ITrước Khi Đọc
Có những bài kinh dài hàng trang, tụng hết phải mất cả giờ. Bài này chỉ có ba câu, hai mươi ba từ tiếng Ả Rập, đọc chậm chưa hết nửa phút. Vậy mà với người Bahá'í chọn nó, đây là bổn phận của từng ngày: đọc một mình, sau khi đã rửa tay và rửa mặt, đứng quay mặt về một hướng đã định, trong một khoảng giờ đã định giữa trưa và hoàng hôn. Ba câu ấy gói một lời làm chứng về lý do con người có mặt, một lời thú nhận về chỗ đứng của mình trước Thượng Đế, và một câu tuyên xưng độc thần.
Người Việt theo đạo Bahá'í gọi bài này là Kinh Cầu Nguyện Bắt Buộc Ngắn Nhất, trong tiếng Anh là Short Obligatory Prayer. Trong nguyên bản, bài thuộc loại ṣalát صلاة. Tiếng Ả Rập có nhiều chữ cùng chỉ việc cầu nguyện, và theo phần chú thích của Kitáb-i-Aqdas, chữ ṣalát chỉ riêng một hạng lời nguyện mà tín đồ có bổn phận đọc vào những giờ nhất định trong ngày. Những lời nguyện khác, đọc lúc nào tùy lòng, thuộc hạng khác. Vì thế chữ bắt buộc trong tên gọi không mang nghĩa cưỡng ép từ bên ngoài, mà chỉ đúng vị trí của bài trong luật của đạo: đây là việc đạo đặt thành bổn phận, không phải việc tùy hứng.
Đạo Bahá'í có ba bài nguyện bắt buộc: bài ngắn, bài vừa và bài dài, cả ba đều của Bahá'u'lláh. Mỗi tín đồ chọn lấy một bài để giữ trong ngày. Bài ngắn chỉ có ba câu, ngắn đến mức có thể thuộc lòng sau vài lần đọc, và là bài trang này bày ra.
Trang này bày trọn nguyên văn tiếng Ả Rập đủ dấu, phiên âm Latinh, bản tiếng Việt mà cộng đồng Bahá'í Việt Nam in trong sách kinh của mình, và bản tiếng Anh do thư viện tự dịch. Bài có một bản dịch tiếng Anh chính thức của Shoghi Effendi, người giữ vai trò Người Giám hộ của đạo từ năm 1921 tới năm 1957, và đó là bản tín đồ nói tiếng Anh đọc. Thư viện không chép bản ấy mà dịch lại từ nguyên văn, để người đọc có thêm một lối nhìn sát chữ. Thư viện mô tả và giải nghĩa, không đứng ra hướng dẫn quý vị làm theo, cũng không xét đạo này đúng hay sai so với đạo khác.
Lai lịch văn bản của bài nằm trong câu chuyện về luật cầu nguyện của đạo. Kitáb-i-Aqdas, quyển luật gốc Bahá'u'lláh viết bằng tiếng Ả Rập khoảng năm 1873, đặt ra một bài nguyện bắt buộc gồm chín rak'ah, tức chín lượt gồm những câu đã định đi kèm cử chỉ cúi và quỳ, đọc vào buổi sáng, buổi trưa và buổi tối. Phần chú thích của bản Aqdas do Trung tâm Thế giới Bahá'í ấn hành năm 1992 ghi rằng bài chín rak'ah ấy được viết trong một bản văn riêng, không được trao cho tín đồ khi Bahá'u'lláh còn sống, vì đã được thay bằng ba bài nguyện bắt buộc hiện dùng.
Ba bài hiện dùng được in trong phần phụ lục của Kitáb-i-Aqdas, cả ở bản tiếng gốc lẫn bản tiếng Anh. Trong bản tiếng gốc trên Bahá'í Reference Library, lời nguyện viết bằng tiếng Ả Rập, còn dòng chỉ dẫn đứng trước nó viết bằng tiếng Ba Tư và nhắc tới lúc zawál زوال, tức lúc mặt trời qua đỉnh trời. Lối pha hai thứ tiếng này là lệ chung của chính văn Bahá'í: tiếng Ả Rập cho lời nguyện và luật lệ trang trọng, tiếng Ba Tư cho lời giảng và thư từ.
Bản tiếng Anh do Shoghi Effendi dịch, và các bản dịch ra những thứ tiếng khác của cộng đồng Bahá'í trên thế giới thường đi theo bản Anh ấy. Bản tiếng Việt in ở trang 13 sách Kinh Cầu Nguyện Baha'i của Hội Đồng Tinh Thần Tôn Giáo Baha'i Việt Nam, tệp sách đăng công khai trên trang bahai.org.vn. Tệp không ghi tên người dịch và năm in. Như mục Ba Cặp Đối ở dưới sẽ nói, bản Việt đi sát bản Anh hơn là sát nguyên văn Ả Rập ở một chỗ đáng kể.
IIToàn Văn Ba Câu
| Câu | Nguyên văn Ả Rập | Phiên âm Latinh | Bản của cộng đồng Bahá'í Việt Nam | Tiếng Anh |
|---|---|---|---|---|
| 1 | أَشْهَدُ يَا إِلٰهِي بِأَنَّكَ خَلَقْتَنِي | Ashhadu yā ilāhī bi-annaka khalaqtanī | Lạy Thượng Đế của con, con xin chứng nhận rằng Ngài đã tạo nên con | My God, I testify that You brought me into being |
| 2 | لِعِرْفَانِكَ وَعِبَادَتِكَ | li-ʿirfānika wa-ʿibādatik. | để hiểu biết Ngài và tôn thờ Ngài. | so that I might come to know You and serve You in worship. |
| 3 | أَشْهَدُ فِي هٰذَا الْحِينِ بِعَجْزِي وَقُوَّتِكَ وَضَعْفِي وَاقْتِدَارِكَ | Ashhadu fī hādhā al-ḥīn bi-ʿajzī wa-quwwatika wa-ḍaʿfī wa-iqtidārika | Con xin thú nhận, ngay lúc này, con thật là bất lực trước uy lực của Ngài, | I testify, in this very hour, to my helplessness and Your strength, to my weakness and Your sovereign power, |
| 4 | وَفَقْرِي وَغَنَائِكَ | wa-faqrī wa-ghanāʾik. | và nghèo nàn trước sự phong phú của Ngài. | to my need and Your self-sufficiency. |
| 5 | لَا إِلٰهَ إِلَّا أَنْتَ | Lā ilāha illā anta | Không có Thượng Đế nào khác ngoài Ngài, | There is no god but You, |
| 6 | الْمُهَيْمِنُ الْقَيُّومُ | al-Muhaymin al-Qayyūm. | Đấng Cứu nạn, Đấng Tự tồn. | the Watchful Guardian over all, the Ever-Abiding Sustainer. |
IIIGiải Nghĩa Từng Cụm
Cột tiếng Việt ở trên là bản cộng đồng Bahá'í Việt Nam in để đọc, nên thư viện giữ nguyên từng chữ. Để quý vị thấy nguyên văn nói gì theo sát mặt chữ, thư viện dịch lại cả bài như sau: Con làm chứng, hỡi Thượng Đế của con, rằng Ngài đã tạo ra con để biết Ngài và thờ phụng Ngài. Con làm chứng, trong giờ phút này, về sự bất lực của con và sức mạnh của Ngài, về sự yếu đuối của con và quyền năng của Ngài, về sự thiếu thốn của con và sự đầy đủ của Ngài. Không có thần linh nào ngoài Ngài, Đấng canh giữ trùm khắp, Đấng tự tồn và nâng giữ muôn vật.
Mười cụm dưới đây giữ đúng thứ tự trong nguyên văn. Ở mỗi cụm, thư viện nêu nghĩa gốc của chữ Ả Rập, chỗ bản đọc tiếng Việt chọn chữ khác đi, và chỗ các cách hiểu khác nhau nếu có. Nhiều chữ trong bài cũng có mặt trong Qur'an, kinh sách quen thuộc với giới có học ở Ba Tư thời Bahá'u'lláh. Thư viện ghi những chỗ trùng ấy như một sự kiện về ngôn ngữ, không suy ra điều gì về quan hệ giữa hai đạo.
Bài mở bằng một động từ ở ngôi thứ nhất: tôi làm chứng. Gốc chữ là ba phụ âm sh, h, d, cùng gốc với shahīd, người chứng, và shahāda, lời chứng. Làm chứng khác với tin. Người tin có thể giữ niềm tin trong lòng, còn người làm chứng thì nói ra, đứng tên mình dưới điều mình nói, như nhân chứng trước một hội đồng.
Bản tiếng Việt dịch chữ này hai cách ở hai chỗ: lần đầu là con xin chứng nhận, lần sau là con xin thú nhận. Trong nguyên văn cả hai lần đều là một chữ أَشْهَدُ. Người dịch đổi chữ ở lần thứ hai vì nội dung lần ấy là điều nói về chính mình, một sự nhìn nhận chỗ yếu, nên chữ thú nhận nghe tự nhiên hơn trong tiếng Việt. Nhưng người đọc nguyên văn sẽ nghe thấy một nhịp lặp: bài có hai lời chứng, một lời về mục đích của đời người, một lời về thân phận của đời người, rồi khép bằng câu tuyên xưng.
Yā là tiếng gọi, như chữ hỡi. Ilāhī là chữ ilāh, thần, đấng được thờ, cộng với hậu tố chỉ ngôi thứ nhất, thành Thượng Đế của tôi. Lời chứng vì thế không nói với một hội đồng vô hình nào, mà nói thẳng với chính Đấng được làm chứng.
Chữ ilāh ở đây và chữ ilāh trong câu cuối لَا إِلٰهَ إِلَّا أَنْتَ là một. Bài mở bằng Thượng Đế của tôi và đóng bằng không có thần linh nào ngoài Ngài, tức đi từ quan hệ riêng của một người tới lời khẳng định chung cho mọi người. Bản Việt dịch lời gọi mở đầu bằng Lạy Thượng Đế của con, dùng lối xưng con với Ngài quen thuộc trong kinh nguyện tiếng Việt.
Nghĩa sát chữ: rằng chính Ngài đã tạo ra tôi. Động từ khalaqa là tạo dựng, làm cho có từ chỗ chưa có. Chữ anna mở ra một mệnh đề được khẳng định, nên câu nhấn vào việc người đọc làm chứng cho một sự thật, không chỉ kể lại.
Chỗ đáng để ý là điều người đọc làm chứng trước tiên không phải là sự hiện hữu của Thượng Đế, mà là quan hệ giữa Thượng Đế và chính mình: Ngài đã tạo ra tôi. Mọi lời phía sau đều xây trên quan hệ ấy.
Nghĩa sát chữ: để biết Ngài và thờ phụng Ngài. Tiền tố li chỉ mục đích. Đây là câu trả lời gọn nhất của bài cho câu hỏi con người sinh ra để làm gì.
Chữ ʿirfān đáng dừng lại. Tiếng Ả Rập có chữ ʿilm cho sự hiểu biết thông thường, sự học. Còn ʿirfān nghiêng về sự nhận ra, sự biết bằng cả con người, và trong truyền thống huyền học Ba Tư chữ này còn là tên gọi của cả một dòng tri thức tâm linh. Bản Việt dịch là hiểu biết, giữ được nghĩa chung nhưng không giữ được sắc thái nhận ra ấy.
Về câu hỏi biết Thượng Đế là biết thế nào, có hai lối hiểu thường gặp. Lối thứ nhất đọc theo nghĩa rộng: con người được tạo ra để hướng lòng về Thượng Đế. Lối thứ hai đọc theo giáo nghĩa riêng của đạo Bahá'í, trong đó Thượng Đế tự thân vượt ngoài tầm hiểu của con người, và cái biết khả dĩ là nhận ra Ngài qua các vị Hiện thân của Ngài. Theo lối này, câu mở đầu Kitáb-i-Aqdas nói bổn phận đầu tiên của con người là nhận ra Đấng làm nơi rạng lên mặc khải của Thượng Đế, và đoạn XXIX trong tuyển tập Gleanings nói mục đích Thượng Đế tạo ra con người là để con người biết Đấng Tạo Hóa và tới được trước sự hiện diện của Ngài. Hai lối đọc không loại nhau, nhưng đặt trọng tâm khác nhau.
Về thứ tự hai chữ: biết đứng trước, thờ đứng sau. Người đọc quen Qur'an sẽ nhớ câu 51:56, nơi Thượng Đế phán rằng Ngài tạo ra jinn và loài người chỉ để họ thờ phụng Ngài. Bài nguyện Bahá'í giữ chữ thờ phụng ấy nhưng đặt chữ biết lên trước. Có người đọc thứ tự này như một chủ ý, thờ phụng phải đến từ chỗ đã nhận ra, có người xem đó chỉ là nhịp câu. Thư viện ghi cả hai cách.
Nghĩa sát chữ: trong lúc này. Chữ ḥīn trong tiếng Ả Rập có thể chỉ một khoảnh khắc ngắn hay một quãng thời gian dài hơn, tùy văn cảnh. Bản Việt dịch là ngay lúc này, và đó cũng là cách hiểu chung của các bản dịch.
Cụm này nối lời nguyện với giờ đọc. Bài được đọc trong một khoảng giờ đã định mỗi ngày, và lời chứng thứ hai được đặt đúng vào khoảnh khắc ấy. Người đọc không làm chứng về thân phận con người nói chung một lần cho xong, mà làm chứng lại mỗi ngày, ở chính lúc mình đang đứng đó.
Đây là cặp đối thứ nhất. ʿAjz là sự bất lực, không làm nổi. Quwwa là sức mạnh. Hậu tố ī là của tôi, hậu tố ka là của Ngài. Cấu trúc này lặp lại ba lần trong câu: một thứ của tôi đặt cạnh một thứ của Ngài, nối bằng chữ wa, và.
Nên để ý rằng bài không nói tôi bất lực trước sức mạnh của Ngài. Nguyên văn chỉ đặt hai thứ cạnh nhau: tôi làm chứng về sự bất lực của tôi và về sức mạnh của Ngài. Bản Việt thêm chữ trước để nối hai vế thành một hình ảnh, con người đứng trước uy lực. Đó là một lựa chọn của người dịch, và nó làm câu Việt dễ đọc, nhưng nguyên văn thì để hai lời chứng đứng song song.
Cặp đối thứ hai: ḍaʿf là sự yếu đuối, iqtidār là quyền năng, khả năng làm được điều mình định. Chữ iqtidār cùng gốc q, d, r với chữ qadīr, Đấng có quyền năng trên mọi sự, một danh xưng quen thuộc của Thượng Đế trong tiếng Ả Rập.
Đây là cụm cần nói rõ nhất trên trang này. Bản tiếng Anh chính thức và bản tiếng Việt của cộng đồng đều không có cặp này tách riêng. Trong hai bản ấy câu chỉ có hai cặp, bất lực với uy lực, nghèo nàn với phong phú, còn nguyên văn Ả Rập ở cả ba nguồn thư viện đối chiếu đều có đủ ba cặp. Cách hiểu hợp lẽ nhất là người dịch bản Anh đã gộp hai cặp gần nghĩa, bất lực và yếu đuối, sức mạnh và quyền năng, vào một cặp duy nhất. Thư viện chưa tìm thấy lời giải thích chính thức cho chỗ gộp này, nên chỉ ghi lại sự khác biệt, và trong cột tiếng Anh do thư viện dịch thì giữ đủ ba cặp. Mục Ba Cặp Đối ở dưới bày chỗ này thành bảng.
Về mặt chữ, hai bản chép đủ dấu mà thư viện đối chiếu đều ghi ḍaʿf với nguyên âm a. Tiếng Ả Rập cũng có dạng đọc ḍuʿf với nguyên âm u cho cùng nghĩa yếu đuối, nhưng không nguồn nào thư viện tra ghi dạng ấy cho bài này.
Cặp đối thứ ba: faqr là sự nghèo, sự thiếu thốn, ghanāʾ là sự giàu có, sự đầy đủ không cần gì. Bản Việt dịch là nghèo nàn trước sự phong phú của Ngài.
Chữ ghanāʾ nói về Thượng Đế thì mang nghĩa tự đủ hơn là giàu của cải. Người quen Qur'an sẽ nhận ra cặp chữ này trong câu 35:15, nơi loài người được gọi là những kẻ thiếu thốn cần tới Thượng Đế, còn Thượng Đế là Đấng tự đủ. Trong bài nguyện Bahá'í, cặp chữ ấy được chuyển thành lời của chính người đọc: không phải một lời được nói về con người, mà là lời con người tự nói về mình.
Nhìn cả ba cặp, có một chiều đi rõ ràng. Cặp thứ nhất nói về việc làm được hay không, cặp thứ hai về sức lực, cặp thứ ba về chỗ cần hay không cần. Có người đọc đó là ba mặt của cùng một thân phận, có người đọc đó là một bậc thang từ hành động xuống tới bản thể. Nguyên văn không tự giải thích, và thư viện không chọn thay quý vị.
Nghĩa sát chữ: không có thần linh nào ngoài Ngài. Đây là công thức độc thần quen thuộc của tiếng Ả Rập, nhưng ở ngôi thứ hai. Dạng quen hơn là ở ngôi thứ ba, lā ilāha illā huwa, không có thần linh nào ngoài Ngài ấy, như khi nói về Thượng Đế với người khác. Ở đây người đọc vẫn đang nói thẳng với Thượng Đế, nên câu tuyên xưng thành một lời thưa.
Dạng ngôi thứ hai này cũng có trong Qur'an, như ở câu 21:87, lời kêu của tiên tri Yūnus trong bóng tối. Bản Việt dịch Không có Thượng Đế nào khác ngoài Ngài, dùng chữ Thượng Đế cho chữ ilāh để giữ lối gọi thống nhất trong toàn bản kinh tiếng Việt.
Bài khép bằng hai danh xưng của Thượng Đế, cả hai đều có trong Qur'an. Al-Muhaymin có trong câu 59:23, giữa một chuỗi danh xưng. Al-Qayyūm có trong câu 2:255, câu mà người Hồi Giáo gọi là Câu Ngai, đi liền với chữ al-Ḥayy, Đấng Hằng Sống.
Chữ muhaymin khó dịch, và các nhà từ điển học Ả Rập hiểu khác nhau. Có cách hiểu là Đấng canh giữ, che chở. Có cách hiểu là Đấng trùm lên và làm chủ mọi sự. Có cách hiểu là Đấng làm chứng và giám sát. Bản Anh chính thức chọn nghĩa người cứu giúp lúc nguy nan, và bản Việt theo đó mà gọi là Đấng Cứu nạn. Thư viện dịch là Đấng canh giữ trùm khắp, để giữ cả nghĩa che chở lẫn nghĩa bao trùm.
Chữ qayyūm là dạng nhấn mạnh của gốc q, w, m, nghĩa là đứng. Đấng qayyūm là Đấng tự đứng vững không cần gì nâng đỡ, đồng thời là Đấng nâng giữ mọi thứ khác. Bản Việt gọi là Đấng Tự tồn, giữ được nửa nghĩa thứ nhất. Đặt hai danh xưng này ngay sau ba cặp đối là một cách khép bài rất chặt: con người vừa nhận mình bất lực, yếu và thiếu, thì Đấng được gọi tên cuối cùng là Đấng che chở và Đấng tự đứng vững.
IVBa Bài Bắt Buộc, Tín Đồ Chọn Một
Người mới tìm hiểu hay hỏi: người Bahá'í phải đọc bài này mỗi ngày à? Câu trả lời chính xác hơn là: người Bahá'í phải đọc một trong ba bài nguyện bắt buộc mỗi ngày, và bài ngắn là một trong ba lựa chọn ấy. Ba bài khác nhau rất xa về độ dài, về giờ đọc và về nghi thức đi kèm.
Lời dẫn đứng trước phần nguyện bắt buộc trong sách kinh Bahá'í tiếng Anh trích lời Shoghi Effendi, thư viện dịch ý như sau: nguyện bắt buộc hằng ngày có ba bài, tín đồ hoàn toàn tự do chọn bất cứ bài nào, nhưng có bổn phận đọc một bài, theo đúng những chỉ dẫn riêng đi kèm bài ấy. Sách Kinh Cầu Nguyện Baha'i tiếng Việt in lời dẫn cùng ý ở mục Về Kinh Cầu Nguyện Bắt Buộc: người tín đồ hoàn toàn tự do lựa chọn bất cứ bản nào trong ba bản, nhưng bắt buộc phải đọc một bản.
| Bài | Đọc mấy lần, lúc nào | Nghi thức đi kèm |
|---|---|---|
| Bài ngắn, ba câu | Một lần trong hai mươi bốn giờ, vào khoảng từ giữa trưa tới hoàng hôn | Rửa tay mặt, quay về Qiblih. Không có cử chỉ cúi quỳ nào được quy định. Khi được hỏi nên ngồi hay đứng, Bahá'u'lláh trả lời đứng trong dáng khiêm cung thì hợp hơn. |
| Bài vừa | Ba lần mỗi ngày: buổi sáng, buổi trưa và buổi tối | Rửa tay mặt kèm những câu riêng đọc trong lúc rửa, quay về Qiblih, có đứng, cúi và ngồi xen giữa các câu. |
| Bài dài | Một lần trong hai mươi bốn giờ, vào lúc nào người đọc thấy lòng mình khiêm hạ và khao khát | Rửa tay mặt, quay về Qiblih, bài dài nhiều đoạn, có đứng, giơ tay, quỳ, cúi trán và ngồi theo chỉ dẫn của từng đoạn. |
Giữa trưa nghĩa là khoảng nào
Dòng chỉ dẫn in trên bài ngắn ghi rằng bài đọc một lần trong hai mươi bốn giờ, vào buổi trưa. Sách tiếng Việt in đúng như vậy: Đọc một lần trong 24 giờ, vào buổi trưa. Người đọc lần đầu dễ hiểu là phải đọc đúng lúc đồng hồ chỉ mười hai giờ.
Luật của đạo cho một khoảng rộng hơn. Trong phần Hỏi và Đáp của Kitáb-i-Aqdas, câu 83, khi được hỏi buổi sáng, buổi trưa và buổi tối nghĩa là gì, Bahá'u'lláh trả lời đó là lúc mặt trời mọc, lúc giữa trưa và lúc mặt trời lặn, còn thời gian được phép đọc là từ sáng tới trưa, từ trưa tới hoàng hôn, và từ hoàng hôn tới hai giờ sau đó. Bản tóm lược luật in kèm Aqdas cũng ghi chữ trưa trong các bài nguyện bắt buộc là khoảng từ giữa trưa tới hoàng hôn. Như vậy người chọn bài ngắn có cả buổi chiều để đọc, bắt đầu từ lúc mặt trời qua đỉnh trời chứ không phải từ mười hai giờ đồng hồ, vì giờ mặt trời qua đỉnh xê dịch theo mùa và theo kinh độ nơi mình ở.
Đặt cạnh luật cầu nguyện của những truyền thống cùng vùng, lối ba bài cho chọn một là một nét riêng. Truyền thống Hồi Giáo giữ năm lần nguyện bắt buộc mỗi ngày với số rak'ah cố định. Bài chín rak'ah trong Kitáb-i-Aqdas vẫn còn theo khuôn nhiều lượt cúi quỳ ấy. Ba bài thay thế thì đi xa hơn: một bài ba lần mỗi ngày có cử chỉ, một bài dài có cử chỉ, và một bài ngắn không có cử chỉ nào được quy định, đọc một lần. Phần chú thích Aqdas giải thích rằng luật mới nhẹ hơn các luật trước về số lần và số lượt, và việc người tín đồ được tự chọn giữa ba bài là điều Shoghi Effendi nói rõ. Thư viện ghi sự khác biệt này như một sự kiện về cấu trúc nghi lễ, không xét bên nào đúng hơn.
VBa Cặp Đối Và Hai Bản Dịch
Người đặt nguyên văn Ả Rập cạnh bản tiếng Anh chính thức sẽ thấy ngay một chỗ lệch: câu thứ hai của nguyên văn có ba cặp đối, còn bản Anh chỉ có hai. Bản tiếng Việt của cộng đồng đi theo bản Anh, cũng hai cặp. Thư viện bày ra dưới đây để quý vị đối chiếu.
| Nguyên văn | Nghĩa sát chữ | Trong bản Việt của cộng đồng |
|---|---|---|
| بِعَجْزِي وَقُوَّتِكَ | sự bất lực của con và sức mạnh của Ngài | con thật là bất lực trước uy lực của Ngài |
| وَضَعْفِي وَاقْتِدَارِكَ | sự yếu đuối của con và quyền năng của Ngài | không tách riêng, ý được gộp vào cặp bất lực và uy lực |
| وَفَقْرِي وَغَنَائِكَ | sự thiếu thốn của con và sự đầy đủ của Ngài | và nghèo nàn trước sự phong phú của Ngài |
Vì sao có chỗ gộp ấy, thư viện chưa tìm thấy một lời giải thích chính thức, nên không kết luận. Có thể nêu hai điều đã biết. Một là cả ba nguồn nguyên văn mà thư viện đối chiếu, trong đó có bản in của Trung tâm Thế giới Bahá'í, đều có đủ ba cặp, nên đây không phải chỗ khác nhau giữa các bản chép tiếng Ả Rập. Hai là trong tiếng Anh, hai cặp bất lực với yếu đuối và sức mạnh với quyền năng rất gần nghĩa, dịch đủ cả hai dễ làm câu nặng và lặp. Người dịch lời nguyện để đọc thành tiếng thường phải cân giữa sát chữ và nhịp câu, và bản Anh này là bản dịch để đọc thành tiếng.
Với người Bahá'í, bản Anh của Shoghi Effendi có thẩm quyền như một bản dịch được đạo chấp nhận, và cộng đồng đọc theo bản ấy hay theo bản dịch ra tiếng mình. Chỗ lệch này vì thế không phải là lỗi cần sửa theo con mắt của tín đồ, mà là một đặc điểm của bản dịch. Thư viện nêu ra chỉ để quý vị đọc nguyên văn cho đủ.
Những chữ bản Việt chọn
Ngoài chỗ gộp hai cặp, bản tiếng Việt của cộng đồng còn có mấy lựa chọn chữ đáng biết khi đặt cạnh nguyên văn.
- Lạy Thượng Đế của con: lời gọi يَا إِلٰهِي được chuyển lên đầu câu, theo lối kinh nguyện tiếng Việt, trong khi nguyên văn đặt động từ làm chứng lên trước.
- Chứng nhận và thú nhận: một chữ Ả Rập được dịch hai cách ở hai chỗ, như đã nói ở mục Giải Nghĩa.
- Hiểu biết cho chữ ʿirfān và tôn thờ cho chữ ʿibāda: hai chữ Việt quen thuộc, dễ đọc thành tiếng.
- Trước: chữ nối thêm vào giữa hai vế của mỗi cặp, làm thành hình ảnh con người đứng trước Thượng Đế.
- Đấng Cứu nạn và Đấng Tự tồn: đi theo cách bản Anh hiểu hai danh xưng al-Muhaymin và al-Qayyūm.
Không có lựa chọn nào trong số này làm sai nghĩa. Chúng cho thấy bản Việt được làm ra để đọc, để cầu nguyện, chứ không để khảo cứu, và đó cũng là lý do thư viện giữ nguyên bản ấy trong cột tiếng Việt.
VITín Đồ Đọc Khi Nào Và Ra Sao
Đạo Bahá'í có rất ít nghi thức, và nguyện bắt buộc là một trong số ít chỗ có quy định cụ thể. Những điều dưới đây là điều chính văn và các văn bản có thẩm quyền của đạo ghi lại, thư viện thuật lại như người quan sát.
Một lần trong hai mươi bốn giờ, trong khoảng từ giữa trưa, lúc mặt trời qua đỉnh trời, tới lúc mặt trời lặn. Khoảng giờ này được nói rõ trong phần Hỏi và Đáp của Kitáb-i-Aqdas, câu 83.
Nguyện bắt buộc đọc riêng từng người, không có người đứng trước dẫn và đám đông đọc theo. Kitáb-i-Aqdas bỏ lối nguyện tập thể, trừ bài nguyện cho người chết. Sách giới thiệu của cộng đồng Bahá'í Việt Nam cũng ghi rõ các bản kinh bắt buộc chỉ do mỗi cá nhân cầu nguyện chứ không cầu nguyện chung.
Người đọc quay mặt về Qiblih قبلة, tức lăng Bahá'u'lláh ở Bahjí, gần Akka, bên bờ đông Địa Trung Hải. Theo phần chú thích của Aqdas, hướng này là điều kiện cố định của nguyện bắt buộc, còn những lời nguyện khác thì không buộc quay về hướng nào. Trang trụ của đạo trong thư viện đã tính hướng ấy từ Hà Nội rơi vào quãng 297 độ, từ Thành phố Hồ Chí Minh quãng 301 độ, tức hướng tây tây bắc.
Bài ngắn không quy định cử chỉ cúi hay quỳ. Trong phần Hỏi và Đáp của Aqdas, câu 81, khi được hỏi bài nguyện bắt buộc thứ ba nên đọc ngồi hay đứng, Bahá'u'lláh trả lời rằng đứng trong dáng khiêm cung thì nên hơn và hợp hơn.
Trước nguyện bắt buộc, người đọc rửa tay và rửa mặt. Phần chú thích Aqdas, chú 34, ghi rằng lệ rửa này mang ý nghĩa vượt ngoài việc làm sạch: dù vừa tắm xong, người đọc vẫn rửa tay mặt trước khi nguyện. Với bài vừa, lúc rửa có đọc những câu riêng. Với bài ngắn, chính văn chỉ quy định việc rửa.
Theo Kitáb-i-Aqdas, người không có nước để rửa thì đọc năm lần câu Nhân danh Thượng Đế, Đấng Tinh Khiết Nhất, Đấng Tinh Khiết Nhất, rồi vào nguyện. Phần Hỏi và Đáp, câu 51, mở điều này cho cả người mà dùng nước sẽ hại tới thân thể.
Ai giữ lệ này
Kitáb-i-Aqdas buộc nguyện và chay từ tuổi trưởng thành, và phần chú thích, chú 13, ghi tuổi trưởng thành về bổn phận tôn giáo là mười lăm tuổi, cho cả nam lẫn nữ. Trẻ con nhà Bahá'í thường học thuộc bài ngắn từ trước tuổi ấy, nhưng bổn phận bắt đầu từ mười lăm tuổi.
Luật cũng ghi những trường hợp được miễn. Theo chú 14, người đau ốm không giữ bổn phận nguyện và chay trong lúc bệnh, và người từ bảy mươi tuổi trở lên được miễn, tuổi này được nói rõ ở câu 74 phần Hỏi và Đáp. Theo chú 20, phụ nữ trong những ngày kinh nguyệt được miễn nguyện bắt buộc, thay vào đó rửa tay mặt và đọc một câu ngợi ca đã định chín mươi lăm lần mỗi ngày.
Một ngày của người chọn bài ngắn
Ghép các quy định lại, một ngày của người chọn bài ngắn diễn ra giản dị như sau. Sau giữa trưa, lúc nào thuận tiện trước khi mặt trời lặn, người ấy tìm một chỗ yên, rửa tay và rửa mặt, đứng quay về hướng Bahjí, đọc ba câu, bằng nguyên văn Ả Rập hay bằng bản dịch ra tiếng mình. Không cần tới đền thờ, không cần người chủ lễ, không cần đồ lễ. Toàn bộ việc ấy có thể xong trong một hai phút, ở nhà, ở chỗ làm hay ở bất cứ đâu.
Bên cạnh nguyện bắt buộc, chú 34 của Aqdas còn nhắc một lệ hằng ngày khác cũng đòi rửa tay mặt trước: lặp lại chín mươi lăm lần câu الله أبهى, Alláh-u-Abhá, Thượng Đế Vinh Quang Nhất. Hai lệ này tách biệt nhau, người Bahá'í giữ cả hai.
Về chỗ khác nhau giữa các nơi, đạo Bahá'í không chia thành những dòng có nghi thức riêng cho bài này như nhiều đạo lâu đời. Chỗ khác nhau nằm ở thứ tiếng: có người đọc nguyên văn Ả Rập học thuộc lòng, có người đọc bản dịch ra tiếng mẹ đẻ. Ở Việt Nam, sách kinh của cộng đồng in bài bằng tiếng Việt. Trên mạng, những dự án như The Utterance Project làm các đoạn ghi âm nguyên văn Ả Rập có phụ đề nhiều thứ tiếng, cho người muốn đọc theo âm gốc.
Thư viện ghi lại những điều trên để quý vị hiểu điều mình thấy khi một người bạn Bahá'í lặng lẽ đứng quay về một hướng vào buổi chiều. Mọi điều cụ thể về việc giữ lệ là việc của cộng đồng Bahá'í, và quý vị nên hỏi chính họ.
VIINhững Chỗ Hay Hiểu Lầm
Bài ngắn và được nhắc nhiều, nên cũng hay bị hiểu lệch, nhất là với người quen luật cầu nguyện của đạo khác. Sáu điểm dưới đây là những chỗ thư viện gặp thường hơn cả.
Không. Có ba bài nguyện bắt buộc, và mỗi tín đồ chọn một bài để giữ. Shoghi Effendi nói rõ người tín đồ hoàn toàn tự do chọn, nhưng có bổn phận đọc một bài.
Không. Ba bài là ba văn bản riêng, lời lẽ khác nhau, giờ đọc và nghi thức khác nhau. Bài ngắn không trích từ bài dài hay bài vừa, và đọc bài ngắn là giữ trọn bổn phận chứ không phải giữ một phần.
Chữ trưa trong luật chỉ một khoảng, từ lúc mặt trời qua đỉnh trời tới lúc mặt trời lặn, theo phần Hỏi và Đáp của Kitáb-i-Aqdas, câu 83. Người đọc có cả buổi chiều để chọn lúc.
Không. Qiblih của đạo Bahá'í là lăng Bahá'u'lláh ở Bahjí, gần Akka. Hướng ấy chỉ bắt buộc khi đọc nguyện bắt buộc, còn những lời nguyện khác thì không buộc hướng nào.
Không. Nguyện bắt buộc đọc riêng từng người. Đạo Bahá'í không có tu sĩ hay người chủ lễ, và lời nguyện duy nhất đọc chung theo luật là bài nguyện cho người chết.
Gần đủ, nhưng không trọn. Nguyên văn Ả Rập có ba cặp đối: bất lực và sức mạnh, yếu đuối và quyền năng, thiếu thốn và đầy đủ. Bản Anh chính thức và bản Việt của cộng đồng chỉ có hai cặp. Cột tiếng Anh của thư viện giữ đủ ba.
?Hỏi Đáp Nhanh
Kinh nguyện bắt buộc ngắn của đạo Bahá'í là gì
Là một trong ba bài nguyện bắt buộc hằng ngày do Bahá'u'lláh ban ra bằng tiếng Ả Rập, và là bài ngắn nhất, chỉ ba câu, hai mươi ba từ. Bài gồm một lời làm chứng rằng Thượng Đế tạo ra con người để biết Ngài và thờ phụng Ngài, một lời làm chứng về sự bất lực, yếu đuối và thiếu thốn của con người trước sức mạnh, quyền năng và sự đầy đủ của Thượng Đế, và câu tuyên xưng không có thần linh nào ngoài Ngài. Người Việt theo đạo gọi bài này là Kinh Cầu Nguyện Bắt Buộc Ngắn Nhất.
Kinh nguyện bắt buộc ngắn đọc vào lúc nào
Một lần trong hai mươi bốn giờ, vào buổi trưa. Theo phần Hỏi và Đáp của Kitáb-i-Aqdas, câu 83, và bản tóm lược luật in kèm, buổi trưa ở đây là cả khoảng từ lúc mặt trời qua đỉnh trời tới lúc mặt trời lặn, không phải đúng mười hai giờ đồng hồ.
Vì sao bản tiếng Việt và bản tiếng Anh chỉ có hai cặp đối
Nguyên văn Ả Rập có ba cặp: عَجْز và قُوَّة, bất lực và sức mạnh, ضَعْف và اقْتِدَار, yếu đuối và quyền năng, فَقْر và غَنَاء, thiếu thốn và đầy đủ. Bản Anh chính thức của Shoghi Effendi gộp hai cặp đầu vốn gần nghĩa thành một, và bản Việt của cộng đồng đi theo bản Anh. Thư viện chưa tìm thấy lời giải thích chính thức cho chỗ gộp này, nên chỉ ghi lại sự khác biệt.
Người Bahá'í có phải rửa tay rửa mặt trước khi đọc không
Có. Theo Kitáb-i-Aqdas và phần chú thích, chú 34, người đọc rửa tay và rửa mặt trước mỗi bài nguyện bắt buộc, kể cả khi vừa tắm xong. Không có nước, hay dùng nước sẽ hại thân thể, thì đọc năm lần một câu đã định thay cho việc rửa. Bài ngắn chỉ đòi việc rửa, còn những câu đọc trong lúc rửa là phần đi kèm bài vừa.
Khi đọc kinh bắt buộc người Bahá'í quay về hướng nào
Quay về Qiblih, tức lăng Bahá'u'lláh ở Bahjí, gần Akka, bên bờ đông Địa Trung Hải, nơi ông qua đời năm 1892. Từ Việt Nam hướng ấy là hướng tây tây bắc, quãng 297 độ từ Hà Nội và 301 độ từ Thành phố Hồ Chí Minh theo phép tính của thư viện. Hướng này chỉ bắt buộc với nguyện bắt buộc, không bắt buộc với những lời nguyện khác.