VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Namokar Mantra

णमोकार मंत्र · Navkar Mantra, Namaskāra Mantra, Pañca Namaskāra, Navkar Mahāmantra

Chín dòng tiếng Prakrit mà người Kỳ Na nào cũng thuộc, kính lễ năm bậc theo phẩm chất chứ không theo tên người, kèm nguyên văn Devanagari, phiên âm IAST, dịch Việt, dịch Anh và giải nghĩa từng dòng

Thuộc đạo
Kỳ Na Giáo
Niên đại
Hai dòng đầu có trên bia Hathigumpha, quãng thế kỷ 2 tới 1 trước Công nguyên
Dòng thứ nhất có trên một bia khắc ở hang Pale, bang Maharashtra, và hai dòng đầu có trên bia Hathigumpha của vua Kharavela ở Odisha, cả hai được xếp quãng thế kỷ 2 tới 1 trước Công nguyên, niên đại còn được bàn. Đủ năm dòng thì thấy trong các bản kinh viết về sau. Theo nhà sử học M. A. Dhaky, bốn dòng cūlikā không sớm hơn thế kỷ 6 Công nguyên.
Độ dài
Chín dòng, 68 âm tiết
Năm dòng kính lễ gồm 35 âm tiết, bốn dòng cūlikā gồm 33 âm tiết, cộng 68, theo cách đếm quen trong truyền thống, tính ha va i ở chữ cuối là ba âm. Bên Digambara thường chỉ đọc năm dòng đầu, tức 35 âm tiết.
Thường tụng khi
Lúc thức dậy, trước bữa ăn, trước khi đi xa, bên người lâm chung, và ở đầu gần như mọi nghi lễ

ITrước Khi Đọc

Nếu phải chọn một lời mà mọi người Kỳ Na đều thuộc, bất kể theo dòng nào, sống ở Gujarat hay ở Karnataka, thì đó là lời này. Chín dòng tiếng Prakrit, đọc chậm chưa tới một phút, mở đầu bằng năm lần cúi đầu trước năm bậc đáng kính và khép lại bằng bốn dòng nói về giá trị của chính năm lần cúi đầu ấy. Người Kỳ Na thường được dạy câu này từ rất nhỏ, đọc nó khi mở mắt buổi sáng, và nhiều người nghe nó lần cuối bên giường bệnh.

Tên gọi phổ biến nhất trong tiếng Việt và tiếng Anh là Namokar Mantra, theo dạng chữ णमोकार mà người Kỳ Na vùng Bắc Ấn hay dùng. Bên Gujarat và Rajasthan người ta quen gọi Navkar, và trong sách vở còn gặp các tên Namaskāra Mantra, Pañca Namaskāra, nghĩa là năm lời kính lễ, hoặc Mahāmantra, câu chú lớn. Tên Navkar đi ra từ chữ namaskāra qua dạng Prakrit namokkāra. Nhiều người nghe trong đó chữ nav, số chín, và nối với chín dòng của câu chú, nhưng đó là một liên tưởng quen hơn là gốc chữ.

Câu chú không viết bằng tiếng Phạn mà bằng Prakrit, tên chung cho các thứ tiếng nói của dân chúng Ấn Độ cổ, gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày hơn tiếng Phạn của hàng Bà La Môn. Kinh điển Kỳ Na xưa nhất được truyền bằng tiếng Ardhamāgadhī, một dạng Prakrit của vùng Magadha, nơi Mahavira giảng đạo. Chính vì thế, người quen tiếng Phạn đọc câu chú này sẽ thấy nhiều chữ vừa quen vừa lạ: āyariya thay cho ācārya, uvajjhāya thay cho upādhyāya, savva thay cho sarva.

Điều đầu tiên người mới đọc nên để ý là câu chú không có tên riêng nào. Không có tên Mahavira, không có tên vị Tirthankara nào, không có tên một vị thầy hay một ngôi đền. Nó kính lễ năm hạng người theo phẩm chất họ đạt được, và vì thế cả hai dòng lớn Digambara và Svetambara cùng đọc, cùng coi là lời tụng căn bản nhất của đạo.

Trang này trình bày trọn chín dòng theo cách đọc của phái Svetambara, gồm năm dòng kính lễ và bốn dòng kết gọi là cūlikā, nghĩa là phần chóp, phần phụ thêm. Bên Digambara thường chỉ đọc năm dòng đầu. Kèm theo là phiên âm IAST, bản dịch tiếng Việt và tiếng Anh của thư viện, phần giải nghĩa từng dòng, một mục về năm bậc đáng kính, một mục về con số 108, và phần tả cách tín đồ đọc câu này trong đời sống. Thư viện trình bày để quý vị hiểu, không đứng ra nói thay người Kỳ Na điều gì.

Theo sử liệu

Về lai lịch văn bản, sử liệu cho thấy câu chú không ra đời một lần mà lớn dần qua nhiều thế kỷ. Dấu vết xưa nhất là những bia khắc. Một bia ngắn ở hang Pale, bang Maharashtra, xếp quãng thế kỷ 2 tới 1 trước Công nguyên, chỉ ghi dòng thứ nhất. Bia Hathigumpha trên đồi Udayagiri gần Bhubaneswar, bang Odisha, do vua Kharavela xứ Kalinga cho khắc, mở đầu bằng hai lời kính lễ các bậc arahanta và các bậc siddha. Bản đọc của B. M. Barua in năm 1929 ghi dòng mở đầu ấy là Namo ar(i)hamtanam, namo sava-sidhanam. Niên đại bia này cũng được xếp quãng thế kỷ 2 tới 1 trước Công nguyên, và giới sử học chưa thống nhất con số chính xác.

Theo phần lớn các bản đọc, hai bia ấy đều viết namo với chữ n thường, và viết arahanta chứ chưa phải arihanta. Riêng bản đọc của Barua để chữ i trong ngoặc, tức người đọc bia chưa chắc về nguyên âm ấy. Theo phân tích của nhà sử học M. A. Dhaky, hai dòng đầu khi ấy được dùng như lời maṅgala, tức lời cát tường mở đầu cho văn bản và nghi lễ. Đủ năm bậc thì thấy trong bản rút gọn của kinh Vyākhyāprajñapti, còn gọi Bhagavatī Sūtra, bên Svetambara. Các bản kinh viết về sau như Āvaśyaka Sūtra bên Svetambara và Ṣaṭkhaṇḍāgama bên Digambara dần đổi sang dạng chữ của tiếng Mahārāṣṭrī Prakrit, tức ṇamo với chữ ṇ uốn lưỡi, và arihanta thay cho arahanta. Niên đại của các bản kinh này cũng còn được bàn, nên thư viện chỉ ghi thứ tự trước sau mà không ghi năm.

Bốn dòng cūlikā là phần muộn nhất. Theo Dhaky, chúng không xuất hiện trong các nguồn cổ và không sớm hơn thế kỷ 6 Công nguyên. Truyền thống Svetambara gọi trọn chín dòng là Pañcamaṅgala Mahāśrutaskandha, khối kinh lớn về năm điều cát tường, và gắn phần này với kinh Mahānisīha. Bên Digambara không nhận bộ kinh ấy, và đó là một lý do bên này thường dừng ở năm dòng.

Thư viện ghi những điều trên theo sử liệu. Theo giáo nghĩa thì khác: nhiều người Kỳ Na tin câu chú là vĩnh cửu, không do ai soạn, có từ vô thủy và được mọi Tirthankara trong mọi thời truyền lại. Hai cách nhìn ấy nói về hai chuyện khác nhau, một bên là dấu vết chữ viết còn lại, một bên là niềm tin về nguồn gốc, và thư viện đặt chúng cạnh nhau chứ không phân xử.

IIToàn Văn Chín Dòng

Nguyên văn Prakrit theo bản chín dòng thông dụng của phái Svetambara, chữ Devanagari. Năm dòng đầu là phần cả hai dòng Digambara và Svetambara cùng đọc, bốn dòng sau là phần cūlikā. Cột Việt và cột Anh do thư viện dịch.
CâuNguyên văn PrakritPhiên âm IASTTiếng ViệtTiếng Anh
1णमो अरिहंताणंṇamo arihantāṇaṃKính lễ các bậc Arihanta, những vị đã đạt cái biết trọn vẹn mà còn ở đời.I bow to the Arihantas, those who have reached perfect knowledge while still living in the world.
2णमो सिद्धाणंṇamo siddhāṇaṃKính lễ các bậc Siddha, những linh hồn đã giải thoát trọn vẹn.I bow to the Siddhas, the souls that are wholly liberated.
3णमो आयरियाणंṇamo āyariyāṇaṃKính lễ các bậc Ācārya, những vị thầy đứng đầu tăng đoàn.I bow to the Ācāryas, the teachers who lead the monastic order.
4णमो उवज्झायाणंṇamo uvajjhāyāṇaṃKính lễ các bậc Upādhyāya, những vị thầy dạy kinh.I bow to the Upādhyāyas, the teachers of the scriptures.
5णमो लोए सव्व साहूणंṇamo loe savva sāhūṇaṃKính lễ hết thảy các bậc Sādhu trong thế gian.I bow to all the Sādhus in the world.
6एसो पंच णमोक्कारोeso pañca ṇamokkāroNăm lời kính lễ nàyThis fivefold salutation
7सव्व पावप्पणासणोsavva pāvappaṇāsaṇotiêu trừ hết thảy điều ác,destroys every evil,
8मंगलाणं च सव्वेसिंmaṅgalāṇaṃ ca savvesiṃvà trong hết thảy những điều cát tường,and among all things auspicious
9पढमं हवइ मंगलंpaḍhamaṃ havaï maṅgalaṃlà điều cát tường đứng đầu.it is the foremost auspicious one.

IIIGiải Nghĩa Từng Dòng

Phần dưới đi theo đúng thứ tự của câu chú. Mục đầu giải riêng chữ mở đầu của cả năm dòng, rồi năm mục cho năm bậc, rồi hai mục cho bốn dòng cūlikā. Chỗ nào các bản chép khác nhau, hay các nhà giảng hiểu khác nhau, thư viện ghi thẳng ra để quý vị tự đối chiếu.

णमो
ṇamo, cũng viết namo

Chữ đầu tiên của năm dòng là ṇamo, cùng gốc với chữ Phạn namaḥ, nghĩa là cúi mình, kính lễ. Người Việt thật ra đã quen chữ này từ lâu mà không để ý: hai tiếng Nam mô trong các câu niệm ở chùa Việt là âm Hán Việt của chữ Hán 南無, vốn dùng để ghi âm chính chữ namo ấy. Chữ Nam mô của nhà Phật và chữ ṇamo trong câu chú Kỳ Na là hai nhánh của một gốc Ấn Độ chung, dùng ở hai đạo khác nhau.

Về mặt chữ, các bản viết khác nhau ở phụ âm đầu. Bên Digambara và phần lớn sách in theo lối học thuật viết णमो, ṇamo, với chữ ṇ uốn lưỡi, theo quy luật âm của tiếng Mahārāṣṭrī Prakrit. Nhiều bản bên Svetambara viết नमो, namo, với chữ n thường, giữ dạng Ardhamāgadhī cũ hơn, cũng là dạng thấy trên bia Hathigumpha. Có nguồn giải thích rằng bên Svetambara giữ dạng cũ vì tin các Tirthankara giảng bằng tiếng Ardhamāgadhī. Khi đọc thành tiếng, hai cách viết này nghe gần như nhau, và không bên nào coi cách viết của bên kia là sai lời.

Có một chi tiết ngữ pháp đáng biết. Trong tiếng Phạn, người được kính lễ đứng ở tặng cách, như namaḥ śivāya, kính lễ thần Shiva. Tiếng Prakrit đã bỏ tặng cách và dùng thuộc cách thay vào, nên cả năm danh từ trong câu chú đều mang đuôi thuộc cách số nhiều āṇaṃ hay ūṇaṃ. Đuôi số nhiều ấy không phải chuyện nhỏ: câu chú kính lễ các bậc arihanta, các bậc siddha, tức cả một hạng người, chứ không kính lễ một vị.

णमो अरिहंताणं
ṇamo arihantāṇaṃ

Dòng thứ nhất kính lễ các bậc arihanta. Theo giáo nghĩa Kỳ Na, đó là những linh hồn đã diệt được bốn loại nghiệp che lấp, đạt kevala jñāna, cái biết trọn vẹn không còn bị che, mà vẫn còn mang thân và còn sống giữa đời. Hai mươi bốn vị Tirthankara, những người lập lại bến qua sông sinh tử cho chúng sinh trong mỗi chu kỳ thời gian, đều thuộc bậc này khi còn tại thế.

Chữ này có hai dạng viết, và mỗi dạng kéo theo một cách hiểu. Dạng arihanta thường được giảng là ari, kẻ thù, cộng hanta, người diệt, tức người đã diệt kẻ thù, và kẻ thù ở đây là tham, sân, kiêu mạn, dối trá bên trong chứ không phải ai bên ngoài. Dạng xưa hơn, arahanta, là dạng có trên bia Hathigumpha và trong nhiều bản Svetambara, đi ra từ gốc động từ arh, xứng đáng, và nghĩa là bậc xứng đáng được tôn kính. Một số sách giảng còn nêu dạng thứ ba, aruhanta, hiểu là người không còn nảy mầm tái sinh. Các nhà giảng Kỳ Na thường nhắc cả mấy cách hiểu này cạnh nhau, và trong câu chú hiện nay phần lớn các bản viết अरिहंताणं.

Người đọc quen kinh Phật sẽ nhận ra chữ arahant của tiếng Pāli, mà chữ Hán phiên là A La Hán. Đó cũng là cùng một gốc chữ. Nhưng nghĩa trong hai đạo không trùng: trong Phật Giáo, A La Hán là bậc đã dứt phiền não, còn trong Kỳ Na, arihanta là bậc có cái biết trọn vẹn, và các Tirthankara nằm trong bậc ấy.

Điều làm nhiều người ngạc nhiên là arihanta đứng trước siddha, dù theo giáo nghĩa siddha mới là bậc đã giải thoát hoàn toàn. Lời giải thích quen được nêu là: arihanta còn ở đời nên còn giảng đạo, và chính nhờ lời giảng của họ mà người ta mới biết có siddha và có đường giải thoát. Kính lễ người chỉ đường trước là cách câu chú nhận món nợ ấy.

णमो सिद्धाणं
ṇamo siddhāṇaṃ

Dòng thứ hai kính lễ các bậc siddha, chữ này nghĩa gốc là đã thành, đã trọn. Theo giáo nghĩa, siddha là linh hồn đã rũ sạch cả tám loại nghiệp, không còn thân, không còn tái sinh, và theo đúng bản tính nhẹ bổng của linh hồn mà bay lên chóp cao nhất của vũ trụ, nơi gọi là siddhaśilā, ở đó mãi trong cái biết và niềm an lạc vô biên.

Mọi arihanta, khi hết đời sống cuối cùng, đều thành siddha. Nhưng không phải siddha nào cũng từng là Tirthankara. Theo giáo nghĩa, số linh hồn đã giải thoát là vô lượng, phần lớn không ai biết tên, và dòng này kính lễ tất cả họ.

Trên bia Hathigumpha, dòng này được đọc là namo sava-sidhanam, tức có thêm chữ sava, hết thảy, trước chữ siddha. Câu chú hiện nay không còn chữ ấy ở dòng thứ hai.

णमो आयरियाणं
ṇamo āyariyāṇaṃ

Dòng thứ ba kính lễ các bậc ācārya, tiếng Prakrit là āyariya. Phụ âm c giữa hai nguyên âm của tiếng Phạn rơi đi trong tiếng Prakrit và để lại âm y, nên ācārya thành āyariya. Đây là một quy luật âm quen của nhóm tiếng này, giống như cách loka thành loe ở dòng thứ năm.

Ācārya là vị đứng đầu một nhóm tu sĩ, lo giữ giới luật, giữ kinh điển, quyết những việc lớn của tăng đoàn, và dẫn dắt cả tu sĩ lẫn cư sĩ. Từ ba dòng này trở đi, câu chú chuyển từ những bậc đã giác ngộ sang những người còn đang tu. Ācārya, upādhyāya và sādhu chưa giải thoát, nhưng họ là những người giữ cho con đường còn được đi. Ba mươi sáu đức tính của bậc này được kê trong mục con số 108 ở dưới.

णमो उवज्झायाणं
ṇamo uvajjhāyāṇaṃ

Dòng thứ tư kính lễ các bậc upādhyāya, tiếng Prakrit là uvajjhāya. Âm p giữa hai nguyên âm chuyển thành v, và cụm dhy chuyển thành jjh, nên upādhyāya thành uvajjhāya. Người đọc chậm sẽ thấy nhịp của dòng này nặng hơn các dòng khác, chính vì cụm phụ âm kép ấy.

Upādhyāya là vị thầy chuyên dạy kinh, người thuộc và giảng Agama cho các tu sĩ trẻ. Nếu ācārya lo việc dẫn dắt và giới luật, thì upādhyāya lo việc truyền chữ. Trong một đạo mà kinh điển được truyền miệng qua nhiều thế kỷ trước khi được chép lại, và bên Digambara tin phần lớn kinh gốc đã thất truyền, vai trò của người giữ và dạy kinh được coi trọng tới mức có riêng một dòng trong câu chú căn bản.

Hai mươi lăm đức tính của bậc này, theo cách đếm bên Svetambara, ứng với mười một bộ Aṅga, mười hai bộ Upāṅga, và hai mục nữa về hạnh và phép tu mà vị ấy phải nắm vững.

णमो लोए सव्व साहूणं
ṇamo loe savva sāhūṇaṃ

Dòng thứ năm dài nhất, và là dòng duy nhất có thêm chữ. Loe là loke của tiếng Phạn, nghĩa là trong thế gian. Savva là sarva, hết thảy. Sāhu là sādhu, người tu. Cả dòng nghĩa là kính lễ hết thảy các bậc tu hành trong thế gian.

Chữ sādhu ở đây gồm mọi tu sĩ đã thọ năm đại nguyện, cả nam lẫn nữ. Tu sĩ nữ thường được gọi là sādhvī, và trong cách hiểu của cả hai dòng, dòng kính lễ này bao gồm họ. Ở đây câu chú chạm tới hàng người đông nhất trong năm bậc, những người mà cư sĩ gặp hằng ngày trên đường khất thực.

Vì sao hai chữ loe và savva chỉ xuất hiện ở dòng này, các nhà giảng hiểu khác nhau. Một cách hiểu cho rằng hai chữ ấy nhấn vào tính bao trùm: kính lễ mọi người tu, không phân biệt dòng, nhóm hay thầy truyền, miễn là giữ đúng hạnh. Một cách hiểu khác nói hai chữ này phải được hiểu ngầm cho cả năm dòng, chỉ viết ra một lần ở cuối. Lại có cách giảng nói chữ thế gian ở đây chỉ vùng hai châu rưỡi trong vũ trụ luận Kỳ Na, nơi loài người sinh sống, và vì thế gồm cả những người tu ở những cõi mà ta không biết tới. Các cách hiểu này không loại trừ nhau.

Về mặt chữ, có bản viết tách सव्व साहूणं, có bản viết liền सव्वसाहूणं như một từ ghép. Đọc lên thì như nhau.

एसो पंच णमोक्कारो, सव्व पावप्पणासणो
eso pañca ṇamokkāro, savva pāvappaṇāsaṇo

Tới đây bắt đầu phần cūlikā. Hai dòng này đi thành một câu: eso là eṣaḥ, cái này, pañca là năm, ṇamokkāro là namaskāraḥ, lời kính lễ, pāva là pāpa, điều ác, và paṇāsaṇo là praṇāśanaḥ, cái diệt trừ. Nghĩa là năm lời kính lễ này diệt trừ mọi điều ác.

Chữ pāpa trong đạo Kỳ Na có nghĩa hẹp hơn chữ tội trong tiếng Việt thường ngày. Nó chỉ loại nghiệp xấu, thứ vật chất vi tế bám vào linh hồn do việc làm, lời nói và ý nghĩ gây hại. Vì thế khi câu chú nói diệt trừ điều ác, người Kỳ Na hiểu đó là nói về việc gỡ bớt nghiệp.

Các nhà giảng hiểu khác nhau về cơ chế của việc ấy. Một cách hiểu nhấn vào tâm người đọc: đạo Kỳ Na không có đấng nào ban ơn hay tha tội, nên sức của câu chú nằm ở trạng thái tâm kính phục những phẩm chất cao, và chính trạng thái ấy làm nghiệp nhẹ đi. Một cách hiểu phổ biến trong dân gian thì coi bản thân chuỗi âm là có sức, đọc đúng và đọc nhiều thì được che chở. Hai cách hiểu cùng có mặt trong đời sống đạo.

Về mặt chữ, có bản viết णमोक्कारो, có bản viết णमुक्कारो hay नमुक्कारो, và có bản chỉ viết một chữ k. Nghĩa không đổi.

मंगलाणं च सव्वेसिं, पढमं हवइ मंगलं
maṅgalāṇaṃ ca savvesiṃ, paḍhamaṃ havaï maṅgalaṃ

Hai dòng cuối nối tiếp câu trước: maṅgalāṇaṃ ca savvesiṃ là và trong hết thảy những điều cát tường, paḍhamaṃ là prathamam, đứng đầu, havaï là bhavati, thì là, và maṅgalaṃ là điều cát tường. Cả câu nói rằng năm lời kính lễ ấy là điều cát tường đứng đầu trong mọi điều cát tường.

Chữ maṅgala ở đây nối lại với chức năng cổ nhất của câu chú. Như phần lai lịch đã nói, hai dòng đầu từng được dùng làm lời cát tường mở đầu văn bản và nghi lễ. Bốn dòng cūlikā như tự nói ra điều mà người ta đã làm với câu chú từ lâu: đặt nó ở đầu mọi việc.

Ở dòng này các bản chép khác nhau nhiều nhất. Thư viện theo bản ghi मंगलाणं liền một chữ, là thuộc cách số nhiều của maṅgala. Có bản, trong đó có bảng chữ của Wikipedia tiếng Anh và trang thejainreligion.in, viết tách मंगला णं, đọc thành tiếng thì như nhau. Chữ cuối, thư viện theo bản ghi हवइ với chữ i ngắn đứng riêng, như bản của Jainkart và culturalsamvaad.com. Nhiều bản khác ghi हवई với i dài. Trong phiên âm, thư viện viết havaï với dấu hai chấm trên chữ i để chỉ rằng a và i đọc tách hai âm, ha va i, chứ không nhập thành một nguyên âm đôi. Nhiều sách chỉ viết havai.

IVNăm Bậc Đáng Kính Và Vì Sao Không Có Tên Ai

Năm hạng người được kính lễ trong câu chú có tên chung là Pañca Parameṣṭhi, nghĩa là năm bậc đứng ở chỗ cao nhất. Người Kỳ Na gặp năm bậc này không chỉ trong câu chú mà ở khắp nơi: trên lá cờ đạo với năm dải màu, trên các tấm đồ hình thờ, trên những pho tượng năm bậc đặt chung một bệ ở một số đền Digambara. Bảng dưới đây xếp năm bậc theo thứ tự câu chú.

Năm bậc Pañca Parameṣṭhi. Cột chữ trong câu chú ghi dạng gốc của danh từ, bỏ đuôi thuộc cách số nhiều. Nguồn: Pravin K. Shah, 108 Attributes of the Five Supreme Beings, Ban Giáo dục JAINA, và Jain Heritage Centres mục Jain Flag.
BậcChữ trong câu chúLà aiSố đức tính, bản SvetambaraMàu trên cờ đạo
ArihantaअरिहंतBậc đã đạt cái biết trọn vẹn, còn thân, còn giảng đạo. Các Tirthankara thuộc bậc này khi còn tại thế12Trắng
Siddhaसिद्धLinh hồn đã giải thoát trọn, không còn thân, ở chóp cao nhất của vũ trụ8Đỏ
ĀcāryaआयरियVị thầy đứng đầu tăng đoàn, giữ giới luật và dẫn dắt36Vàng
Upādhyāyaउवज्झायVị thầy chuyên dạy kinh cho tu sĩ25Xanh lục
SādhuसाहुMọi tu sĩ nam và nữ đã thọ năm đại nguyện27Xanh sẫm, có nơi vẽ màu đen

Có hai cách chia năm bậc này mà các sách giảng hay dùng. Cách thứ nhất chia theo mức đạt được: hai bậc đầu là deva, bậc đã giác ngộ, ba bậc sau là guru, bậc thầy còn đang tu. Cách thứ hai chia theo việc có thân hay không: chỉ siddha là không còn thân, bốn bậc còn lại đều là người sống. Cả hai cách đều cho thấy câu chú không kính lễ thần linh theo nghĩa đấng tạo hóa, vì đạo Kỳ Na không có đấng sáng thế. Năm bậc đều là con người, hay đã từng là con người, đi được tới đó bằng sức tu của chính mình.

Năm bậc còn được đặt vào tấm đồ hình thờ gọi là Siddhacakra, phổ biến bên Svetambara. Ở đó năm bậc đứng cùng bốn đức căn bản, thấy đúng, biết đúng, làm đúng và khổ hạnh, thành chín ô gọi là navapada. Mỗi năm hai lần, vào tháng Caitra và tháng Āśvina theo lịch Ấn Độ, nhiều người Svetambara giữ kỳ chay chín ngày gọi là Āyambil Oli để thờ chín ô ấy, mỗi ngày chỉ ăn một bữa đồ nấu trơn không gia vị, không dầu, không sữa.

Vì sao câu chú không nêu tên một vị nào

Đây là đặc điểm mà người ngoài đạo thấy lạ nhất khi đọc câu chú. Phần lớn lời tụng căn bản của các đạo đều gọi tên một đấng, một vị thầy hay một vị thần. Câu này thì không. Nó không nhắc Mahavira, người mà sử học coi là vị thầy gần nhất của đạo. Nó không nhắc Parshvanatha, không nhắc Rishabhanatha, vị Tirthankara thứ nhất theo giáo nghĩa. Nó chỉ nêu năm chức danh, và đặt cả năm ở số nhiều.

Người Kỳ Na giải thích điều này bằng chính giáo nghĩa của đạo. Cái được kính lễ là guṇa, phẩm chất, chứ không phải con người mang phẩm chất ấy. Ai đạt cái biết trọn vẹn thì là arihanta, dù người ấy sống ở thời nào, tên gì, thuộc dòng nào. Ai giữ đủ hạnh của người tu thì là sādhu, dù chưa ai biết tới. Kính lễ theo phẩm chất nghĩa là kính lễ luôn cả những người chưa có mặt, những người sẽ đạt tới đó trong tương lai.

Theo vũ trụ luận Kỳ Na, còn có những cõi khác, như cõi Mahāvideha, nơi các Tirthankara vẫn đang sống và giảng đạo ngay lúc này, và truyền thống Kỳ Na nêu tên hai mươi vị, như Simandhar Swami. Một câu chú nêu tên thì chỉ ôm được những vị có tên trong danh sách. Một câu chú nêu phẩm chất thì ôm được cả những vị ở cõi ấy, cả những siddha vô danh trong vô lượng thời gian.

Lý do thứ hai nằm ở chỗ đạo Kỳ Na hiểu về các bậc đã giải thoát. Theo giáo nghĩa, một siddha đã lìa hết mọi ràng buộc, kể cả ràng buộc với người đang cầu mình, nên không nghe lời khấn và không ban ơn. Vì thế câu chú không xin gì cả. Nó không nói xin che chở con, không nói xin cho con được. Nó chỉ cúi đầu. Việc gọi tên một vị để cầu xin điều gì vì thế không có chỗ trong cấu trúc của lời này.

Theo giáo nghĩa

Theo giáo nghĩa Kỳ Na, mỗi linh hồn tự trói mình bằng nghiệp và tự gỡ bằng tu tập, không ai gỡ thay được. Năm bậc trong câu chú vì thế không phải những đấng cứu độ, mà là những tấm gương. Kính lễ họ là để tâm hướng về phẩm chất họ đã đạt, và theo cách giảng của nhiều vị thầy, chính cái hướng tâm ấy làm cho nghiệp nhẹ đi. Theo một cách giải có trong truyền thống Digambara, âm Om cũng được ghép từ chữ đầu của năm bậc: a của arihanta, a của aśarīra tức bậc không thân là siddha, ā của ācārya, u của upādhyāya, và m của muni tức người tu, đọc liền thành Om.

Theo sử liệu

Về mặt sử liệu, việc không nêu tên còn có một hệ quả thực tế rất lớn. Hai dòng Digambara và Svetambara tách nhau qua nhiều thế kỷ đầu Công nguyên, và khác nhau về kinh điển, về y phục tu sĩ, về đời Mahavira, về việc nữ giới có đạt giải thoát ngay trong thân nữ hay không. Nhưng hai bên không cần tranh nhau về câu chú này, vì trong năm dòng không có tên ai, không có chi tiết tiểu sử nào để hai bên kể khác nhau. Các học giả viết về đạo Kỳ Na thường nêu Namokar như một trong số ít điểm mọi nhánh cùng giữ nguyên.

VMột Trăm Lẻ Tám Đức Tính Và Chuỗi 108 Hạt

Người Kỳ Na lần chuỗi khi đọc Namokar, và chuỗi thường có 108 hạt. Con số này không riêng của đạo Kỳ Na, người Ấn Độ Giáo và người Phật Giáo cũng dùng chuỗi 108 hạt. Nhưng bên Svetambara có một cách giải riêng gắn thẳng con số ấy với năm bậc trong câu chú: cộng số đức tính của năm bậc lại thì được đúng 108.

Cách đếm 108 đức tính theo các bảng quen dùng bên Svetambara. Danh sách chi tiết của từng bậc dài hơn và được kê trong sách giáo lý. Nguồn: Pravin K. Shah, 108 Attributes of the Five Supreme Beings, Ban Giáo dục JAINA.
BậcSố đức tínhGồm những gì
Arihanta12Tám dấu hiệu trang nghiêm quanh bậc giác ngộ gọi là prātihārya, như cây aśoka, mưa hoa, tiếng giảng nhiệm mầu, lọng ba tầng và vầng hào quang, cộng bốn điều vượt thường gọi là atiśaya, về cái biết, lời nói, sự được tôn kính và việc tai ương lánh xa
Siddha8Tám phẩm chất hiện ra khi tám loại nghiệp bị diệt hết, như cái biết vô biên, cái thấy vô biên, an lạc không gì làm tổn, sức vô biên, không hình sắc
Ācārya36Giữ năm căn, giữ chín hàng rào của hạnh trong sạch, thoát bốn phiền não, giữ năm đại nguyện, năm phép hành, năm điều cẩn trọng và ba điều giữ gìn, theo bài Pañcindiya Sūtra
Upādhyāya25Nắm vững mười một bộ Aṅga, mười hai bộ Upāṅga và hai mục nữa về hạnh và phép tu
Sādhu27Năm đại nguyện, không ăn đêm, che chở sáu loại sinh mệnh, giữ năm căn, và các đức nhẫn nhục, trong sạch, chịu đựng gian khổ
Cộng108Số hạt của chuỗi mà nhiều người Svetambara dùng khi lần Navkar

Bảng trên là cách đếm quen của Svetambara. Bên Digambara đếm khác ở hai bậc. Theo sách giáo lý Digambara, arihanta có 46 đức tính gốc, gồm các điều vượt thường lúc sinh, lúc đạt cái biết trọn vẹn, những điều do chư thiên làm ra, tám dấu hiệu trang nghiêm và bốn điều vô biên. Tu sĩ Digambara giữ 28 đức tính gốc gọi là mūlaguṇa, gồm năm đại nguyện, năm điều cẩn trọng, giữ năm căn, sáu bổn phận hằng ngày và bảy quy tắc như không tắm, đứng mà ăn, tự nhổ tóc và không mặc y phục. Như vậy theo cách đếm bên này, tổng số đức tính của năm bậc không ra 108, và lời giải thích con số 108 bằng năm bậc là lời giải riêng của Svetambara.

Chuỗi hạt và những cách giải khác cho con số

Chuỗi hạt dùng để đếm lời tụng, bên Gujarat thường gọi là navkarvali. Người lần chuỗi đọc trọn câu chú một lần cho mỗi hạt, đi hết một vòng là 108 lần. Chuỗi thường có thêm một hạt lớn hơn hay một chùm nhỏ ở chỗ hai đầu gặp nhau, để người lần biết đã giáp vòng mà không cần đếm. Nhiều người giữ lệ mỗi ngày lần một hay vài vòng, và trong những dịp lễ lớn thì lần nhiều vòng hơn.

Ngoài cách cộng đức tính của năm bậc, còn có một cách giải khác cho con số 108 dựa vào kinh Tattvārtha Sūtra, bộ kinh được cả hai dòng cùng nhận. Chương sáu, câu tám của kinh ấy kể những cách mà một việc làm gây ra nghiệp: ba giai đoạn là trù tính, sửa soạn và bắt tay làm, nhân với ba đường là thân, lời và ý, nhân với ba cách là tự làm, bảo người làm và tán thành người làm, nhân với bốn phiền não là giận, kiêu, dối và tham. Ba nhân ba nhân ba nhân bốn ra đúng 108. Có sách giảng nối con số hạt trong chuỗi với phép đếm này, hiểu rằng mỗi hạt ứng với một cửa mà nghiệp có thể lọt vào, và mỗi lần đọc là một lần canh giữ cửa ấy.

Hai cách giải trên không loại trừ nhau, và cũng không cách nào là lời chính thức duy nhất của đạo. Thư viện ghi cả hai để quý vị thấy con số 108 được người Kỳ Na đọc bằng chính giáo nghĩa của mình, chứ không chỉ là một thói quen chung của vùng đất Ấn Độ.

VITín Đồ Đọc Khi Nào Và Ra Sao

Namokar ngắn tới mức có thể đọc ở bất cứ đâu, và người Kỳ Na giữ đạo thật sự đọc nó ở rất nhiều chỗ trong một ngày. Nó không cần đền, không cần tu sĩ, không cần lễ vật. Dưới đây là những lúc mà sách vở và người quan sát ghi nhận nhiều nhất.

Lúc thức dậy

Với nhiều gia đình, đây là lời đầu tiên của ngày. Các tổ chức Kỳ Na mô tả Navkar là lời mà người Kỳ Na đọc đầu tiên mỗi sáng. Có người đọc khi còn ngồi trên giường, trước khi đặt chân xuống đất, có người đọc trước bàn thờ nhỏ trong nhà.

Trước bữa ăn

Nhiều người đọc Navkar trước khi ăn. Bên Svetambara có lời nguyện gọi là navkarsi: không ăn uống gì cho tới 48 phút sau khi mặt trời mọc, và khi hết giờ thì chắp tay đọc Navkar ba lần rồi mới dùng bữa. Cũng lời ấy được đọc khi xả một kỳ nhịn ăn.

Trước khi đi xa

Trước một chuyến đi, trước kỳ thi, trước một việc lớn, người Kỳ Na thường đọc Navkar. Đây là chỗ câu chú làm đúng chức năng cổ nhất của nó, là lời cát tường đặt ở đầu mọi việc, đúng như dòng cuối nói nó là điều cát tường đứng đầu.

Bên người lâm chung

Khi một người sắp mất, người nhà và bạn đạo thường ngồi quanh và đọc Namokar, để lời cuối người ấy nghe là lời kính lễ năm bậc. Trong tang lễ, bản hướng dẫn tang lễ của JAINA đặt Namokar ở phần mở đầu, và nghi thức thường khép lại bằng việc đọc câu chú thêm vài lần để tiễn linh hồn.

Mở đầu nghi lễ

Gần như mọi nghi lễ Kỳ Na đều mở bằng Navkar: trước khi vào đền chiêm bái, trước khi ngồi samayika là bốn mươi tám phút tĩnh tâm, trước pratikramana là nghi thức sám hối, trước khi đọc kinh hay nghe giảng. Trong mùa lễ Paryushana, người giữ đạo đọc câu này nhiều lần mỗi ngày.

Lần chuỗi

Ngoài những lúc gắn với việc trong ngày, nhiều người ngồi lần chuỗi 108 hạt, đọc câu chú 108 lần một vòng. Việc này có thể làm ở nhà, ở đền hay ở nơi tu sĩ trú, và thường làm trong yên lặng.

Tư thế và giọng đọc

Không có một tư thế bắt buộc. Người ta thường ngồi thẳng, chắp hai tay trước ngực, mắt nhắm hay nhìn xuống, nhưng cũng có người đọc khi đứng, khi đang đi đường, hay nằm trên giường bệnh. Có ba cách đọc thường được nói tới trong các truyền thống Ấn Độ và cũng thấy ở người Kỳ Na: đọc thành tiếng, đọc thì thầm chỉ đủ mình nghe, và đọc thầm trong ý. Nhiều người giảng coi cách đọc thầm trong ý là sâu nhất, vì khi ấy chỉ còn tâm với năm bậc.

Khi đọc chung, như ở đầu buổi lễ hay trong tang lễ, câu chú thường được xướng chậm, mỗi dòng một hơi, với giai điệu đơn giản. Trong những bản hướng dẫn nghi lễ, có khi âm Om được đặt trước mỗi dòng trong bốn dòng đầu, như bản hướng dẫn tang lễ của JAINA ghi Om trong ngoặc để người chủ lễ tùy chọn.

Người Kỳ Na không coi câu chú là của riêng tu sĩ. Cư sĩ, trẻ em, người già, nam hay nữ đều đọc được, không cần ai truyền, không cần lễ nhập môn.

Khác nhau giữa các nhánh

Chỗ khác rõ nhất là độ dài. Bên Svetambara đọc trọn chín dòng, coi bốn dòng cūlikā là phần không tách được của câu chú. Bên Digambara thường chỉ đọc năm dòng kính lễ, vì bên này không nhận bộ kinh mà bên Svetambara gắn phần cūlikā vào. Người Digambara vẫn biết bốn dòng ấy, và có nơi cũng đọc, nhưng khi nói tới Namokar thì họ thường chỉ năm dòng đầu.

Chỗ khác thứ hai là cách viết. Sách Digambara thường viết णमो với chữ ṇ uốn lưỡi, nhiều sách Svetambara viết नमो với chữ n thường, và vì thế trong tiếng Anh người ta gặp cả Namokar lẫn Navkar, cả Ṇamokāra lẫn Namaskāra. Chỗ khác thứ ba là nghi lễ đi kèm: Siddhacakra và kỳ chay Āyambil Oli phổ biến bên Svetambara, còn bên Digambara có tượng năm bậc đặt chung một bệ và các bài lễ năm bậc riêng. Nhưng năm dòng kính lễ thì hai bên đọc giống nhau từng chữ, chỉ khác mặt chữ n hay ṇ.

Theo giáo nghĩa

Người Kỳ Na hay kể một chuyện để nói về sức của câu chú lúc lâm chung. Chuyện kể rằng khi Parshvanatha, vị Tirthankara thứ hai mươi ba, còn là hoàng tử, ngài đi ngang một người tu khổ hạnh tên Kamatha đang đốt lửa làm lễ. Ngài biết trong khúc củi đang cháy có rắn. Người ta chẻ khúc củi ra thì thấy rắn đã cháy dở, sắp chết. Hoàng tử đọc Namokar cho rắn nghe, và rắn chết trong yên ổn, tái sinh làm Dharanendra, một vua trong hàng chư thiên. Có bản kể là một con rắn, có bản kể là một đôi, con cái tái sinh làm nữ thần Padmavati. Về sau, khi Parshvanatha ngồi thiền và bị Kamatha, lúc ấy đã tái sinh làm asura Meghamali, trút mưa bão xuống, thì Dharanendra đến xòe mang che trên đầu ngài. Vì thế nhiều tượng Parshvanatha có mang rắn phía trên đầu.

VIINhững Chỗ Hay Hiểu Lầm

Vì câu chú ngắn, lại ít được dịch sang tiếng Việt, nên người ngoài đạo Kỳ Na dễ hiểu lệch vài chỗ. Sáu điểm dưới đây là những chỗ gặp nhiều hơn cả.

Namokar là lời cầu xin

Trong chín dòng không có một chữ xin nào. Năm dòng đầu chỉ kính lễ, bốn dòng sau chỉ nói giá trị của việc kính lễ. Theo giáo nghĩa, các bậc đã giải thoát không nghe lời khấn và không ban ơn, nên lời tụng căn bản của đạo được làm thành lời cúi đầu chứ không phải lời cầu.

Câu chú thờ Mahavira

Câu chú không nêu tên Mahavira, cũng không nêu tên bất cứ ai. Mahavira thuộc hàng arihanta khi còn tại thế và hàng siddha sau khi mất, nên người đọc có kính lễ ngài, nhưng là kính lễ cùng với vô lượng vị khác mang cùng phẩm chất, không riêng ngài.

Câu chú viết bằng tiếng Phạn

Câu chú viết bằng Prakrit, thứ tiếng gần lời nói dân gian của Ấn Độ cổ, không phải tiếng Phạn. Dấu hiệu dễ thấy là những chữ như āyariya thay cho ācārya, savva thay cho sarva, và việc năm danh từ đều ở thuộc cách chứ không ở tặng cách như trong tiếng Phạn.

Digambara và Svetambara có hai câu chú khác nhau

Năm dòng kính lễ giống nhau ở cả hai dòng, chỉ khác mặt chữ n hay ṇ trong cách viết. Chỗ khác là bốn dòng cūlikā: Svetambara đọc, Digambara thường không đọc. Đây là một trong số ít lời tụng mà mọi nhánh Kỳ Na cùng giữ.

Arihanta nghĩa là người giết kẻ thù, nên câu chú đề cao chiến đấu

Kẻ thù trong chữ arihanta là tham, sân, kiêu mạn, dối trá, những thứ trói linh hồn, không phải người nào bên ngoài. Đạo Kỳ Na lấy bất hại làm trục, và chữ này nói về một cuộc thắng bên trong. Dạng chữ xưa hơn, arahanta, lại mang nghĩa bậc xứng đáng được tôn kính.

Con số 108 là chung cho mọi dòng

Phép cộng 12, 8, 36, 25, 27 ra 108 là cách đếm của Svetambara. Bên Digambara đếm arihanta 46 đức tính và tu sĩ 28 đức tính gốc, nên tổng không ra 108. Chuỗi 108 hạt thì phổ biến rộng, nhưng lời giải thích con số không giống nhau giữa các dòng.

?Hỏi Đáp Nhanh

Namokar Mantra là gì

Là lời tụng căn bản của đạo Kỳ Na, bằng tiếng Prakrit, còn gọi Navkar Mantra hay Namaskāra Mantra. Năm dòng đầu kính lễ năm bậc đáng kính là Arihanta, Siddha, Ācārya, Upādhyāya và Sādhu, gọi chung là Pañca Parameṣṭhi. Bên Svetambara đọc thêm bốn dòng kết gọi là cūlikā, nói rằng năm lời kính lễ ấy tiêu trừ mọi điều ác và là điều cát tường đứng đầu. Cả hai dòng Digambara và Svetambara đều coi đây là lời tụng quan trọng nhất.

Namokar có năm dòng hay chín dòng

Cả hai, tùy dòng. Phần chung của mọi người Kỳ Na là năm dòng kính lễ, gồm 35 âm tiết. Phái Svetambara đọc thêm bốn dòng cūlikā, thành chín dòng, 68 âm tiết. Phái Digambara thường chỉ đọc năm dòng, vì không nhận bộ kinh mà bên Svetambara gắn bốn dòng ấy vào. Theo nhà sử học M. A. Dhaky, bốn dòng cūlikā là phần muộn, không sớm hơn thế kỷ 6 Công nguyên.

Namo arihantanam nghĩa là gì

Nghĩa là kính lễ các bậc arihanta. Chữ namo, hay ṇamo, cùng gốc với chữ Nam mô quen thuộc ở chùa Việt. Arihanta là bậc đã đạt cái biết trọn vẹn mà còn sống giữa đời, trong đó có các Tirthankara. Chữ này thường được giảng là người đã diệt kẻ thù bên trong như tham, sân, kiêu mạn. Dạng xưa hơn là arahanta, trên bia Hathigumpha, mang nghĩa bậc xứng đáng được tôn kính.

Vì sao Namokar không nêu tên vị nào

Theo giáo nghĩa Kỳ Na, cái được kính lễ là phẩm chất chứ không phải con người. Ai đạt cái biết trọn vẹn thì là arihanta, ai giữ đủ hạnh người tu thì là sādhu, bất kể tên gì, sống ở thời nào hay cõi nào. Các bậc đã giải thoát cũng không nghe lời khấn và không ban ơn, nên câu chú chỉ kính lễ mà không xin gì. Về mặt thực tế, việc không nêu tên giúp mọi nhánh Kỳ Na cùng đọc một lời.

Vì sao chuỗi hạt Kỳ Na có 108 hạt

Bên Svetambara giải rằng 108 là tổng số đức tính của năm bậc trong câu chú: arihanta 12, siddha 8, ācārya 36, upādhyāya 25, sādhu 27. Một cách giải khác dựa vào Tattvārtha Sūtra chương 6 câu 8, nơi những cách một việc làm gây ra nghiệp được đếm ra đúng 108, bằng ba nhân ba nhân ba nhân bốn. Bên Digambara đếm đức tính khác, nên tổng không ra 108, dù chuỗi 108 hạt vẫn phổ biến.

›Đọc Tiếp