phật Giáo Tây Tạng và người Ấn Độ Giáo đi quanh Kailash theo chiều kim đồng hồ, nên trên cùng vòng nhiễu dài chừng 52 tới 53 cây số, người hành hương hai bên đi ngược mặt nhau. Với người Bön, Kailash là tâm điểm của vùng Zhangzhung, nơi Tonpa Shenrab đã tới, và có văn bản còn đồng nhất nó với ngọn núi chín tầng Yungdrung Gutseg.

Đạo Bön có ở Việt Nam không

Không. Thư viện không tìm thấy tổ chức hay cơ sở thờ tự nào của đạo Bön tại Việt Nam. Theo số liệu Ban Tôn giáo Chính phủ công bố ngày 01 tháng 8 năm 2025, Việt Nam công nhận 16 tôn giáo với 43 tổ chức tôn giáo được cấp đăng ký hoạt động, trong đó không có Bön. Ngoài cao nguyên Tây Tạng, Bön có mặt ở Ấn Độ với tu viện Menri tại Dolanji, ở Nepal với tu viện Triten Norbutse tại Kathmandu và các làng vùng Dolpo, Mustang, cùng một số trung tâm tu học ở châu Âu và châu Mỹ.

Đọc Tiếp