ITrước Khi Đọc
Tại bất kỳ phủ, đền hay điện thờ Mẫu nào ở miền Bắc, trước khi một bóng áo chầu mở khăn hay một nhành mồi thắp sáng trên tay thanh đồng, buổi lễ bao giờ cũng bắt đầu bằng một khoảng lặng trang nghiêm trước hương án giữa điện. Khói trầm vừa cuộn lên dưới bóng đèn nến đỏ thắm, tiếng phách tre gõ dồn mở nhịp, cây đàn nguyệt buông câu dạo đầu rồi giọng người cung văn ngân dài câu hát khai đàn: Việt Nam thủa nền an vương thất, chuyển pháp luân Phật nhật tăng huy. Đó là bài Văn Công Đồng, cánh cửa âm nhạc và nghi lễ bắt buộc phải mở ra trước tiên trong mọi khóa lễ của Đạo Mẫu Tứ Phủ.
Hai chữ Công Đồng nghĩa gốc là hội đồng chung, tòa hội họp của toàn thể các bậc tôn quý. Khác với Văn Chầu Mẫu Thượng Thiên hay văn các Quan, các Chầu, các Hoàng vốn chỉ ca ngợi công hạnh và sự tích của riêng một vị thánh khi vị ấy giáng đồng, Văn Công Đồng là bài văn thỉnh chung toàn bộ hệ thống thần điện. Bài văn giống như một bức chiếu thỉnh đại hội: đi từ mười phương Chư Phật trên tòa sen báu, bước sang cõi Trời của Đế Thích và Ngọc Hoàng, xuống Ngũ Nhạc, Thập Điện, Bát Hải Động Đình, Tam Nguyên Tam Phẩm Tam Quan, Nam Tào Bắc Đẩu, rồi hội tụ về Tam Tòa Thánh Mẫu cùng Tứ Phủ Vạn Linh từ hàng Quan Lớn, Chầu Bà, Ông Hoàng, Thánh Cô, Thánh Cậu cho tới Thổ Công và Ngũ Hổ Thần Tướng dưới hạ ban.
Chính vì chức năng thỉnh chung ấy, trong suốt lúc cung văn hát Văn Công Đồng, không có một vị thánh nào nhập đồng múa hầu. Nếu là khóa hát văn thờ ngày sóc vọng hoặc ngày tiệc đền, cung văn ngồi xếp bằng trên chiếu dâng trọn bài văn lên chư thánh. Nếu là buổi mở đầu một vấn hầu, pháp sư (hoặc thầy cúng) vừa làm lễ phát tấu tuyên sớ, còn người thanh đồng ngồi tĩnh tại trước án trong trang phục chỉnh tề, chắp tay kính lễ chờ hội đồng chư thánh giáng lâm chứng đàn rồi sau đó mới trùm khăn phủ diện bước vào các giá hầu riêng biệt.
Trang này giới thiệu trọn vẹn bốn mươi câu thơ song thất lục bát mở đầu (mười khổ thơ bốn câu), tức toàn bộ mạch thỉnh thượng tầng từ cõi Phật, cõi Trời, Long Vương Bát Hải, tinh tú Bắc Cực xuống tới hội Công Đồng Thánh Mẫu và Tam Tòa Chúa Tiên. Mạch tiếp nối ở nửa sau bài văn cùng cấu trúc ban Công Đồng và kỹ thuật chuyển làn điệu giữa câu sáu chữ của giới cung văn được khảo cứu chi tiết ở các mục kế tiếp.
Khảo sát tư liệu văn bản học và âm nhạc học cho thấy bài Văn Công Đồng mở bằng câu Việt Nam thủa nền an vương thất là một trong những bản văn chầu có tính ổn định cao nhất của truyền thống hát văn Bắc Bộ. Năm 1929, nhà in Tân Dân Thư Quán ở số 93 phố Hàng Bông, Hà Nội ấn hành cuốn Văn chầu: Các bài văn chầu đủ các vị gồm hai mươi hai bài văn chầu (hiện lưu giữ trong Bộ sưu tập Sách Đông Dương của Thư viện Quốc gia Việt Nam), trong đó Công-Đồng văn được xếp ở mục số 10 (đặt sau chín bài văn chầu riêng các ngôi Thánh Mẫu, Long Vương cùng Kim Đồng Ngọc Nữ, và đứng trước mục số 13 là Hội-đồng văn). Trong truyền thống truyền nghề sống tại Hà Nội, Ninh Bình (Nam Định cũ), Hải Phòng và Bắc Ninh suốt thế kỷ hai mươi tới nay, bản văn của Hội Nhất Tâm và bản ký âm dùng trong giảng dạy tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam cùng Viện Âm nhạc Việt Nam đều giữ nguyên trục bốn mươi câu song thất lục bát này.
Trước khi bước vào câu song thất đầu tiên (Việt Nam thủa nền an vương thất), các dòng cung văn cổ truyền thường ngâm bốn câu thơ thất ngôn Hán Việt theo lối Bỉ cách (nhịp tự do khoan thai theo tiếng nhang trầm): Bảo nhang phức úc khởi tường yên, thụy khí xung đằng thấu cửu thiên, nhang giả chí thành đăng bảo án, nguyện cầu đệ tử đắc bình an (bản truyền khẩu phổ biến còn đọc Bảo nhang phước úc và nhang giảo, nghĩa là hương quý ngạt ngào dâng khói lành, khí tốt bay thẳng thấu chín tầng trời, người dâng nhang chí thành tiến lên án báu, cúi xin cho đệ tử được bình an). Có dòng cung văn thay bằng bốn câu Bỉ khác như Nhất triện tâm hương thấu cửu thiên, hoặc dùng bốn câu Bỉ cộng hai câu xướng Thái tuế... niên... nguyệt... nhật, thời để thay trực tiếp cho khổ mở đầu, cho thấy phần thơ chữ Hán khai từ được phép linh hoạt theo gia phả từng giáo phường trong khi phần thân bài song thất lục bát tiếng Việt giữ vai trò cốt tủy cố định.
Cần ghi nhận thêm một chi tiết văn bản học quan trọng: trên trang tư liệu phuday.com hiện còn lưu một bài văn cổ khác cũng mang nhan đề Bản văn Công đồng, mở đầu bằng lời bái thỉnh Vận bốn mùa âm dương tiết thảo, tâm chí thành cầu đảo cầu bình an để thỉnh Chúa Tiên Cửu Trùng rồi chuyển sang một khổ song thất lục bát (Ngự cung trung Thượng Thiên chính vị...) nối tiếp bằng các cặp thơ lục bát kèm tiếng đệm xá, dọc. Điều đó chứng tỏ tên gọi Văn Công Đồng vốn chỉ vị trí nghi lễ (bài hát khai đàn trước ban Công Đồng), trong đó bản song thất lục bát mười khổ Việt Nam thủa nền an vương thất trên trang này đã trở thành bản kinh điển phổ thông nhất trên hầu khắp các phủ điện ngày nay.
IILời Văn Công Đồng: Bốn Mươi Câu Mở Đầu Và Đối Chiếu Dị Bản
Đoạn trích dưới đây gồm mười khổ thơ song thất lục bát (mỗi khổ bốn câu theo khuôn bảy chữ, bảy chữ, sáu chữ, tám chữ, gieo vần lưng và vần chân nối chuỗi thượng tùy hạ tiếp). Văn bản được hiệu đính từ hệ thống sổ cung văn truyền thống tại Hà Nội (tiêu biểu là bản Hội Nhất Tâm, bản Công Đồng Tứ Phủ văn và giáo trình nhạc viện, có chỉnh lại các lỗi chế bản điện tử như ngại vàng hay chua sổ, đồng thời giữ nguyên từ cổ như thủa nền, choi chói, rờ rỡ, Chấn Động Đình), đặt cạnh lời diễn giải bằng tiếng Việt hiện đại và bản dịch tiếng Anh từng câu.
| Câu | Lời văn chầu | Nghĩa bằng lời thường | Tiếng Anh |
|---|---|---|---|
| 1 | Việt Nam thủa nền an vương thất, | Trên đất nước Việt Nam thuở nền móng triều đình và bờ cõi yên bình, | In the land of Vietnam, in an age when the royal house and realm rest secure, |
| 2 | Chuyển pháp luân Phật nhật tăng huy. | bánh xe giáo pháp chuyển vận, mặt trời trí tuệ của Đức Phật ngày thêm rạng rỡ. | the Wheel of the Dharma turns and the Sun of the Buddha shines ever brighter. |
| 3 | Kim niên, kim nguyệt, kim thì, | Vào đúng năm nay, tháng này, giờ lành hôm nay, | In this very year, this very month, at this auspicious hour, |
| 4 | Đệ tử tâu quỳ Phật Thánh mười phương. | hàng đệ tử chúng con quỳ gối dâng lời tấu thỉnh lên chư Phật, chư Thánh khắp mười phương. | your disciples kneel in petition before the Buddhas and Holy Ones of the ten directions. |
| 5 | Nức khói hương chiên đàn giải thoát, | Ngạt ngào làn khói hương gỗ chiên đàn thanh tịnh giải thoát, | Rich rises the sandalwood incense smoke of liberation, |
| 6 | Thoảng mùi hoa ưu bát thơm bay. | thoang thoảng hương hoa sen xanh ưu bát tỏa ngát không gian. | faintly drifts the pure fragrance of blue utpala lotus blossoms. |
| 7 | Nam mô Phật ngự phương Tây, | Con xin quy kính Đức Phật ngự nơi cõi Tây Phương Cực Lạc, | Homage to the Buddha enthroned in the Western Quarter, |
| 8 | Sen vàng choi chói hiệu nay Di Đà. | trên tòa sen vàng sáng chói, hồng danh Ngài là Đức Phật A Di Đà. | upon a dazzling golden lotus, whose sacred name is Amitābha. |
| 9 | Ngự trước tòa lưu ly bảo điện, | Ngự nơi điện báu bằng ngọc lưu ly trong sáng, | Enthroned before the jeweled hall of lapis lazuli, |
| 10 | Phật Thích Ca ứng hiện tự nhiên. | Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tự tại ứng hiện độ đời. | Śākyamuni Buddha manifests in effortless spontaneity. |
| 11 | Tiêu thiều nhã nhạc dưới trên, | Khúc nhã nhạc Tiêu Thiều ngân vang hòa tấu khắp tầng trên cõi dưới, | Sublime Shao court music resounds above and below, |
| 12 | Cửu Long phún thủy quần tiên ca đàn. | chín rồng phun nước tắm Phật, các hàng chư tiên gảy đàn ca tụng. | nine dragons spout bathing waters while hosts of immortals sing and play lutes. |
| 13 | Đức tòa thị ngai vàng rờ rỡ, | Trước tòa sen ngai vàng uy nghiêm rạng rỡ, | Majestic upon the radiant golden throne, |
| 14 | Phóng hào quang rực rỡ vân yên. | hào quang phóng chiếu sáng lòa qua từng lớp mây khói. | rays of haloed light blaze through clouds and incense mist. |
| 15 | Quan Âm ngự trước án tiền, | Đức Bồ Tát Quan Thế Âm ngự ngay phía trước hương án, | Bodhisattva Avalokiteśvara presides directly before the altar, |
| 16 | Tả hữu Bồ Tát tăng thiền già na. | hai bên tả hữu có chư vị Bồ Tát, các bậc thiền tăng và thánh chúng chốn già lam hầu cận. | flanked left and right by Bodhisattvas, meditation monks and temple guardians. |
| 17 | Đức Hộ Pháp Vi Đà thiên tướng, | Đức Hộ Pháp Vi Đà, vị thiên tướng bảo vệ chánh pháp, | Dharma Protector Weituo, the celestial general, |
| 18 | Vận thần thông vô lượng vô biên. | thi triển phép thần thông rộng lớn không bờ bến. | wields spiritual powers boundless and without measure. |
| 19 | Tận hư không giới thánh hiền, | Khắp cùng cõi hư không bao nhiêu bậc thánh hiền, | Throughout the farthest reaches of empty space, all sages and worthies, |
| 20 | Dục giới, sắc giới chư thiên đều mời. | cùng chư thiên ở các tầng trời Dục giới và Sắc giới, chúng con đều cung kính thỉnh mời. | together with the heavenly beings of the Desire Realm and Form Realm, all are invited. |
| 21 | Vua Đế Thích quản cai thiên chủ, | Thỉnh Vua Đế Thích cai quản ngôi chúa tể tầng trời Đao Lợi, | We invite King Śakra, sovereign lord governing the heavens, |
| 22 | Vua Ngọc Hoàng thiên phủ chí tôn. | thỉnh Vua Ngọc Hoàng Thượng Đế chí tôn đứng đầu Thiên phủ. | and the Jade Emperor, Supreme Sovereign of the Celestial Palace. |
| 23 | Dương phủ ngũ nhạc thần vương, | Thỉnh các vị Thần Vương cai quản năm ngọn núi thiêng Ngũ Nhạc nơi Dương phủ, | We invite the Divine Kings of the Five Sacred Peaks in the Earthly Yang Realm, |
| 24 | Địa phủ thập điện Minh vương các tòa. | thỉnh mười vị Minh Vương cai quản mười điện phán xét nơi Địa phủ. | and the Ten Kings of the Underworld across their courts in the Subterranean Palace. |
| 25 | Khắp nơi nơi giang hà hoài hải, | Khắp mọi miền sông lớn, sông dài cho tới biển rộng, | Across every great river, stream and vast sea, |
| 26 | Chấn Động Đình bát hải Long vương. | thỉnh Đức Long Vương Vua Cha trấn giữ hồ Động Đình và tám biển. | we invite the Dragon King who guards Lake Dongting and the Eight Seas. |
| 27 | Tam nguyên, tam phẩm, tam quan, | Thỉnh các đấng Tam Nguyên, Tam Phẩm, Tam Quan Đại Đế, | We invite the Three Officials of the Three Primes and Three Ranks, |
| 28 | Quản chi tội phúc nhân gian cầm quyền. | những bậc cầm quyền xét định tội lỗi và phúc lành của cõi nhân gian. | who hold authority to audit transgressions and blessings in the human world. |
| 29 | Ngôi Bắc cực trung thiên tinh chúa, | Thỉnh ngôi Tinh Chúa Bắc Cực Tử Vi ngự chính giữa bầu trời, | We invite the Star Sovereign of the North Pole at the center of heaven, |
| 30 | Tả Nam Tào chúa sổ trường sinh. | bên tả có quan Nam Tào nắm giữ sổ trường sinh ghi tuổi thọ, | with Lord Nam Tào on the left keeping the ledger of longevity, |
| 31 | Hữu quan Bắc Đẩu thiêm linh, | bên hữu có quan Bắc Đẩu uy linh chép sổ vận mệnh, | and Lord Bắc Đẩu on the right in numinous majesty, |
| 32 | Nhị thập bát tú cửu tinh huy hoàng. | cùng hai mươi tám chòm sao Nhị Thập Bát Tú và chín ngôi Cửu Tinh chiếu sáng huy hoàng. | amid the Twenty-Eight Lunar Mansions and Nine Luminaries shining in splendor. |
| 33 | Khắp tam giới bách quan văn võ, | Khắp cả ba cõi, trăm hàng quan văn quan võ, | Across all three worlds, the hundred civil and military mandarins |
| 34 | Hội Công Đồng Tứ phủ vạn linh. | cùng tề tựu về đại hội Công Đồng Tứ Phủ muôn vàn hiển linh. | assemble in the Grand Council of the Four Palaces and myriad numinous spirits. |
| 35 | Cửu trùng Thánh Mẫu thiên đình, | Thỉnh Đức Cửu Trùng Thánh Mẫu ngự trên thiên đình, | We invite the Holy Mother of the Ninefold Heaven in the celestial court, |
| 36 | Bán thiên công chúa Quế Quỳnh đôi bên. | có đức Bán Thiên Công Chúa cùng đôi tiên nữ Quế, Quỳnh hầu hạ hai bên. | and the Princess of Mid-Heaven with Ladies Quế and Quỳnh attending on either side. |
| 37 | Hội bạn tiên khăn đào áo thắm, | Thỉnh hội các nàng tiên chít khăn đào, khoác áo đỏ thắm, | We invite the company of fairy maidens in peach headscarves and crimson robes, |
| 38 | Chốn Quảng Hàn cung cấm vào ra. | thường ra vào nơi cung cấm Quảng Hàn trên vầng trăng. | who pass in and out of the forbidden Palace of Vast Cold upon the moon. |
| 39 | Cờn Môn tứ vị vua bà, | Thỉnh Tứ Vị Vua Bà linh thiêng nơi cửa biển Cờn Môn, | We invite the Four Holy Queens of Cờn Môn seaport, |
| 40 | Công Đồng Thánh mẫu, tam tòa Chúa tiên. | thỉnh hội đồng các Đức Thánh Mẫu cùng ba tòa Chúa Tiên giáng lâm chứng giám. | the Grand Council of Holy Mothers, and the Three Thrones of Immortal Sovereign Ladies. |
Bảng đối chiếu dị bản cổ và những chỗ chép sai phổ biến trên mạng
Do lời văn chầu vốn được truyền dạy bằng tai nghe tiếng đàn tiếng hát giữa thầy và trò trước khi chép ra sổ tay, khi đưa lên môi trường mạng nhiều trang chép lời đã phát sinh lỗi gõ máy hoặc biến các từ Hán Việt cổ thành những chữ đồng âm không còn nghĩa gốc. Bảng khảo chứng dưới đây đối chiếu bản hiệu đính trên trang này với bản điện tử của Hội Nhất Tâm, bản in năm 1929 cùng các sổ cung văn cổ.
| Câu số | Bản hiệu đính trên trang này | Bản Hội Nhất Tâm, bản in 1929 và sổ cổ | Lỗi chép mạng hay gặp và phân tích văn bản |
|---|---|---|---|
| Câu 1, 3, 4 | Việt Nam thủa nền an vương thất, Kim niên, kim nguyệt, kim thì và Đệ tử tâu quỳ | Bản điện tử Hội Nhất Tâm và nhactruyenthong.vn chép thuở nền và Kim niên, kim nguyệt, nhật thì, câu 4 chép tấu quy hoặc tâu quy. | Thủa và thuở là hai cách ghi âm cổ cùng một từ tiếng Việt. Cả kim thì (giờ nay) lẫn nhật thì (ngày giờ), cũng như tâu quỳ (quỳ tấu) và tấu quy (dâng lời quy ngưỡng), đều đúng luật bằng trắc. |
| Câu 5, 8 | Nức khói hương chiên đàn giải thoát và Sen vàng choi chói hiệu nay Di Đà | Giữ nguyên Nức khói hương và hiệu nay Di Đà ở bản Hội Nhất Tâm cùng các bản chầu văn chuẩn. | Nhiều trang mạng chép nhầm thành Nước khói hương và hiện nay Di Đà. Đúng nghĩa phải là nức (thơm ngát) và hiệu (danh hiệu Phật). |
| Câu 9, 11 | Ngự trước tòa lưu ly bảo điện và Tiêu thiều nhã nhạc dưới trên | Câu 9 bản nhactruyenthong.vn và giáo trình nhạc viện chép Ngự trước tòa, bản điện tử Hội Nhất Tâm chép Đứng trước tòa. Câu 11 các bản chuẩn đều giữ điển tích Tiêu thiều. | Câu 11 trên mạng rất hay chép sai thành Tiên thiền nhã nhạc vì thấy câu trước có chữ Phật, câu sau có chữ tiên, làm mất hẳn điển tích nhạc Tiêu Thiều cổ đại. |
| Câu 13, 16 | Đức tòa thị ngai vàng rờ rỡ và Tả hữu Bồ Tát tăng thiền già na | Câu 13 sách Hán Nôm và khoa cúng cổ có gốc từ danh hiệu Đức Từ Thị (bản mạng gõ nhầm ngai vàng thành ngại vàng). Câu 16 bản in 1929 và sổ cổ chép tăng thuyền Già-na hoặc tăng hiền già lam. | Từ Thị là dịch nghĩa Hán Việt của Phật Di Lặc (đứng giữa Phật Thích Ca ở khổ 3 và Bồ Tát Quan Âm ở câu 15), về sau cung văn truyền khẩu đọc gần âm thành Đức tòa thị. Cuối câu 16 đọc ngả sang vần -a để giữ thanh bằng hiệp vần. |
| Câu 17 | Đức Hộ Pháp Vi Đà thiên tướng | Viết thống nhất Vi Đà trong bản Hội Nhất Tâm, mọi khoa cúng Phật và chầu văn cổ. | Một số bản chép theo tai nghe viết nhầm thành Di Đà thiên tướng, lẫn lộn Đức Phật A Di Đà ở câu 8 với vị thiên tướng Hộ Pháp Vi Đà. |
| Câu 26, 30 | Chấn Động Đình bát hải Long vương và Tả Nam Tào chúa sổ trường sinh | Chính tả hiện đại chuẩn hóa thành Trấn Động Đình. Ở câu 30 có sổ chép chú sổ trường sinh (bản điện tử Hội Nhất Tâm gõ sót dấu thành chua sổ). | Lối viết Chấn phản ánh phát âm Bắc Bộ của động từ trấn (trấn giữ). Hai cách đọc chú sổ (ghi chép vào sổ, như Nam Đẩu chú sinh) và chúa sổ (làm chủ quyển sổ) đều giải thông nghĩa. |
| Câu 33, 34 | Khắp tam giới bách quan văn võ và Hội Công Đồng Tứ phủ vạn linh | Các sổ chữ Nôm và bản in cũ đọc theo âm Hán Việt cổ là bách quan văn vũ. | Khi đọc là văn vũ, chữ vũ ở cuối câu 33 gieo vần lưng hoàn chỉnh với chữ phủ (chữ thứ năm của câu 34) theo đúng luật thơ song thất lục bát. |
IIIGiải Nghĩa Mười Khổ Thơ Và Điển Tích Thần Điện
Bốn mươi câu đầu của bài Văn Công Đồng là một bản đồ vũ trụ thu nhỏ của tâm thức tôn giáo Việt Nam, nơi thuật ngữ kinh tạng Đại Thừa, tinh tú học Đạo giáo và huyền sử các Thánh Mẫu bản địa nối tiếp nhau không một vết gợn. Mười mục dưới đây giải nghĩa lần lượt từng khổ bốn câu theo đúng thứ tự trình diễn.
Khổ mở đầu định vị ngay lập tức tọa độ không gian và thời gian của buổi lễ: không gian là đất nước Việt Nam trong cảnh bờ cõi, vương thất (nhà vua, triều đình, quốc gia) thái bình yên ổn, còn thời gian là kim niên, kim nguyệt, kim thì, tức chính năm nay, tháng này, giờ hành lễ này. Cách mở đầu bằng tên nước Việt Nam đặt niềm tin thờ Mẫu gắn chặt với vận mệnh quốc gia dân tộc ngay từ tiếng đàn đầu tiên.
Câu thứ hai mượn trọn tám chữ chúc tụng kinh điển nơi cửa thiền: Chuyển pháp luân (bánh xe giáo pháp xoay chuyển không ngừng) và Phật nhật tăng huy (ánh mặt trời trí tuệ của Phật ngày càng thêm sáng). Ở câu thứ tư, chữ tâu quỳ (dị bản viết tâu quy hoặc tấu quy) diễn tả tư thế người đệ tử quỳ trước hương án dâng lời tấu trình lên cả Phật lẫn Thánh khắp mười phương, mở ra tinh thần dung hợp Phật Thánh xuyên suốt cả bài văn.
Từ lời tấu thỉnh chung, khổ thứ hai dẫn người nghe bước lên tầng cao nhất của vũ trụ thiêng là cõi Phật, mở đầu bằng hai loài hương hoa quý bậc nhất trong kinh điển Ấn Độ. Chiên đàn phiên âm từ tiếng Phạn candana, tức gỗ đàn hương trắng có mùi thơm thanh khiết, biểu trưng cho giới hương và giải thoát hương trong nghi thức dâng hương nhà Phật. Ưu bát (ưu bát la) phiên âm từ tiếng Phạn utpala, loài hoa sen xanh thanh tao mọc vượt bùn lầy.
Giữa làn hương giải thoát ấy hiện ra vị Phật đầu tiên được thỉnh: Đức Phật A Di Đà ngự trên tòa sen vàng chói lọi ở phương Tây (cõi Tây Phương Cực Lạc). Từ láy cổ choi chói gợi ánh vàng kim rực sáng của pho tượng sơn son thếp vàng dưới ánh nến phủ điện.
Khổ thứ ba tôn vinh giáo chủ cõi Ta Bà là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nơi lưu ly bảo điện (cung điện báu trong suốt như ngọc lưu ly, vốn cũng gắn với cõi Tịnh Lưu Ly của Phật Dược Sư, trong văn chầu được dùng để tả chung vẻ trang nghiêm của tòa Tam Bảo). Hai chữ tự nhiên ở đây mang nghĩa triết học nhà Phật và Đạo gia: sự thị hiện tự tại, không gượng ép, tùy duyên ứng hóa.
Hai câu lục bát tiếp theo ghép hai điển tích rực rỡ: Tiêu thiều nhã nhạc là khúc nhạc cung đình Tiêu Thiều chín chương thời vua Thuấn trong Kinh Thư (mà Khổng Tử nghe ở nước Tề trong Luận Ngữ từng khen suốt ba tháng quên vị thịt), tượng trưng cho âm nhạc hòa điệu giữa trời và người. Hình ảnh Cửu Long phún thủy là tích chín con rồng trên trời phun hai dòng nước ấm mát tắm cho Thái tử Tất Đạt Đa lúc đản sinh tại vườn Lâm Tỳ Ni, hình ảnh quen thuộc trên tòa Cửu Long ở mọi ngôi chùa Việt.
Khổ thứ tư chuyển từ ngôi Phật sang ngôi Bồ Tát và Thánh Tăng, đúng theo bố cục tượng thờ từ cao xuống thấp trong chính điện chùa Việt và điện thờ Mẫu (nơi tầng cao nhất hoặc khám riêng phía trên thường thờ Phật Bà). Ở câu mười ba, cụm Đức tòa thị trong sổ cung văn hiện đại thường được hiểu mộc mạc là bậc tôn đức ngự nơi tòa báu ngai vàng, song xét theo văn bản học Phật giáo cổ truyền thì đây vốn là biến âm truyền khẩu của danh hiệu Đức Từ Thị (dịch nghĩa của Maitreya, tức Đức Phật Di Lặc, đặt nối tiếp hợp lý ngay sau Đức Phật A Di Đà ở khổ hai và Đức Phật Thích Ca ở khổ ba). Hai chữ vân yên tả mây lành và khói hương quyện vào nhau dưới ánh hào quang.
Đức Quan Âm (Bồ Tát Quán Thế Âm) được thỉnh ngự ngay trước án tiền vì trong tín ngưỡng dân gian và Đạo Mẫu, Phật Bà là đấng từ bi cứu khổ gần gũi nhất với các Thánh Mẫu. Cụm tăng thiền già na ở cuối câu mười sáu là cách hiệp vần dân gian của hàng thiền tăng, tăng già (Phạn ngữ saṅgha) và chư thần già lam hộ trì cảnh chùa.
Khổ thứ năm khép lại phần thỉnh Phật giới bằng hình ảnh Hộ Pháp Vi Đà thiên tướng (Phạn ngữ Skanda), vị thiên tướng mặc giáp trụ, tay chống hoặc nâng chày kim cang đứng trấn giữ chánh pháp không cho tà ma nhiễu loạn đàn tràng. Tận hư không giới là khắp trùm cả cõi không gian vô tận.
Câu hai mươi gọi tên hai cõi đầu trong Tam Giới của vũ trụ luận Phật giáo: Dục giới (cõi còn ham muốn ngũ dục, gồm cả loài người và sáu tầng trời Dục giới) và Sắc giới (cõi trời thiền định thanh tịnh còn hình sắc vi tế). Về mặt âm nhạc, chính tại câu sáu chữ Tận hư không giới thánh hiền, người cung văn thực hiện cú bẻ làn chuyển điệu đầu tiên từ điệu Miễu trang nghiêm sang điệu Thổng đĩnh đạc để mở đường bước sang hệ thống thần điện Đạo giáo và Tứ Phủ.
Khổ thứ sáu là chiếc cầu nối tài tình từ chư thiên nhà Phật sang hệ thống cai trị Tam Giới của Đạo Giáo và tín ngưỡng Tứ Phủ. Vua Đế Thích (Thích Đề Hoàn Nhân, Phạn ngữ Śakra Devānām Indra) là vị vua cõi trời Đao Lợi nằm trên đỉnh núi Tu Di, nhân vật vừa quen thuộc trong kinh Phật vừa đi vào truyện cổ Việt Nam (như tích Hồn Trương Ba da hàng thịt về Vua Đế Thích đánh cờ). Ngay cạnh đó là Vua Ngọc Hoàng, đấng Chí Tôn đứng đầu Thiên phủ (cung phủ miền Trời, phủ thứ nhất trong Tứ Phủ và cũng là vua cha của Thánh Mẫu Liễu Hạnh trong thần tích).
Từ Thiên phủ trên cao, hai câu lục bát mở xuống hai cõi đối xứng: Dương phủ (mặt đất cõi dương) với các vị Thần Vương cai quản năm ngọn núi thiêng Ngũ Nhạc, và Địa phủ (cõi âm dưới lòng đất) với mười vị vua phán xét tội phúc ở mười tòa điện là Thập Điện Minh Vương (tức Thập Điện Diêm Vương).
Khổ thứ bảy bước sang miền sông nước Thoải phủ (Thủy phủ) và bộ máy xét duyệt công tội nhân gian. Bốn chữ giang hà hoài hải vốn gọi tên bốn dòng nước lớn cổ điển (Trường Giang, Hoàng Hà, Hoài Thủy và biển cả), được dùng như thành ngữ chỉ toàn bộ sông ngòi biển lớn. Nổi bật ở trung tâm miền nước là Động Đình Bát Hải Long Vương, tức Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình được người Việt tôn thờ trọng thể tại chốn tổ Đền Đồng Bằng tại xã Đồng Bằng, tỉnh Hưng Yên (huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình cũ) gắn với công lao giúp vua Hùng giữ nước chiêu dân.
Hai câu sau thỉnh Tam Nguyên, Tam Phẩm, Tam Quan Đại Đế của Đạo giáo: Thượng Nguyên Nhất Phẩm Thiên Quan Tử Vi Đại Đế ban phúc (rằm tháng Giêng), Trung Nguyên Nhị Phẩm Địa Quan Thanh Hư Đại Đế xá tội (rằm tháng Bảy) và Hạ Nguyên Tam Phẩm Thủy Quan Động Âm Đại Đế giải ách (rằm tháng Mười), ba đấng trực tiếp cầm cân nảy mực xét tội phúc cho người đời.
Khổ thứ tám ngước lên trục sao trung tâm của vòm trời đêm phương Bắc. Bắc Cực Trung Thiên Tinh Chúa là Bắc Cực Tử Vi Đại Đế, ngôi sao đứng yên làm tâm cho muôn sao xoay quanh. Chầu hai bên tả hữu là cặp tinh quan quen thuộc trong thành ngữ Nam Tào Bắc Đẩu của người Việt: bên trái là Nam Tào (gốc từ chòm sao Nam Đẩu sáu ngôi) giữ sổ trường sinh ghi ngày đầu thai và phúc thọ, còn bên phải là Bắc Đẩu (chòm sao Bắc Đẩu bảy ngôi) uy linh ghi chép hạn số tử sinh.
Vây quanh tòa Tử Vi là Nhị thập bát tú (hai mươi tám chòm sao chia đều bốn phương Đông Thanh Long, Bắc Huyền Vũ, Tây Bạch Hổ, Nam Chu Tước dọc hoàng đạo) và Cửu tinh (chín ngôi sao lớn chiếu mệnh hằng năm gồm Nhật, Nguyệt, Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy, La Hầu, Kế Đô trong tục dâng sao giải hạn đầu xuân).
Khổ thứ chín là tâm điểm bản lề của toàn bài văn, nơi nhan đề tác phẩm xuất hiện trọn vẹn: Hội Công Đồng Tứ phủ vạn linh. Trăm quan văn võ khắp ba cõi Thiên, Địa, Thủy nay tề tựu về một hội đồng duy nhất của bốn phủ (Thiên phủ miền trời, Địa phủ miền đất, Thoải phủ miền nước, Nhạc phủ miền rừng núi) cùng muôn vàn thánh linh bản địa Việt Nam.
Ngay tại câu sáu chữ Cửu trùng Thánh Mẫu thiên đình, tiếng đàn nguyệt và nhịp phách chuyển hẳn từ điệu Thổng sang điệu Phú nói trang nhã mà tha thiết để đón các Đức Thánh Mẫu xuất hiện. Cửu trùng Thánh Mẫu là Đức Mẫu Cửu Trùng Thiên ngự chín tầng mây đỏ, tiếp ngay dưới là Bán Thiên Công Chúa (tôn hiệu của Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh, còn gọi là Bà Chúa Bán Thiên nắm quyền cai quản lưng trời) cùng đôi thị nữ tiên cô Quế Hoa và Thị Quỳnh hầu cận hai bên tả hữu.
Khổ thứ mười khép lại bốn mươi câu đầu trong sắc đỏ rực rỡ của Thiên phủ và uy danh của hàng Thánh Mẫu Việt Nam. Hình ảnh khăn đào áo thắm vẽ nên đoàn tiên nữ mặc sắc đỏ hồng của miền trời, tự do ra vào cung Quảng Hàn (cung điện trên mặt trăng trong cổ thi, gợi nhớ gốc tiên cung trăng của Mẫu).
Câu ba mươi chín xưng danh một tín ngưỡng nữ thần biển cả lừng danh của dải đất miền Trung đã hội nhập sâu vào điện thần Tứ Phủ: Cờn Môn tứ vị vua bà, tức Tứ Vị Thánh Nương được thờ chính tại Đền Cờn bên cửa biển Cờn thuộc phường Quỳnh Mai, tỉnh Nghệ An (phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai cũ, xa xưa thuộc huyện Quỳnh Lưu), gắn với truyền thuyết Thái hậu Dương Nguyệt Quả và các công chúa nhà Nam Tống trôi dạt vào cửa Cờn hiển linh che chở thuyền bè vượt sóng dữ. Câu bốn mươi kết đọng toàn bộ phần thượng tầng bằng lời thỉnh Công Đồng Thánh Mẫu, Tam Tòa Chúa Tiên: ba ngôi Thánh Mẫu tối cao gồm Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên (sắc đỏ), Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn (sắc xanh) và Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ (sắc trắng).
IVTrật Tự Thần Điện Từ Thượng Tầng Tới Hạ Ban Trong Phần Sau Bài Văn
Bốn mươi câu đầu vừa đọc mới đưa đoàn thỉnh lễ đi từ Tây Phương Cực Lạc xuống tới ngôi Tam Tòa Thánh Mẫu. Trong thực hành tại phủ điện, bài Văn Công Đồng còn tiếp tục chảy xuống khoảng ba mươi câu nữa để điểm danh đầy đủ từng bậc thánh trong đại gia đình Tứ Phủ từ trên cao xuống tận gầm hương án, không bỏ sót một hàng nào. Nhìn vào trật tự ấy, người nghiên cứu nhận ra ngay cấu trúc thứ bậc nghiêm ngặt của một vấn hầu đồng và của chính kiến trúc ngôi đền thờ Mẫu.
Theo nguyên văn phần tiếp nối trong sổ cung văn Hội Nhất Tâm và tập Văn chầu năm 1929, ngay sau câu bốn mươi (Công Đồng Thánh mẫu, tam tòa Chúa tiên), lời hát lần lượt thỉnh xuống các chốn tổ và các hàng thánh dưới quyền Mẫu theo một trục dọc rõ rệt:
Trước hết là các ngôi Thánh Mẫu gắn với địa danh linh tích cụ thể trên đất Việt: Địa Tiên Vương Mẫu ngự tại Đền Sòng Sơn (Thanh Hóa) và đất Vân Cát Phủ Dầy tại xã Vụ Bản, tỉnh Ninh Bình (Nam Định cũ), Thánh Mẫu Đệ Tam Xích Lân Long Nữ trị vì miền nước, cùng Đức Mẫu Thượng Ngàn ngự chốn rừng xanh tại Đền Đông Cuông và đền Tuần Quán thuộc tỉnh Lào Cai (Yên Bái cũ). Song hành cùng hệ Tứ Phủ còn có hệ Trần Triều Hiển Thánh (Đức Thánh Trần Hưng Đạo Đại Vương tại Đền Kiếp Bạc (thành phố Hải Phòng, tức Chí Linh, Hải Dương cũ) cùng Vương Phụ, Vương Mẫu, Nhị Vị Vương Cô và Ngũ Vị Vương Tử) được nhiều bản văn Công Đồng lồng ghép trang trọng.
Từ hàng Mẫu bước xuống là hàng Năm Quan Hoàng Tử (tức Ngũ Vị Tôn Quan, năm vị Quan Lớn thay mặt Vua Cha và Thánh Mẫu điều binh khiển tướng khắp bốn phủ), tiếp đến là Đương Cảnh Thành Hoàng bản thổ, Lê Triều Thánh Tổ và Tứ Phủ Khâm Sai (mười hai vị Chầu Bà nắm quyền khâm sai bốn phủ cùng Thủ Đền Công Chúa và Tam Thập Lục Cung Tiên Nữ). Đáng chú ý, bản văn cổ còn thỉnh cả bốn vị nữ thần mây mưa sấm chớp của Phật giáo cổ đại vùng Luy Lâu là Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện thờ tại Chùa Dâu, Bắc Ninh), minh chứng cho sức dung nạp rộng mở của điện thần Việt. Tiếp xuống dưới là động Bát Bộ Sơn Trang (Chúa Thượng Ngàn và mười hai cô tiên Mường, Mán trên ngàn), mười vị Đức Hoàng (Tứ Phủ Ông Hoàng như Ông Hoàng Bơ Thoải, Ông Hoàng Bảy Bảo Hà, Ông Hoàng Mười Nghệ An), mười hai vị Tiên Nương (Tứ Phủ Thánh Cô) và hàng Cậu Quận (Tứ Phủ Thánh Cậu).
Ở những khổ cuối cùng khi nhịp đàn dồn nhanh sang điệu Hãm và điệu Dồn, bài văn không quên thỉnh tới các vị thần bảo hộ nền đất và cửa rừng cửa nước ngay dưới chân ban thờ: Thổ Công Thổ Địa giữ nhà, Hà Bá Sơn Kỳ giữ sông núi, Ngũ Hổ Thần Tướng (năm vị thần Hổ năm sắc vàng, xanh, đỏ, trắng, đen trấn năm phương dưới hạ ban) và đôi thần rắn Thanh Xà Đại Tướng, Bạch Xà Đại Tướng (dân gian kính gọi là Ông Lốt vắt mình trên xà ngang điện thờ). Toàn bài khép lại bằng câu mật chú tiếng Phạn phiên âm Hán Việt của Mật tông Phật giáo: Án, tam bạt ra, tam bạt ra hồng (Oṃ sambhara sambhara hūṃ, tức Biến thực chân ngôn), biến mâm lễ hữu hạn của người trần thành cỗ lộc vô tận dâng khắp muôn linh.
| Thứ bậc | Hàng thánh trong bài văn | Các danh hiệu tiêu biểu xuất hiện | Vị trí tương ứng trong không gian phủ điện |
|---|---|---|---|
| Tầng 1 | Tam Bảo Chư Phật, Bồ Tát và Hộ Pháp | Phật A Di Đà, Phật Thích Ca, Quan Âm Bồ Tát, chư Bồ Tát tăng già, Hộ Pháp Vi Đà, chư thiên Dục giới và Sắc giới | Tòa Tam Bảo hoặc khám thờ Phật Bà Quan Âm đặt ở tầng cao nhất trong hậu cung hoặc thượng điện |
| Tầng 2 | Thiên Đế, Ngũ Nhạc, Minh Vương và Tinh Tú | Vua Đế Thích, Vua Ngọc Hoàng, Ngũ Nhạc Thần Vương, Thập Điện Minh Vương, Tam Quan Đại Đế, Bắc Cực Tinh Chúa, Nam Tào, Bắc Đẩu, Nhị Thập Bát Tú, Cửu Tinh | Khám Ngọc Hoàng Thượng Đế cùng hai vị Nam Tào, Bắc Đẩu đặt ở lớp cao phía trên ban Công Đồng |
| Tầng 3 | Long Vương Bát Hải và Thủy Tộc | Động Đình Bát Hải Long Vương (Đức Vua Cha Bát Hải) | Cung thờ Vua Cha Bát Hải hoặc ban Thoải Phủ sơn thếp sắc trắng |
| Tầng 4 | Tam Tòa Thánh Mẫu và Tứ Vị Vua Bà | Cửu Trùng Thánh Mẫu, Bán Thiên Công Chúa (Mẫu Liễu Hạnh), Quế Quỳnh đôi bên, Tứ Vị Vua Bà Cờn Môn, Địa Tiên Vương Mẫu Sòng Sơn và Phủ Dầy, Mẫu Đệ Tam, Mẫu Thượng Ngàn Đông Cuông | Hậu cung (Cung Cấm), nơi thâm nghiêm nhất đặt ba pho tượng Tam Tòa Thánh Mẫu áo đỏ, xanh, trắng |
| Tầng 5 | Trần Triều và Ngũ Vị Tôn Quan | Trần Triều Hiển Thánh, Năm Quan Hoàng Tử (Quan Đệ Nhất tới Quan Đệ Ngũ) | Ban Trần Triều riêng bên cánh và chính giữa mặt bàn Ban Công Đồng Tứ Phủ (nơi đặt tượng Ngũ Vị Tôn Quan) |
| Tầng 6 | Tứ Phủ Chầu Bà, Tứ Pháp và Sơn Trang | Tứ Phủ Khâm Sai Thập Nhị Chầu Bà, Thủ Đền Công Chúa, Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện, Bát Bộ Sơn Trang | Các ban Chầu và động Sơn Trang đắp giả sơn xanh biếc bên tả hoặc bên hữu tiền đường |
| Tầng 7 | Tứ Phủ Ông Hoàng | Thập Vị Ông Hoàng (tiêu biểu Ông Hoàng Cả, Ông Hoàng Đôi, Ông Hoàng Bơ, Ông Hoàng Bảy, Ông Hoàng Mười) | Lớp tượng dưới trên Ban Công Đồng hoặc ban thờ Ông Hoàng riêng tại điện |
| Tầng 8 | Tứ Phủ Thánh Cô và Thánh Cậu | Thập Nhị Tiên Nương (Thánh Cô), hàng Cậu Quận (Thánh Cậu) | Hai lầu Cô, lầu Cậu đặt đối xứng hai bên ngoài sân đền hoặc hai cạnh bên hương án |
| Tầng 9 | Thần bản thổ và Thần thú hộ điện | Đương Cảnh Thành Hoàng, Thổ Công Thổ Địa, Hà Bá Sơn Kỳ, Ngũ Hổ Thần Tướng, Thanh Xà Bạch Xà (Ông Lốt) | Khám Hạ Ban ngay dưới gầm hương án Công Đồng (thờ Ngũ Hổ) và xà ngang trên mái điện (thờ đôi Ông Lốt) |
VBan Công Đồng Tứ Phủ Và Nghệ Thuật Chuyển Điệu Giữa Khổ Của Cung Văn
Để hiểu trọn sức sống của bài Văn Công Đồng, cần đặt lời thơ trở lại đúng hai không gian nuôi dưỡng nó: không gian kiến trúc của Ban Công Đồng Tứ Phủ giữa lòng ngôi đền, và không gian âm nhạc của cung văn đàn nguyệt với kỹ thuật bẻ làn chuyển điệu bậc thầy.
Trong cấu trúc chữ Đinh hoặc chữ Tam của một phủ thờ Mẫu truyền thống (như Phủ Dầy ở tỉnh Ninh Bình (Nam Định cũ) hay Phủ Tây Hồ ở Hà Nội), lớp trong cùng là Cung Cấm thờ Tam Tòa Thánh Mẫu, khách thập phương đứng ngoài không tự ý bước vào, trong khi ngay trung tâm gian đại bái bên ngoài chính là Ban Công Đồng Tứ Phủ. Đây là chiếc hương án sơn son thếp vàng đồ sộ nhất điện, bày mũ cánh chuồn, hia hài, gương đồng, kiếm lệnh, bát hương lớn và hàng tượng Ngũ Vị Tôn Quan cùng các quan văn võ đứng chầu. Phía dưới gầm hương án là khám Hạ ban vẽ tranh hoặc đắp nổi năm ông Hổ ngự năm phương, phía trên xà nhà đôi rắn thần Thanh Xà, Bạch Xà quấn chầu nhìn xuống chiếu hầu. Mọi khóa lễ dâng sớ, dâng hương khai đàn hay mở khăn hầu đồng đều diễn ra trên chiếc chiếu cạp điều trải ngay trước Ban Công Đồng này.
Trong giới đào tạo âm nhạc truyền thống (như chương trình chầu văn tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam và các công trình khảo cứu của Viện Âm nhạc Việt Nam do nhà nghiên cứu Hồ Thị Hồng Dung công bố), Văn Công Đồng được xem là bài bản mẫu mực đầu tiên mà người học nghề cung văn phải nắm vững, bởi một bài văn duy nhất đã xâu chuỗi liên hoàn sáu tới bảy làn điệu cốt lõi của lối hát văn thờ và hát văn dọc.
Điểm tinh tế bậc nhất về mặt âm nhạc học nằm ở vị trí chuyển làn điệu ngay giữa khổ thơ song thất lục bát. Người đọc văn bản bằng mắt thường nghĩ hết một khổ bốn câu (7-7-6-8) thì người hát mới đổi làn điệu. Thế nhưng trong thực tế diễn xướng cổ truyền, các nghệ nhân cung văn lão luyện luôn chuyển điệu ngay tại câu sáu chữ (câu thứ ba của khổ thơ): từ câu 1 tới câu 18 hát theo điệu Miễu khoan thai cổ kính. Vừa dứt câu bảy chữ thứ hai của khổ năm (Vận thần thông vô lượng vô biên), sang câu sáu chữ thứ mười chín (Tận hư không giới thánh hiền), tiếng phách và đàn nguyệt lập tức chuyển sang điệu Thổng rắn rỏi, dõng dạc để xướng danh Ngọc Hoàng, Ngũ Nhạc, Minh Vương, Long Vương, Bắc Đẩu. Tới khổ thứ chín, vừa dứt câu ba mươi tư (Hội Công Đồng Tứ phủ vạn linh), ngay tại câu sáu chữ thứ ba mươi lăm (Cửu trùng Thánh Mẫu thiên đình), cung văn lại bẻ sang điệu Phú nói (thuộc hệ điệu Phú mang âm hưởng ca trù sang trọng, mềm mại) để đón bóng dáng các bậc Thánh Mẫu và tiên nương.
Vì sao cung văn lại đổi điệu ngay giữa khổ thơ như vậy? Bởi trong thể song thất lục bát, chữ cuối của câu bảy chữ thứ hai bắt vần trực tiếp với chữ cuối của câu sáu chữ kế tiếp (biên vần với hiền, linh vần với đình). Đổi làn điệu ngay trên sợi dây hiệp vần ấy giúp mạch âm nhạc chuyển màu mà không bị đứt hơi, câu trước vừa khép vần bằng điệu cũ thì câu sau đã mở ngay điệu mới trên cùng âm vang đó, giữ cho không khí thiêng liêng trước ban thờ liền mạch từ đầu tới cuối. Sau đoạn Phú nói, nửa cuối bài Văn Công Đồng tiếp tục đi qua điệu Dọc nhịp nhàng, tăng tốc sang điệu Hãm, dồn dập ở điệu Dồn rồi lặng xuống tán câu chú Biến thực chân ngôn khép khóa.
Giá trị văn chương và âm nhạc của hệ thống bài bản này là một thành tố quan trọng đưa Nghi lễ Chầu văn của người Việt vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2012, tiến tới sự kiện UNESCO ghi danh Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2016 (Quyết định 11.COM 10.B.37).
Đàn nguyệt dạo lưu thủy khoan thai, phách điểm thưa, cung văn ngâm bốn câu thơ Hán Việt bảy chữ (Bảo nhang phức úc khởi tường yên...) theo lối Bỉ tự do không bó nhịp, đưa làn khói hương khai đàn lên thấu cửu thiên.
Nhịp phách vào khuôn đĩnh đạc, trang nghiêm của lối hát thờ cổ, tôn xưng nền an vương thất nước Việt rồi lần lượt thỉnh Phật A Di Đà, Phật Thích Ca, Bồ Tát Quan Âm và Hộ Pháp Vi Đà.
Bắt đầu ngay từ câu sáu chữ Tận hư không giới thánh hiền, nét nhạc chuyển sang điệu Thổng khỏe khoắn, liệt kê rành mạch từng tòa Đế Thích, Ngọc Hoàng, Ngũ Nhạc, Thập Điện, Bát Hải Long Vương, Tam Quan và Nam Tào Bắc Đẩu.
Bẻ làn ngay tại câu Cửu trùng Thánh Mẫu thiên đình sang âm hưởng Phú nói uyển chuyển, tha thiết sắc màu nữ tính để ca ngợi Mẫu Cửu Trùng, Bà Chúa Bán Thiên, cung Quảng Hàn, Tứ Vị Vua Bà Cờn Môn và Tam Tòa Chúa Tiên.
Ở nửa sau bài văn, tiết tấu đẩy nhanh dần qua điệu Dọc, điệu Hãm rồi cuốn xoáy ở điệu Dồn khi mời khắp hàng Quan, Chầu, Hoàng, Cô, Cậu, Sơn Trang, Thổ Công, Ngũ Hổ cùng về dự hội, trước khi lắng lại bằng câu mật chú Án, tam bạt ra, tam bạt ra hồng.
VINhững Chỗ Hay Hiểu Lầm
Người mới đi lễ phủ hoặc mới nghe chầu văn qua các bản thu âm thường dễ nhầm Văn Công Đồng với các bản văn hầu từng giá hoặc hiểu lệch các danh hiệu cổ trong lời hát. Năm điểm dưới đây làm sáng tỏ những chỗ hay vướng mắc nhất.
Trong nghi thức hầu đồng, Văn Công Đồng là bài văn khai đàn thỉnh chung toàn thể hội đồng Phật Thánh về chứng giám đàn tràng chứ không phải giá hầu của riêng một vị nào. Trong lúc cung văn hát bài này, thanh đồng chỉ ngồi chắp tay lễ bái hoặc cùng pháp sư dâng hương tuyên sớ, tuyệt đối chưa tung khăn múa hầu.
Ngay ba mươi tư câu đầu tiên của bài Văn Công Đồng đã chứng minh điều ngược lại: trước khi thỉnh tới Mẫu Cửu Trùng và Tam Tòa Thánh Mẫu, bài văn dành trọn tám khổ đầu để quy kính Phật A Di Đà, Phật Thích Ca, Quan Âm Bồ Tát, Hộ Pháp Vi Đà, Đế Thích, Ngọc Hoàng, Tam Quan Đại Đế và Nam Tào Bắc Đẩu. Tín ngưỡng thờ Mẫu tiếp nhận lớp vũ trụ quan Tam Giáo làm vòm trời che chở phía trên, rồi đặt hệ thống Thánh Mẫu và anh hùng dân tộc Việt vào trung tâm đời sống tâm linh.
Đó thực chất là lỗi sao chép theo tai nghe trên nhiều trang mạng hiện nay. Khảo chứng văn bản học xác nhận câu gốc là Tiêu thiều nhã nhạc (khúc nhạc cung đình cổ đại thời vua Thuấn) và Đức Hộ Pháp Vi Đà thiên tướng (vị thiên tướng hộ pháp nhà Phật), hoàn toàn không phải Tiên thiền hay Đức Phật A Di Đà làm thiên tướng.
Song song với bản song thất lục bát kinh điển mở bằng câu Việt Nam thủa nền an vương thất được hát phổ biến nhất, kho tàng văn chầu cổ còn lưu giữ bài Bản văn Công đồng mở đầu bằng câu Vận bốn mùa âm dương tiết thảo, tâm chí thành cầu đảo cầu bình an (ghi nhận trên phuday.com, kết hợp lời thỉnh Chúa Tiên Cửu Trùng với các khổ song thất lục bát và lục bát) cùng các bản Văn Công Đồng Trần Triều dùng riêng khi khai lễ bên điện Đức Thánh Trần.
Trái hẳn với cách suy đoán bên ngoài, trong Đạo Mẫu Tứ Phủ, Ngũ Hổ Thần Tướng ở hạ ban và đôi Thanh Xà, Bạch Xà Đại Tướng (Ông Lốt) trên xà điện là những vị thần tướng hộ vệ chính thức cai quản sơn lâm và sông nước. Chính vì vậy ở phần cuối bài Văn Công Đồng, cung văn trang trọng thỉnh mời cả Ngũ Hổ và các vị thần đất, thần sông cùng về thụ hưởng lễ vật.
?Hỏi Đáp Nhanh
Văn Công Đồng được hát vào lúc nào trong nghi lễ Đạo Mẫu
Văn Công Đồng luôn được hát ở vị trí mở đầu của mọi khóa lễ trước Ban Công Đồng Tứ Phủ, dù là một buổi hát văn thờ thông thường vào ngày rằm, mùng một, ngày tiệc đền hay là phần khai đàn mở đầu một vấn hầu đồng nhiều giá. Mục đích của bài văn là dâng hương tấu thỉnh toàn thể Tam Giới Chư Phật, Ngọc Hoàng, Long Vương, Tinh Quân và hội đồng Tứ Phủ Vạn Linh cùng giáng lâm chứng giám trước khi đi vào từng nghi tiết riêng.
Ban Công Đồng Tứ Phủ là gì và thờ những ai
Ban Công Đồng Tứ Phủ là tòa hương án trung tâm đặt ở gian đại bái phía trước Cung Cấm trong các đền, phủ thờ Mẫu. Đúng như tên gọi Công Đồng (hội đồng chung), ban này là nơi hội họp điều hành việc thánh của hệ thống Tứ Phủ, thường bài trí tượng Ngũ Vị Tôn Quan, các quan văn võ, mũ cánh chuồn, gương đồng và bát hương lớn. Phía trên cao liên thông với khám Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, phía dưới gầm án là Hạ ban thờ Ngũ Hổ Thần Tướng.
Vì sao bài Văn Công Đồng mở đầu bằng hai chữ Việt Nam và thỉnh cả Phật lẫn Ngọc Hoàng
Mở đầu bằng câu Việt Nam thủa nền an vương thất đặt không gian hành lễ ngay trong lòng đất nước Việt Nam độc lập, cầu quốc thái dân an trước khi cầu việc riêng của tín chủ. Sau đó bài văn thỉnh từ Phật A Di Đà, Phật Thích Ca, Bồ Tát Quan Âm sang Ngọc Hoàng, Tam Quan, Bắc Đẩu rồi mới tới Tam Tòa Thánh Mẫu vì Đạo Mẫu Tứ Phủ kết tinh truyền thống Tam Giáo đồng nguyên của người Việt: kính ngưỡng trật tự vũ trụ của Phật và Đạo ở tầng cao, đồng thời tôn thờ các Thánh Mẫu và nhân thần có công với non sông ở trung tâm.
Cờn Môn tứ vị vua bà trong câu 39 là những vị nào
Cờn Môn tứ vị vua bà là Tứ Vị Thánh Nương được thờ chính tại Đền Cờn bên cửa biển Cờn thuộc phường Quỳnh Mai, tỉnh Nghệ An (phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai cũ, xa xưa thuộc huyện Quỳnh Lưu), một trong những ngôi đền cổ và linh thiêng bậc nhất xứ Nghệ. Theo thần tích phổ biến, bốn vị gắn với Hoàng thái hậu Dương Nguyệt Quả cùng hai công chúa nhà Nam Tống và bà nhũ mẫu tử tiết trên biển rồi trôi dạt vào cửa Cờn, hiển linh phù trợ ngư dân vượt bão biển và giúp các triều đại Việt Nam giữ yên bờ cõi, được tôn phong vào hàng Thánh Mẫu trong hệ thống Tứ Phủ.
Kỹ thuật chuyển làn điệu trong bài Văn Công Đồng có gì đặc biệt
Theo các khảo cứu của Viện Âm nhạc Việt Nam, nét độc đáo của bài Văn Công Đồng là người cung văn không đợi hết khổ thơ bốn câu mới đổi làn điệu mà thường bẻ làn ngay tại câu sáu chữ nằm giữa khổ song thất lục bát: câu 19 (Tận hư không giới thánh hiền) chuyển từ điệu Miễu sang điệu Thổng, và câu 35 (Cửu trùng Thánh Mẫu thiên đình) chuyển từ điệu Thổng sang điệu Phú nói. Nhờ câu sáu chữ đang giữ vần lưng nối trực tiếp với câu bảy chữ đứng trước, cú chuyển điệu diễn ra êm và liền hơi, đẩy cảm xúc nghi lễ đi lên tự nhiên.
Vì sao cuối bài Văn Công Đồng lại đọc câu Án, tam bạt ra, tam bạt ra hồng
Án, tam bạt ra, tam bạt ra hồng là âm Hán Việt của câu mật chú tiếng Phạn Oṃ sambhara sambhara hūṃ, trích từ Biến thực chân ngôn trong nghi quỹ Mật tông Phật giáo. Khi thỉnh toàn bộ chư thánh khắp Tam Giới và Tứ Phủ Vạn Linh về dự hội Công Đồng, mâm lễ của người trần dù sắm sửa chu đáo tới đâu vẫn là hữu hạn, nên câu chân ngôn cuối bài mang ý nghĩa hóa phép thanh tịnh làm cho hương hoa, phẩm vật biến thành nguồn cam lộ vô lượng để dâng khắp muôn linh.