ITrước Khi Đọc
Trong nếp nhà người Việt xưa, bên cạnh bàn thờ gia tiên đặt trang trọng ở gian giữa với bát hương trầm ấm khói, mỗi tối sau bữa cơm sum họp dưới ngọn đèn dầu lạc, ông bà và cha mẹ thường mở những cuốn sách chữ Nôm in giấy bản mỏng để ngâm nga dạy con cháu đạo làm người. Giữa tiếng gió đêm ngoài hiên, giọng ngâm lục bát trầm bổng cất lên: Tự bấy nay một nhà sum họp, ngọn đèn khuya khuyên nhủ đôi lời. Làm người ở dưới gầm trời, trước là báo hiếu, sau thời lập thân. Những vần thơ mộc mạc mà thấm vào máu thịt ấy chính là Gia Huấn Ca, khúc ca gia giáo nuôi dưỡng cội nguồn của tín ngưỡng Thờ Cúng Tổ Tiên trên đất Việt.
Hai chữ Gia Huấn nghĩa là lời dạy bảo trong nhà; Gia Huấn Ca là bài ca khuyên răn con cháu giữ gìn đạo lý gia đình. Nếu như Hiếu Kinh hay Luận Ngữ (Thiên Học Nhi) được viết bằng chữ Hán cô đọng dành cho người đi học ở trường ốc và trường thi, còn Thọ Mai Gia Lễ là cuốn cẩm nang tra cứu nghi tiết tang tế dành cho bậc trưởng tộc và người chủ lễ, thì Gia Huấn Ca chuyển hóa toàn bộ tinh thần hiếu đễ ấy sang thể thơ lục bát tiếng Việt. Nhờ vần điệu sáu tám nhịp nhàng như lời ru của mẹ, cả những người phụ nữ tảo tần nơi thôn dã hay những đứa trẻ chưa kịp đọc thông Tứ Thư Ngũ Kinh cũng có thể nghe một lần là thuộc, nhớ suốt một đời.
Mạch cảm xúc của khúc ca dạy đạo hiếu trong Gia Huấn Ca không bắt đầu bằng những mệnh lệnh khô khan, mà bắt đầu từ sự thức tỉnh lòng biết ơn trước nỗi nhọc nhằn cụ thể của cha mẹ: từ chín tháng cưu mang nặng nhọc, ba năm bú mớm nâng niu, mẹ nhận phần chiếu ướt nhường chỗ ráo cho con nằm, cha đội nắng dầm sương dành miếng ngon cho con ăn, tới cảnh đêm khuya con đau ốm cha mẹ đứng ngồi không yên khấn vái thần minh. Từ lòng xót thương khi thấy tóc mẹ đã bạc, lưng cha đã còng, bài ca dẫn người con đi trọn hai nửa của đạo hiếu Việt Nam: lúc cha mẹ còn tại thế thì sớm khuya định tỉnh, quạt nồng ấp lạnh, vâng lời thuận ý; lúc cha mẹ trăm tuổi quy tiên thì lo tang lễ chu đáo, bốn mùa tuế sự khói hương trước bàn thần chủ và anh em trên thuận dưới hòa để giữ vẹn phúc ấm tổ tông.
Trang này giới thiệu trọn vẹn ba mươi hai câu thơ lục bát (mười sáu cặp sáu tám) mở đầu mạch đạo hiếu trong Gia Huấn Ca, đặt cạnh lời diễn giải bằng tiếng Việt hiện đại và bản dịch tiếng Anh từng câu, kèm bảng khảo chứng lịch sử văn bản và phân tích tám điển tích sinh thành phụng dưỡng.
Trong tâm thức tín ngưỡng gia tiên của người Việt, Gia Huấn Ca làm sáng tỏ một chân lý cốt tử: thờ cúng tổ tiên trên bàn thờ và hiếu kính cha mẹ lúc còn sống không phải là hai việc tách rời, mà là hai chặng nối tiếp của cùng một dòng hiếu đạo.
Người xưa tổng kết bằng bốn chữ sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn (thờ người đã khuất như phụng dưỡng lúc còn sống, thờ người đã mất như lúc người ấy hãy còn hiện diện). Nếu lúc cha mẹ còn sống mà con cái ngang ngược cãi lời, để cha mẹ đói rét tủi buồn, thì tới khi cha mẹ qua đời dẫu có bày mâm cao cỗ đầy, đốt vàng mã chất như núi cũng chỉ là lễ nghi rỗng tuếch trước mắt thế gian. Ngược lại, chính người con biết quạt nồng ấp lạnh, biết cúi đầu vâng lĩnh lời cha mẹ dạy lúc sinh thời, thì khi cha mẹ khuất bóng mới thực sự có tấm lòng thành kính trước bàn thần chủ kính dường như sinh vào mỗi dịp sóc vọng, giỗ chạp và bốn mùa tuế sự. Hơn nữa, bài ca chỉ rõ của lễ quý giá nhất dâng lên tổ tiên không phải là mâm cỗ sang giàu, mà là cảnh anh cùng em đồng tình cốt nhục, một nhà trên thuận dưới vui đứng trước hương án.
Về mặt lịch sử văn bản học, Gia Huấn Ca là một trong những tác phẩm thơ Nôm có quá trình lưu truyền và hiệu đính phong phú bậc nhất của văn học cổ điển Việt Nam. Các bản in ván khắc chữ Nôm thế kỷ mười chín (như bản khắc của hiệu Phúc Văn Đường và Quan Văn Đường tại Hà Nội) cùng bản phiên âm Quốc ngữ sớm nhất của Đinh Thái Sơn in tại Sài Gòn đầu thế kỷ hai mươi đều ghi dòng đề tựa Lê triều Nguyễn Tướng công Gia huấn ca,quy tác giả cho Nguyễn Trãi (1380 tới 1442, hiệu Ức Trai, bậc khai quốc công thần triều Lê sơ được thờ tại Đền thờ Nguyễn Trãi ở Côn Sơn, Hải Phòng, tức Chí Linh, Hải Dương cũ). Một số truyền bản khác lại ghi tên Trần Hy Tăng hoặc danh sĩ Lý Văn Phức (1785 tới 1849, người làng Hồ Khẩu, Hà Nội) là người biên soạn hoặc nhuận sắc.
Trong các công trình khảo chứng đầu thế kỷ hai mươi, các học giả Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Nguyễn Văn Tố và Dương Quảng Hàm (trong chương bàn về Nguyễn Trãi của bộ Việt Nam văn học sử yếu, 1943) đã đối chiếu ngôn ngữ của Gia Huấn Ca với tập Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi. Giới nghiên cứu nhận thấy trong khi Quốc Âm Thi Tập dùng nhiều từ Việt cổ thế kỷ mười lăm và thể thơ Đường luật xen lục ngôn rất cổ kính, thì lời thơ lục bát của Gia Huấn Ca lại trôi chảy, mượt mà theo phong cách ngôn ngữ thế kỷ mười bảy tới thế kỷ mười chín. Do đó, kết luận khoa học được đồng thuận rộng rãi là: hạt nhân tư tưởng gia huấn có thể bắt nguồn từ truyền thống gia giáo thời Lê sơ gắn với uy danh của Nguyễn Trãi, sau đó được các thế hệ nho sĩ bình dân truyền tụng, gọt giũa và bổ sung qua nhiều thế kỷ trước khi định hình thành bản in sáu khúc ca lưu hành khắp ba miền.
IILời Thơ Gia Huấn Ca: Ba Mươi Hai Câu Mở Đầu Về Đạo Hiếu Và Khảo Dị
Đoạn trích dưới đây gồm mười sáu cặp thơ lục bát (ba mươi hai câu) mở đầu khúc ca răn dạy đạo làm con trong Gia Huấn Ca. Theo đúng luật thơ lục bát cổ truyền của dân tộc, chữ thứ sáu của câu lục hiệp vần bằng với chữ thứ sáu của câu bát, rồi chữ thứ tám của câu bát lại gieo vần xuống chữ thứ sáu của câu lục kế tiếp, tạo nên dòng chảy liên hoàn không dứt. Cột đầu chép nguyên văn lời thơ Quốc âm cổ truyền, cột thứ hai diễn nghĩa bằng lời thường ngày và cột thứ ba là bản dịch tiếng Anh của thư viện.
| Câu | Nguyên văn Quốc âm | Nghĩa bằng lời thường | Tiếng Anh |
|---|---|---|---|
| 1 | Tự bấy nay một nhà sum họp, | Từ bấy lâu nay đại gia đình ta được quây quần đoàn tụ dưới một mái nhà, | Gathered together through all these years under one family roof, |
| 2 | Ngọn đèn khuya khuyên nhủ đôi lời. | dưới ánh đèn đêm thanh vắng, cha mẹ đem đôi lời tâm huyết ra khuyên bảo các con. | by the late-night lamp we offer a few heartfelt words of counsel. |
| 3 | Làm người ở dưới gầm trời, | Đã mang thân làm người sống ở dưới vòm trời này, | To walk as a human being beneath the vault of heaven, |
| 4 | Trước là báo hiếu, sau thời lập thân. | việc trước tiên phải lo báo đáp công ơn cha mẹ, sau đó mới tới việc tu rèn gây dựng sự nghiệp cho bản thân. | first comes repaying parental grace in filial piety, and only after comes establishing oneself. |
| 5 | Công cha mẹ muôn phần sâu nặng, | Công lao của cha và mẹ đối với con cái sâu nặng tới muôn vàn, | The toil of father and mother is ten thousand times deep and weighty, |
| 6 | Nghĩa sinh thành sánh tằng non cao. | ân nghĩa sinh ra và nuôi nấng trưởng thành sánh ngang với núi cao biển rộng. | their grace in giving birth and nurturing us to maturity matches the lofty mountains. |
| 7 | Cưu mang chín tháng cồn cào, | Mẹ mang nặng trong bụng suốt chín tháng mười ngày với biết bao cơn nghén đau cồn cào, | Nine months of bearing the child in the womb through churning pangs, |
| 8 | Ba năm bú mớm biết bao nhọc nhằn. | rồi suốt ba năm đầu đời bế ẵm, cho bú sữa và mớm từng miếng cơm với muôn nỗi vất vả nhọc nhằn. | three years of nursing at the breast and feeding mouth to mouth through untold hardship. |
| 9 | Khi ướt ráo chỗ nằm mẹ chịu, | Đêm nằm chỗ chiếu ướt thì mẹ nhận phần nằm, nhường chỗ khô ráo ấm áp cho con ngủ, | Where the sleeping mat is wet, the mother takes the damp side and leaves the dry for her child; |
| 10 | Lúc nắng sương tay dìu cha nâng. | lúc ra ngoài gặp nắng gắt hay sương lạnh thì bàn tay cha dìu dắt, che chở nâng niu từng bước. | through scorching sun and chilly mist, the father's hands guide and lift every step. |
| 11 | Miếng ngon dành đút tới răng, | Có miếng ăn ngon lành cha mẹ đều nhịn miệng dành đút tận môi cho con, | Every choice morsel is saved and placed directly to the child's lips, |
| 12 | Chỗ lành nhường đắp, chỗ bằng nhường ngơi. | tấm chăn lành nhường đắp cho con ấm, chỗ phẳng phiu yên lành nhường cho con nằm nghỉ. | the whole quilt is yielded to cover the child, the smooth spot yielded for the child's rest. |
| 13 | Con đau ốm đứng ngồi chẳng tiện, | Mỗi khi con trái gió trở trời đau ốm, cha mẹ lo lắng đứng ngồi không yên, | Whenever the child falls ill, parents can neither stand nor sit in peace, |
| 14 | Cầu thần minh khấn nguyện đêm ngày. | suốt đêm ngày thành tâm cầu khẩn thần minh và tổ tiên phù hộ cho con mau khỏi bệnh. | praying day and night to the sacred spirits and ancestors for the child's recovery. |
| 15 | Nuôi con khôn lớn đến rầy, | Chắt chiu nuôi nấng cho tới ngày hôm nay con đã khôn lớn trưởng thành, | Nurturing the child until today when grown to full stature, |
| 16 | Mẹ già tóc bạc, cha gầy lưng cong. | thì mái đầu mẹ già đã bạc trắng như sương, còn tấm thân cha đã gầy guộc lưng còng. | the aged mother's hair has turned white as frost, the gaunt father's back has bowed. |
| 17 | Lấy chi báo đền xong ơn ấy, | Con cái biết lấy thứ gì trên đời mà đền đáp cho xuể ân đức sâu dày ấy, | Wherewith could a child ever repay such boundless grace in full? |
| 18 | Trông lên trời cao bấy nhiêu tầng. | ngước nhìn lên bầu trời cao thẳm không sao đo hết được tầng bậc bao la. | Look up at the high heavens stretching through uncounted tiers above. |
| 19 | Sớm khuya định tỉnh ân cần, | Bởi vậy mỗi buổi tối phải sửa soạn chăn chiếu cho cha mẹ ngủ yên, mỗi buổi sáng phải ân cần hỏi thăm sức khỏe, | Therefore at dusk and dawn settle their bed and inquire tenderly after their health, |
| 20 | Quạt nồng ấp lạnh giữ phần làm con. | mùa hè nóng nực thì quạt cho mát màn, mùa đông giá rét thì ấp chăn cho ấm, giữ trọn bổn phận người con. | fanning their pillow in summer heat and warming their quilt in winter cold to fulfill a child's part. |
| 21 | Khi cha mẹ hãy còn tại thế, | Trong những năm tháng cha mẹ hãy còn sống ở trên đời, | During the years while father and mother still abide in this world, |
| 22 | Vâng lời răn chớ trễ chớ xao. | mọi lời dạy bảo của cha mẹ phải kính cẩn vâng theo, chớ hề trễ nải hay xao nhãng. | obey their moral instruction without delay and without negligence. |
| 23 | Dẫu khi trách mắng tiếng cao, | Dẫu có lúc cha mẹ nóng giận mà nặng lời trách mắng, | Even when in displeasure they reprove you with raised voices, |
| 24 | Cúi đầu vâng lĩnh chớ nào thở than. | con cũng phải cúi đầu êm dịu đón nhận, tuyệt đối không được cãi lại hay oán trách thở than. | bow your head and receive it gently without a murmur of complaint. |
| 25 | Đến trăm tuổi quy tiên khuất bóng, | Tới ngày cha mẹ già trăm tuổi về cõi tiên khuất bóng, | When at a hundred years they return to the immortals and pass from sight, |
| 26 | Lễ tang ma hết bụng xót thương. | con cháu phải lo liệu lễ tang ma tống táng bằng cả tấm lòng đau xót chân thật. | conduct the funeral and mourning rites with a heart full of genuine grief. |
| 27 | Bốn mùa tuế sự khói hương, | Qua các kỳ lễ tiết bốn mùa trong năm và ngày kỵ giỗ đều giữ ấm làn khói hương, | Across the four seasons of annual sacrifices keep the incense smoke rising, |
| 28 | Trước bàn thần chủ kính dường như sinh. | đứng trước bài vị thần chủ trên bàn thờ gia tiên mà cung kính y như lúc cha mẹ còn đang sống. | standing before the ancestral spirit tablet with reverence just as when they were alive. |
| 29 | Anh cùng em đồng tình cốt nhục, | Anh chị em trong nhà vốn cùng chung một bọc máu mủ ruột rà của cha mẹ sinh ra, | Older and younger siblings share one heart, one bone and one flesh; |
| 30 | Chớ nghe lời ngang ngược chia phôi. | đừng bao giờ nghe theo lời xúi giục ngang trái bên ngoài mà chia lìa bất hòa với nhau. | never heed perverse outside words that would drive you apart. |
| 31 | Một nhà trên thuận dưới vui, | Cả một gia đình trên biết nhường dưới, dưới biết kính trên, thuận hòa vui vẻ, | A single household harmonious above and joyful below: |
| 32 | Ấy là phúc ấm để đời mai sau. | đó chính là cái gốc phúc đức tốt lành để lại cho con cháu muôn đời mai sau. | that is the sheltering ancestral blessing bequeathed to generations to come. |
Bảng đối chiếu từ cổ chữ Nôm, các bản in Quốc ngữ và điển tích kinh điển
Do Gia Huấn Ca được chép bằng chữ Nôm và truyền tụng bằng miệng qua nhiều vùng quê từ Bắc Bộ vào Nam Bộ suốt nhiều thế kỷ, các bản khắc ván và các bản phiên âm Quốc ngữ đầu thế kỷ hai mươi có một số biến âm và từ cổ rất đáng chú ý. Bảng dưới đây khảo chứng các vị trí quan trọng nhất.
| Câu thơ | Bản hiệu đính trên trang này | Các bản Nôm và Quốc ngữ khác | Giải nghĩa từ cổ và nguồn điển tích |
|---|---|---|---|
| Câu 1, 6 | Tự bấy nay và sánh tằng non cao | Một số bản Quốc ngữ hiện đại đổi thành Từ bấy nay và sánh bằng non cao. | Tự là giới từ Hán Việt cổ (từ lúc). Tằng là từ Việt cổ trong văn Nôm thế kỷ XV tới XVIII nghĩa là từng bậc, ngang bằng (như trong Quốc Âm Thi Tập và Truyện Kiều). |
| Câu 7, 8 | Cưu mang chín tháng cồn cào, Ba năm bú mớm biết bao nhọc nhằn | Có bản dân gian truyền khẩu hát thành Chín tháng cưu mang nặng nề, Ba năm nhũ bộ biết bề nào xong. | Việt hóa trực tiếp câu Tam niên miễn ư phụ mẫu chi hoài trong Luận Ngữ (chương 17.21) và điển tích Thập nguyệt hoài thai, tam niên nhũ bộ trong kinh văn báo hiếu. |
| Câu 9, 11 | Khi ướt ráo chỗ nằm mẹ chịu và Miếng ngon dành đút tới răng | Các sách gia huấn Hán Nôm đối ứng với bốn chữ Hồi nhũ bộ càn và Thổ cam nhường vị. | Điển tích Vĩnh ướt nhường ráo (chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo nhường con) và nhả ngọt nuốt đắng trong Kinh Báo Ân Phụ Mẫu cùng ca khúc Lục Nga của Kinh Thi. |
| Câu 15, 18 | Nuôi con khôn lớn đến rầy và Trông lên trời cao bấy nhiêu tầng | Bản in Sài Gòn đọc đến rày. Câu 18 đối ứng câu thơ cổ Hạo thiên võng cực. | Đến rầy (hoặc đến rày) là từ cổ chỉ tới ngày hôm nay. Câu 18 dịch thoát bốn chữ Dục báo chi đức, hạo thiên võng cực (Muốn đền đáp công đức ấy, trời cao rộng không cùng) trong bài thơ Lục Nga. |
| Câu 19, 20 | Sớm khuya định tỉnh ân cần, Quạt nồng ấp lạnh giữ phần làm con | Mọi bản khắc Nôm và Quốc ngữ đều giữ nguyên bốn chữ định tỉnh và quạt nồng ấp lạnh. | Rút từ thiên Khúc Lễ Thượng sách Lễ Ký (Hôn định nhi thần tỉnh, đông ôn nhi hạ sảnh) và tích cậu bé Hoàng Hương chín tuổi quạt màn mùa hè, ấp chăn mùa đông cho cha trong Nhị Thập Tứ Hiếu. |
| Câu 27, 28 | Bốn mùa tuế sự khói hương, Trước bàn thần chủ kính dường như sinh | Có bản chép Bốn mùa tiết tự khói hương hoặc Trước ngôi thần chủ. | Tuế sự là các việc lễ cúng theo mùa tiết và ngày kỵ trong năm. Thần chủ là tấm bài vị gỗ thờ tổ tiên trên bàn thờ; kính dường như sinh dịch câu Sự tử như sự sinh trong sách Trung Dung và Lễ Ký. |
IIIGiải Nghĩa Chi Tiết Tám Đoạn Thơ Và Điển Tích Đạo Hiếu
Ba mươi hai câu thơ lục bát chia thành tám đoạn bốn câu (mỗi đoạn hai cặp sáu tám), đi theo một trình tự tâm lý và nghi lễ hoàn chỉnh: từ khung cảnh khuyên con dưới đèn khuya, nhớ công ơn sinh dưỡng, thương tuổi già cha mẹ, tới phép phụng dưỡng lúc sinh thời, lễ tang tế lúc qua đời và sự hòa thuận anh em. Tám mục dưới đây giải nghĩa từng đoạn.
Bốn câu mở đầu dựng lên khung cảnh truyền thống của mọi bài gia huấn Việt Nam: không phải chốn công đường nghiêm khắc, mà là lúc một nhà sum họp dưới ngọn đèn khuya ấm cúng. Trong không gian thân mật ấy, lời dạy bảo không mang tính áp đặt từ trên xuống mà là tiếng tâm tình khuyên nhủ đôi lời giữa cha mẹ và con cái.
Câu thứ ba và thứ tư xác lập ngay thứ tự ưu tiên tối thượng của đạo làm người: Trước là báo hiếu, sau thời lập thân. Cách đặt báo hiếu đứng trước lập thân nối thẳng mạch tư tưởng chương mở đầu Hiếu Kinh (Phù hiếu, đức chi bản dã, giáo chi sở do sinh dã... Thủy ư sự thân, trung ư sự quân, chung ư lập thân): một con người dù tài giỏi công danh tới đâu mà quên mất gốc rễ sinh ra mình thì mọi sự nghiệp bên ngoài đều đứng trên cát; biết báo hiếu cha mẹ chính là viên gạch đầu tiên để lập thân vững bền.
Đoạn thứ hai giải thích vì sao chữ Hiếu lại đứng đầu trăm nết: bởi công cha và nghĩa mẹ là món nợ ân tình lớn nhất mà mỗi sinh mệnh nhận lãnh ngay từ trước khi cất tiếng khóc chào đời. Hai chữ sinh thành gộp cả ơn sinh (mang nặng đẻ đau cho hình hài) lẫn ơn thành (nuôi dạy nên vóc nên người), được sánh ngang với núi cao biển rộng (tương ứng với câu ca dao quen thuộc Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra).
Hai câu sau khắc họa hai con số thời gian khắc cốt ghi tâm trong văn hóa Á Đông: chín tháng cưu mang (chín tháng mười ngày mang thai với bao cơn ốm nghén cồn cào rút ruột của người mẹ) và ba năm bú mớm (ba năm đầu đời đứa trẻ hoàn toàn sống nhờ dòng sữa mẹ, miếng cơm nhai mớm và vòng tay ẵm bồng). Trong Luận Ngữ (chương Dương Hóa 17.21), chính Khổng Tử đã lấy mốc ba năm đứa trẻ mới rời khỏi vòng tay ẵm bồng của cha mẹ để giải thích vì sao người con hiếu phải giữ lễ để tang cha mẹ suốt ba năm.
Đoạn thứ ba là những câu thơ giàu hình ảnh thực tế và xúc động bậc nhất của bài ca, chuyển hóa chín chữ Cửu cù lao (chín nỗi nhọc nhằn của cha mẹ) trong thiên Tiểu Nhã · Lục Nga của Kinh Thi (Sinh ngã, cúc ngã, phủ ngã, súc ngã, trưởng ngã, dục ngã, cố ngã, phục ngã, phúc ngã xuất nhập: sinh ta, nâng đỡ ta, vỗ về ta, nuôi bú ta, làm cho ta lớn, dạy dỗ ta, ngoảnh trông ta, quay lại nhìn ta, che chở ôm ấp mỗi khi ta ra vào) cùng mười ân đức trong kinh báo hiếu thành cảnh sống của một mái nhà thôn quê Việt Nam.
Đêm đông giá lạnh khi đứa con nhỏ đái dầm làm ướt chiếu, người mẹ lặng lẽ dịch mình sang nằm đè lên chỗ chiếu ướt lạnh ấy (khi ướt ráo chỗ nằm mẹ chịu, chữ cổ gọi là thôi can tựu thấp), nhường phần chiếu khô ráo ấm áp cho con ngủ say. Ban ngày ra đường gặp nắng lửa hay sương muối, bàn tay người cha che đầu dìu bước nâng đỡ con. Trong bữa ăn nghèo khó, có miếng ngon cha mẹ nhịn miệng đút tới tận răng cho con; đêm nằm tấm chăn lành nhường con đắp, chỗ giường phẳng nhường con nghỉ. Không có một chữ triết lý cao siêu nào, chỉ có những chi tiết đời thường ai từng làm cha mẹ đọc lên cũng rơi nước mắt.
Đoạn thứ tư đẩy mạch cảm xúc lên đỉnh điểm qua sự đối lập giữa nỗi lo của cha mẹ lúc con đau ốm và sự hao mòn của thân xác cha mẹ theo năm tháng. Khi đứa con lên cơn sốt hay đau bệnh, cha mẹ bồn chồn đứng ngồi chẳng tiện (ăn không ngon, ngủ không yên), đêm ngày thắp hương cầu khẩn thần minh và gia tiên, sẵn sàng xin chịu đau thay cho con.
Câu mười lăm và mười sáu tạo nên một bức họa đối xứng nghẹn ngào: Nuôi con khôn lớn đến rầy, Mẹ già tóc bạc, cha gầy lưng cong. Sinh lực, máu huyết và tuổi xuân của cha mẹ đã rót hết sang để đổi lấy vóc dáng trưởng thành của người con hôm nay (đến rầy); con càng lớn khôn khỏe mạnh bao nhiêu thì tóc mẹ càng bạc trắng, lưng cha càng còng gập xuống bấy nhiêu.
Đứng trước mái tóc bạc của mẹ và tấm lưng còng của cha, đoạn thứ năm mở đầu bằng tiếng than tự vấn rút từ câu kết bài thơ Lục Nga trong Kinh Thi: Lấy chi báo đền xong ơn ấy, Trông lên trời cao bấy nhiêu tầng (Dục báo chi đức, hạo thiên võng cực: muốn đền đáp công đức sinh thành ấy, ngước nhìn lên bầu trời mênh mông chín tầng không có chỗ cùng tận).
Tuy ân đức cha mẹ sâu rộng như trời không sao trả hết, người con không vì thế mà khoanh tay, trái lại phải bắt đầu ngay từ những việc phụng dưỡng ân cần mỗi ngày qua hai điển tích nổi tiếng nhất của sách Lễ Ký (thiên Khúc Lễ Thượng): định tỉnh và ôn sảnh (quạt nồng ấp lạnh). Định là buổi tối (hôn định) vào trải chiếu, buông màn, đỡ cha mẹ nằm xuống yên giấc rồi mới lui ra; tỉnh là buổi sáng sớm (thần tỉnh) vào vấn an xem đêm qua cha mẹ ngủ có ngon không, trong người có khỏe không. Còn quạt nồng ấp lạnh (đông ôn nhi hạ sảnh) gắn với tấm gương hiếu thảo của cậu bé Hoàng Hương đời Đông Hán (một trong Nhị thập tứ hiếu): mẹ mất sớm lúc lên chín tuổi, mùa hè trời nóng bức Hoàng Hương lấy quạt quạt cho chiếu gối của cha mát hẳn rồi mới mời cha vào nằm; mùa đông giá buốt cậu cởi áo chui vào chăn nằm trước để lấy hơi ấm cơ thể mình sưởi ấm chăn chiếu rồi mới rước cha vào nghỉ.
Nếu đoạn năm bàn về việc nuôi dưỡng thể xác (dưỡng thể), thì đoạn sáu tiến lên tầng cao hơn là dưỡng chí và giữ trọn sắc mặt hòa thuận (sắc nan, như Khổng Tử dạy Tử Hạ ở chương 2.8 sách Luận Ngữ: điều khó nhất trong đạo hiếu không phải là làm lụng nuôi cha mẹ, mà là luôn giữ được nét mặt kính yêu êm dịu trước cha mẹ).
Khi cha mẹ còn sống ở trên đời (hãy còn tại thế), mọi lời dạy bảo răn nhắc điều ngay lẽ phải người con đều phải vâng làm ngay, không trễ nải lơ là (chớ trễ chớ xao). Thử thách lớn nhất của thái độ hiếu kính nằm ở lúc cha mẹ tuổi già trái tính hoặc hiểu lầm mà trách mắng tiếng cao: người con hiếu không bao giờ trợn mắt cãi lý hay hầm hầm bỏ đi, mà cúi đầu vâng lĩnh chớ nào thở than, đợi khi cơn giận của cha mẹ đã nguôi mới nhỏ nhẹ thưa trình giải bày như lời Tăng Tử dạy trong sách Lễ Ký · Nội Tắc.
Đoạn thứ bảy chuyển từ đạo hiếu lúc cha mẹ còn sống sang nghi lễ tang tế và thờ cúng tổ tiên khi cha mẹ qua đời, khớp nối hoàn toàn với câu Thận chung truy viễn trong Luận Ngữ và quy phạm trong Thọ Mai Gia Lễ. Cách gọi giảm tránh đầy kính trọng của người Việt đối với cái chết của cha mẹ là trăm tuổi quy tiên khuất bóng (về cõi tiên). Trong việc lễ tang ma, bài ca không đòi hỏi làm cỗ bàn linh đình khoe khoang với làng xóm, mà đòi hỏi hết bụng xót thương (đúng như lời Khổng Tử dạy Lâm Phóng ở chương 3.4 Luận Ngữ: trong lễ tang, lòng đau xót chân thật quý hơn sự bày vẽ nghi vật).
Sau khi mãn tang rước bài vị lên bàn thờ gia tiên, bổn phận của người con chuyển sang việc bốn mùa tuế sự khói hương: giữ đều đặn các lễ tế bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông, ngày sóc vọng mùng một hôm rằm, lễ Tết Nguyên Đán và ngày kỵ giỗ hằng năm. Câu 28 (Trước bàn thần chủ kính dường như sinh) đúc kết trọn vẹn linh hồn của bàn thờ người Việt: thần chủ là tấm bài vị (hoặc di ảnh) của cha mẹ và tổ tiên; mỗi khi đứng chắp tay trước bàn thờ dâng chén nước, nén nhang, người con phải giữ lòng cung kính, ấm áp y như thể cha mẹ đang ngồi ngay trước mắt mình (tế thần như thần tại, sự tử như sự sinh).
Đoạn thứ tám khép lại mạch thơ bằng việc nối chữ Hiếu (với cha mẹ, tổ tiên) sang chữ Đễ (hòa mục giữa anh chị em ruột thịt). Cốt nhục nghĩa đen là xương và thịt: anh chị em tuy khác hình hài nhưng đều cùng chia sẻ xương thịt và dòng máu của cha mẹ truyền lại (cổ nhân gọi là đồng khí liên chi, cùng một khí, liền một cành). Nỗi đau lòng lớn nhất của cha mẹ lúc sống cũng như hương linh tổ tiên nơi chín suối là cảnh con cái vì tranh giành của cải hay nghe lời dèm pha bên ngoài (lời ngang ngược) mà chia lìa, kiện tụng, từ mặt nhau.
Bởi vậy, giữ cho một nhà trên thuận dưới vui (anh chị biết nhường nhịn che chở em, em biết kính trọng vâng lời anh chị, dâu rể thuận hòa) chính là nén tâm hương thơm ngát nhất dâng lên bàn thờ tổ tiên, đồng thời tạo nên nguồn phúc ấm (bóng mát phúc đức của tổ tông) che chở cho con cháu muôn đời mai sau.
IVCấu Trúc Sáu Khúc Ca Trong Trọn Bộ Gia Huấn Ca Và Triết Lý Gia Phong Việt
Ba mươi hai câu thơ vừa đọc là phần cốt tủy mở đầu cho toàn bộ chỉnh thể Gia Huấn Ca. Trong các bản khắc ván Nôm đầy đủ (như bản Phúc Văn Đường và bản phiên âm Quốc ngữ của Đinh Thái Sơn gồm 796 câu chia làm sáu khúc ca liên hoàn), tác phẩm mở rộng từ đạo hiếu làm con ra toàn bộ các mối quan hệ trong gia đình và ngoài xã hội.
Nhìn vào cấu trúc sáu khúc ca của trọn bộ Gia Huấn Ca, người đọc thấy rõ cách ông cha ta vận dụng tư tưởng Tu thân · Tề gia của Nho học vào điều kiện thực tế của gia đình nông nghiệp và khoa cử Việt Nam. Khác với các bộ sách gia lễ chữ Hán vốn chỉ người biết chữ Hán mới đọc được, Gia Huấn Ca phân chia từng đối tượng cụ thể trong nhà để khuyên nhủ bằng lời thơ lục bát xen song thất lục bát: có khúc dành riêng khuyên người con hiếu học giữ mình, có khúc dạy người con gái và người vợ giữ công dung ngôn hạnh và phép thờ cha mẹ chồng, có khúc dạy cách cư xử giữa anh em, họ hàng, bầu bạn và làng nước. Tất cả sáu khúc đều xoay quanh một trục tâm linh duy nhất: mọi hành vi tốt xấu của con cháu ở ngoài đời đều làm rạng danh hoặc làm tủi hổ hương linh tổ tiên nơi bàn thờ.
| Khúc ca | Chủ đề gia huấn | Đối tượng khuyên nhủ chính | Nội dung cốt lõi và mối liên hệ với bàn thờ tổ tiên |
|---|---|---|---|
| Khúc I | Đạo làm con và công ơn sinh thành | Con trai, con gái và toàn thể con cháu trong nhà | Nhớ ơn chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm; phụng dưỡng định tỉnh, quạt nồng ấp lạnh lúc cha mẹ sống; giữ trọn tang lễ, bốn mùa tuế sự khói hương trước bàn thần chủ khi cha mẹ khuất. |
| Khúc II | Đạo người con gái và người vợ hiền | Con gái trước khi xuất giá và người phụ nữ trong gia đình | Rèn luyện tứ đức (công, dung, ngôn, hạnh), giữ lòng trinh thuận, hiếu thảo với cha mẹ đẻ và hết lòng phụng sự cha mẹ chồng cùng lo việc giỗ chạp nhà chồng. |
| Khúc III | Đạo vợ chồng nghĩa trọng tình thâm | Các cặp vợ chồng trẻ trong đại gia đình | Vợ chồng tương kính như tân, đồng cam cộng khổ dựng xây cơ nghiệp, tránh xa thói trăng hoa cờ bạc làm tan nát gia phong và đứt nối dòng hương hỏa. |
| Khúc IV | Đạo dạy con từ thuở còn thơ | Các bậc làm cha, làm mẹ | Nuôi con phải đi đôi với dạy lễ nghĩa từ lúc lên năm lên bảy (dưỡng bất giáo, phụ chi quá), không nuông chiều làm hư con, hướng con vào đường học hành nhân nghĩa. |
| Khúc V | Đạo anh em, họ hàng và chọn bạn | Anh chị em ruột thịt và con cháu trong tộc họ | Anh em hòa thuận như tay chân, không vì lời nói ra vào hay tài sản mà chia rẽ; giữ nghĩa cửu tộc họ hàng và chọn bạn hiền mà chơi. |
| Khúc VI | Đạo xử thế, tích thiện và phúc ấm | Chủ gia đình và người trưởng thành | Ở đời giữ chữ trung tín, thương người nghèo khó, làm việc thiện tích âm đức (tích thiện chi gia tất hữu dư khánh) để lưu truyền phúc ấm cho con cháu mai sau. |
VTừ Lời Ca Đêm Khuya Tới Bàn Thờ Gia Tiên Và Nếp Nhà Người Việt
Suốt từ thế kỷ mười bảy, mười tám cho tới nửa đầu thế kỷ hai mươi, Gia Huấn Ca không nằm yên trên giá sách của các bậc khoa bảng mà sống ngay trong sinh hoạt thường nhật của các gia đình Việt từ đồng bằng Bắc Bộ qua miền Trung tới lục tỉnh Nam Kỳ. Tại các lớp học vỡ lòng của thầy đồ làng và trong các buổi tối quây quần bên hiên nhà, Gia Huấn Ca hợp cùng bản diễn Nôm Nhị Thập Tứ Hiếu của Lý Văn Phức và bộ Thọ Mai Gia Lễ của Hồ Sĩ Tân tạo thành bộ ba sách gối đầu giường về đạo hiếu của người Việt.
Khảo sát các thư mục sách Hán Nôm và sách Quốc ngữ in tại Hà Nội, Huế và Sài Gòn giai đoạn 1880 tới 1945 tại Thư viện Quốc gia Việt Nam cho thấy sức lan tỏa đặc biệt của Gia Huấn Ca. Ngay khi chữ Quốc ngữ vừa bắt đầu phổ biến ở Nam Kỳ cuối thế kỷ mười chín, các nhà trí thức tiên phong như Trương Vĩnh Ký, Huình Tịnh Của và Đinh Thái Sơn đã ưu tiên phiên âm và in Gia Huấn Ca thành sách bỏ túi để các gia đình đọc dạy con cháu. Tại miền Bắc, các hiệu sách dọc phố Hàng Gai, Hàng Bồ (Hà Nội) vừa tiếp tục in ván khắc chữ Nôm vừa in bản Quốc ngữ với số lượng hàng vạn bản.
Không chỉ dừng ở sách in, nhiều cặp câu lục bát trong Gia Huấn Ca về công ơn cha mẹ đã tách khỏi văn bản viết để hòa vào kho tàng ca dao, dân ca và hát ru khắp ba miền, đồng thời được trích dẫn trang trọng trong các bài văn tế, văn khấn gia tiên vào dịp lễ Vu Lan rằm tháng Bảy, lễ Thượng thọ mừng tuổi ông bà và ngày Cát kỵ giỗ cha mẹ. Tinh thần trước là báo hiếu, sau thời lập thân và trước bàn thần chủ kính dường như sinh cũng hiện diện sống động tại các không gian thờ tự lớn của dân tộc như Đền Hùng (Phú Thọ) hay khu tưởng niệm danh nhân Đền thờ Nguyễn Trãi tại Côn Sơn.
Trước khi có hệ thống trường học hiện đại, trẻ em và phụ nữ trong nhà học đạo lý làm người qua tiếng ngâm lục bát Gia Huấn Ca của ông bà, cha mẹ bên ngọn đèn dầu mỗi tối.
Những câu thơ về định tỉnh sớm khuya, quạt nồng ấp lạnh trở thành chuẩn mực đánh giá lòng hiếu thảo của con cháu khi phụng dưỡng cha mẹ già yếu tại gia.
Hai câu 'Lễ tang ma hết bụng xót thương' và 'Trước bàn thần chủ kính dường như sinh' nhắc nhở con cháu lấy lòng thành kính thật sự làm gốc thay vì chạy theo mâm cao cỗ đầy hình thức.
Lời răn 'Anh cùng em đồng tình cốt nhục, chớ nghe lời ngang ngược chia phôi' thường được các bậc tộc trưởng đọc nhắc con cháu trong ngày họp họ và giỗ tổ tại từ đường.
Hình ảnh chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm, nằm ướt nhường ráo từ Gia Huấn Ca đã thấm sâu vào ca dao ru con và lời văn khấn gia tiên truyền thống của mọi miền quê Việt.
VINhững Chỗ Hay Hiểu Lầm Khi Đọc Gia Huấn Ca
Khi tiếp cận một tác phẩm gia giáo cổ truyền ra đời cách nay nhiều thế kỷ như Gia Huấn Ca, người đọc hiện đại cần phân biệt rõ bối cảnh lịch sử văn bản và giá trị cốt lõi để tránh năm hiểu lầm phổ biến dưới đây.
Mặc dù các bản khắc ván Nôm thế kỷ XIX đề tên Lê triều Nguyễn Tướng công Gia huấn ca để mượn uy vọng của Ức Trai Nguyễn Trãi, các nhà văn bản học từ Trần Trọng Kim, Dương Quảng Hàm tới Hoàng Xuân Hãn đều chỉ rõ thể thơ lục bát mượt mà của bản hiện hành mang đậm dấu ấn ngôn ngữ thế kỷ XVII tới XIX, là kết quả bồi đắp của nhiều thế hệ nho sĩ Việt Nam trên nền truyền thống gia giáo cổ.
Trong trọn bộ sáu khúc của Gia Huấn Ca, bên cạnh một số câu ở khúc dạy nữ công chịu ảnh hưởng quan niệm tam tòng thời phong kiến (vốn thuộc lớp lịch sử cũ cần lọc bỏ), phần mở đầu và trục chính của tác phẩm lại đề cao tình cảm gia đình tự nhiên, đặc biệt tôn vinh nỗi vất vả cưu mang bú mớm của người mẹ ngang hàng với công lao của người cha.
Trong truyền thống Nho học và gia giáo Việt Nam (đối chiếu Hiếu Kinh chương Gián Tranh và Lễ Ký · Nội Tắc), câu này dạy về thái độ lễ phép kiềm chế cơn tự ái khi bị cha mẹ quở trách lúc đang nóng giận; còn nếu cha mẹ có điều lầm lỗi trái đạo nghĩa, người con hiếu phải đợi lúc cha mẹ nguôi giận mà nhỏ nhẹ can gián (kiến gián) chứ không làm ngơ để cha mẹ mang tiếng bất nghĩa.
Gia Huấn Ca đặt hai việc ấy nằm chung trong một mạch thơ duy nhất: phụng dưỡng sớm khuya lúc cha mẹ tại thế và dâng hương bốn mùa trước bàn thần chủ khi cha mẹ quy tiên chỉ là hai hình thức biểu hiện của cùng một chữ Hiếu (sự tử như sự sinh).
Nhan Thị Gia Huấn (của Nhan Chi Thôi thời Bắc Tề) và Chu Tử Gia Huấn (của Chu Bách Lư đời Minh Thanh) là các văn bản tản văn và cách ngôn chữ Hán; còn Gia Huấn Ca là tác phẩm thơ Quốc âm (chữ Nôm) sáng tác bằng thể lục bát và song thất lục bát thuần Việt.
?Hỏi Đáp Nhanh
Gia Huấn Ca là tác phẩm của ai và ra đời vào thời kỳ nào
Theo dòng đề tựa trên nhiều bản khắc ván chữ Nôm thế kỷ XIX (Lê triều Nguyễn Tướng công Gia huấn ca), dân gian thường gắn tác phẩm này với danh thần Nguyễn Trãi (1380 tới 1442) hoặc ghi nhận sự nhuận sắc của Trần Hy Tăng và Lý Văn Phức (1785 tới 1849). Tuy nhiên, qua khảo cứu ngôn ngữ và thể thơ lục bát, các học giả văn học sử như Dương Quảng Hàm và Trần Trọng Kim xác định văn bản 796 câu hiện còn được hình thành và chau chuốt qua nhiều thế hệ nho sĩ Việt Nam từ khoảng thế kỷ XVII tới thế kỷ XIX.
Trọn bộ Gia Huấn Ca có độ dài bao nhiêu và gồm những phần nào
Trong các ấn bản khắc ván Nôm đầy đủ và bản phiên âm Quốc ngữ của Đinh Thái Sơn đầu thế kỷ XX, trọn bộ Gia Huấn Ca dài 796 câu thơ (chủ yếu làm bằng thể lục bát, có xen một số đoạn song thất lục bát), chia thành sáu khúc ca: dạy con đạo hiếu và lập thân, dạy con gái tứ đức và đạo làm dâu, dạy đạo vợ chồng, dạy cha mẹ cách giáo dục con từ nhỏ, dạy đạo anh em hòa thuận và dạy cách xử thế tích thiện để lại phúc ấm cho đời sau.
Hai chữ Định tỉnh và Quạt nồng ấp lạnh trong câu 19 và 20 có nguồn gốc từ đâu
Hai cụm từ này bắt nguồn từ thiên Khúc Lễ Thượng trong sách Lễ Ký: Phàm vi nhân tử chi lễ, đông ôn nhi hạ sảnh, hôn định nhi thần tỉnh (Phép làm con, mùa đông làm ấm chăn, mùa hè quạt mát chiếu, buổi tối xếp định chỗ nằm, buổi sáng sớm hỏi thăm sức khỏe). Hình ảnh quạt nồng ấp lạnh còn gắn liền với tấm gương cậu bé Hoàng Hương chín tuổi đời Đông Hán trong Nhị Thập Tứ Hiếu, người quạt mát màn cho cha vào mùa hè và lấy thân mình ấp ấm chăn cho cha vào mùa đông.
Câu Trước bàn thần chủ kính dường như sinh ở câu 28 dạy điều gì về thờ cúng tổ tiên
Thần chủ là tấm bài vị bằng gỗ (nay nhiều gia đình thay bằng di ảnh) ghi tên hiệu của cha mẹ và tổ tiên đặt trên bàn thờ gia tiên. Câu thơ Trước bàn thần chủ kính dường như sinh chuyển tải nguyên lý cốt lõi Sự tử như sự sinh (thờ người đã khuất như phụng dưỡng lúc còn sống) của sách Lễ Ký và Trung Dung: khi thắp hương, dâng cơm nước ngày giỗ hay bốn mùa lễ tiết, con cháu phải giữ lòng thành kính, gần gũi và trang nghiêm y như khi cha mẹ còn đang sống trước mắt.
Vì sao Gia Huấn Ca lại gắn việc anh em hòa thuận với việc báo hiếu tổ tiên
Trong quan niệm gia tộc Việt Nam, anh chị em ruột thịt đều do một cha mẹ sinh ra, cùng mang một dòng máu (đồng tình cốt nhục, đồng khí liên chi). Nếu con cháu dâng mâm cao cỗ đầy lên bàn thờ mà anh em lại bất hòa, tranh giành, chia lìa nhau thì cha mẹ lúc sống cũng đau lòng và hương linh tổ tiên nơi chín suối cũng không thể yên vui; do đó cảnh một nhà trên thuận dưới vui chính là lễ vật báo hiếu cao quý nhất và là cội nguồn giữ gìn phúc ấm cho đời sau.
Gia Huấn Ca có vị trí như thế nào so với Hiếu Kinh và Thọ Mai Gia Lễ trong truyền thống Việt Nam
Trong đời sống văn hóa truyền thống Việt Nam, ba tác phẩm này bổ sung cho nhau thành một chỉnh thể trọn vẹn: Hiếu Kinh là kinh điển triết học chữ Hán xác lập nền tảng lý luận của đạo Hiếu; Thọ Mai Gia Lễ là sách quy phạm hướng dẫn chi tiết từng nghi thức tang lễ, lập từ đường và cúng tế bốn mùa; còn Gia Huấn Ca dùng lời thơ lục bát tiếng Việt truyền cảm để đưa đạo lý hiếu kính và tình nghĩa gia đình thấm sâu vào tâm hồn mọi người dân từ thuở ấu thơ.