VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Thi Thiên 23: Đức Giê-hô-va Là Đấng Chăn Giữ Tôi, Nguyên Văn Hebrew, Bản 1926 Và Giải Nghĩa Từng Câu

מִזְמוֹר לְדָוִד · Đức Giê-hô-va là Đấng chăn giữ tôi, Thi Thiên Người Chăn, Psalm 23, Mizmor leDavid, Thánh Vịnh 22 theo lối đánh số Hy Lạp

Sáu câu thơ về người chăn và chủ tiệc, bài Kinh Thánh mà tín đồ Tin Lành Việt Nam thuộc lòng từ lớp Trường Chúa Nhật và đọc lại bên quan tài người đã khuất

Thuộc đạo
Tin Lành
Niên đại
Không định được chắc chắn, nhan đề ghi của Đa-vít
Nhan đề Hebrew ghi מִזְמוֹר לְדָוִד, thơ của Đa-vít hoặc thơ thuộc về Đa-vít. Truyền thống Do Thái và Kitô Giáo quy bài này cho vua Đa-vít. Giới sử học cho rằng nhan đề các thi thiên được thêm vào khi sách Thi Thiên được biên tập, và niên đại của riêng bài này vẫn còn bàn, có ý kiến xếp vào thời có Đền Thờ thứ nhất, có ý kiến xếp muộn hơn.
Độ dài
6 câu, 55 chữ Hebrew không kể nhan đề
Đếm trên bản Masoretic, tách riêng các chữ nối với nhau bằng gạch nối Hebrew, được 55 chữ, cộng hai chữ nhan đề là 57. Theo cách đếm ấy, cụm כִּי־אַתָּה עִמָּדִי, vì Chúa ở cùng tôi, đứng đúng giữa bài, 26 chữ trước và 26 chữ sau, như nhà nghiên cứu Kathryn Schifferdecker đã chỉ ra.
Thường tụng khi
Tĩnh nguyện hằng ngày, học thuộc lòng, đọc trong lễ tang và khi thăm người bệnh

ITrước Khi Đọc

Có những bài văn người ta thuộc trước khi hiểu. Trong các hội thánh Tin Lành Việt Nam, Thi Thiên 23 là một bài như thế. Trẻ con học nó ở lớp Trường Chúa Nhật, người lớn đọc lại nó trong giờ tĩnh nguyện buổi sớm, và bên quan tài người đã khuất, nó thường là đoạn Kinh Thánh được đọc lên trước tiên. Sáu câu, đọc chậm chưa hết một phút, mở ra bằng một câu mà nhiều tín đồ đọc được không cần nhìn sách: Đức Giê-hô-va là Đấng chăn giữ tôi: tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì.

Thi Thiên là tên bản Kinh Thánh 1926 đặt cho sách thơ ca dài nhất của Cựu Ước, gồm một trăm năm mươi bài. Người Công Giáo Việt Nam gọi sách này là Thánh Vịnh, người Do Thái gọi là Tehillim תְּהִלִּים, nghĩa là những lời ca ngợi. Bài số 23 nằm trong phần đầu của sách, phần mà các nhà chú giải quen gọi là Quyển Một, từ bài 1 tới bài 41, khép lại bằng một câu chúc tụng ở cuối bài 41.

Bài thơ không kể chuyện gì, không ra luật gì, không cầu xin điều gì. Nó chỉ nói một người đang được dẫn đi: qua đồng cỏ, bên dòng nước, trên lối đúng, xuyên qua một thung lũng tối, rồi ngồi vào một bàn tiệc và ở lại trong một ngôi nhà. Chính sự đơn giản ấy khiến bài thơ đi được rất xa, từ lều người chăn ở vùng đồi Giu-đa xưa tới giờ tĩnh nguyện của người Việt hôm nay.

Trang này trình bày trọn nguyên văn Hebrew có dấu nguyên âm, phiên âm Latinh, bản Kinh Thánh 1926 mà tín đồ Tin Lành Việt Nam đọc thuộc, và bản King James 1611 bằng tiếng Anh. Tiếp đó là phần giải từng chữ khó, chỗ bản 1926 và bản King James dịch khác nguyên văn, và cách tín đồ đọc bài này trong đời sống đạo. Thư viện giải nghĩa và thuật lại, không giảng đạo, và để quý vị tự đọc mà cân nhắc.

Theo sử liệu

Nhan đề Hebrew chỉ có hai chữ, מִזְמוֹר לְדָוִד, mizmor leDavid. Chữ mizmor chỉ một bài thơ để hát có đàn đệm. Tiền tố le trước tên Đa-vít có thể hiểu là của Đa-vít, cho Đa-vít, hay thuộc bộ sưu tập mang tên Đa-vít, và giới nghiên cứu chưa thống nhất nên hiểu theo nghĩa nào. Bản 1926 dịch là Thơ Đa-vít làm, tức theo cách hiểu thứ nhất, là cách hiểu của truyền thống.

Truyền thống Do Thái và Kitô Giáo đều quy bài này cho vua Đa-vít, người mà sách I Sa-mu-ên chương 16 kể rằng thuở nhỏ đi chăn chiên cho cha. Giới sử học thì cho rằng nhan đề các thi thiên được đặt khi sách được biên tập, nên nhan đề không đủ để định niên đại. Có ý kiến xếp bài này vào thời có Đền Thờ thứ nhất vì câu cuối nhắc tới nhà Đức Giê-hô-va, có ý kiến xếp muộn hơn, và chưa có cứ liệu nào khép lại cuộc bàn.

Hình ảnh vua như người chăn không riêng gì Israel. Ở vùng Lưỡng Hà cổ, các vua quen tự xưng là người chăn của dân mình, và lời tựa bộ luật Hammurabi dùng đúng danh xưng ấy. Trong Kinh Thánh Hebrew, sách Ê-xê-chi-ên chương 34 cũng dùng hình ảnh người chăn để nói về những người cầm quyền. Thi Thiên 23 đặt hình ảnh quen thuộc ấy vào một chỗ riêng tư hơn: không phải vua chăn dân, mà Đức Giê-hô-va chăn một người, và người ấy nói bằng chữ tôi.

Về các bản dịch: bản Hy Lạp Bảy Mươi gộp hai bài 9 và 10 của bản Hebrew làm một, nên từ đó trở đi số bài lùi đi một. Vì thế bài này mang số 22 trong bản Hy Lạp, bản Latinh Vulgata và các bản Công Giáo theo lối đánh số ấy. Trong Do Thái Giáo, bài này được hát ở nhiều cộng đồng trong bữa ăn thứ ba của ngày Sa-bát và được đọc trong tang lễ, còn các bản Kinh Thánh Công Giáo tiếng Việt quen xếp nó là Thánh Vịnh 22. Bản tiếng Việt dùng ở trang này là bản Truyền Thống 1926, theo tư liệu của Thư viện Tin Lành thì hoàn tất năm 1924, in lần đầu năm 1925 tại Thượng Hải và in tại Hà Nội năm 1926.

IIToàn Văn Sáu Câu

Nguyên văn Hebrew theo bản Masoretic có dấu nguyên âm, cột Việt là Kinh Thánh bản Truyền Thống 1926, cột Anh là King James Version 1611, câu dài tách làm hai mảnh.
CâuNguyên văn HebrewPhiên âm LatinhBản Kinh Thánh 1926Bản King James
1מִזְמוֹר לְדָוִדMizmor leDavid.Thơ Đa-vít làm.A Psalm of David.
2יְהוָה רֹעִי לֹא אֶחְסָר׃Adonai ro'i, lo echsar.Đức Giê-hô-va là Đấng chăn giữ tôi: tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì.The LORD is my shepherd, I shall not want.
3בִּנְאוֹת דֶּשֶׁא יַרְבִּיצֵנִי עַל־מֵי מְנֻחוֹת יְנַהֲלֵנִי׃Bin'ot deshe yarbitseni, al mei menuchot yenahaleni.Ngài khiến tôi an nghỉ nơi đồng cỏ xanh tươi, Dẫn tôi đến mé nước bình tịnh.He maketh me to lie down in green pastures: he leadeth me beside the still waters.
4נַפְשִׁי יְשׁוֹבֵב יַנְחֵנִי בְמַעְגְּלֵי־צֶדֶק לְמַעַן שְׁמוֹ׃Nafshi yeshovev, yancheni vema'gelei tsedek lema'an shemo.Ngài bổ lại linh hồn tôi, Dẫn tôi vào các lối công bình, vì cớ danh Ngài.He restoreth my soul: he leadeth me in the paths of righteousness for his name's sake.
5גַּם כִּי־אֵלֵךְ בְּגֵיא צַלְמָוֶת לֹא־אִירָא רָעGam ki elech begei tsalmavet, lo ira ra',Dầu khi tôi đi trong trũng bóng chết, Tôi sẽ chẳng sợ tai họa nào,Yea, though I walk through the valley of the shadow of death, I will fear no evil:
6כִּי־אַתָּה עִמָּדִי שִׁבְטְךָ וּמִשְׁעַנְתֶּךָ הֵמָּה יְנַחֲמֻנִי׃ki attah immadi, shivtecha umish'antecha hemmah yenachamuni.vì Chúa ở cùng tôi: Cây trượng và cây gậy của Chúa an ủi tôi.for thou art with me, thy rod and thy staff they comfort me.
7תַּעֲרֹךְ לְפָנַי שֻׁלְחָן נֶגֶד צֹרְרָיTa'aroch lefanai shulchan neged tsorerai,Chúa dọn bàn cho tôi Trước mặt kẻ thù nghịch tôi,Thou preparest a table before me in the presence of mine enemies:
8דִּשַּׁנְתָּ בַשֶּׁמֶן רֹאשִׁי כּוֹסִי רְוָיָה׃dishanta vashemen roshi, kosi revayah.Chúa xức dầu cho đầu tôi, Chén tôi đầy tràn.thou anointest my head with oil, my cup runneth over.
9אַךְ טוֹב וָחֶסֶד יִרְדְּפוּנִי כָּל־יְמֵי חַיָּיAch tov vachesed yirdefuni kol yemei chayyai,Quả thật, trọn đời tôi Phước hạnh và sự thương xót sẽ theo tôi,Surely goodness and mercy shall follow me all the days of my life:
10וְשַׁבְתִּי בְּבֵית־יְהוָה לְאֹרֶךְ יָמִים׃veshavti beveit Adonai le'orech yamim.Tôi sẽ ở trong nhà Đức Giê-hô-va Cho đến lâu dài.and I will dwell in the house of the LORD for ever.

IIIGiải Nghĩa Từng Câu

Phần dưới lấy mười cụm chữ Hebrew then chốt ra giải kỹ, theo đúng thứ tự trong bài. Mỗi mục nói ba việc: chữ gốc nghĩa sát là gì, bản 1926 dịch ra sao, và chỗ nào các nhà chú giải hiểu khác nhau. Lời văn bản 1926 có chỗ đã cũ với người đọc hôm nay, và những chỗ ấy được nói thêm nghĩa sát chữ ngay trong mục.

יְהוָה רֹעִי לֹא אֶחְסָר
Adonai ro'i, lo echsar

Câu mở đầu chỉ có bốn chữ Hebrew. Chữ đầu là Danh riêng của Thiên Chúa trong Kinh Thánh Hebrew, bốn phụ âm YHWH. Người Do Thái không đọc Danh ấy lên mà đọc thay bằng Adonai, nghĩa là Chúa của tôi. Bản 1926 ghi là Đức Giê-hô-va, theo lối đọc Jehovah vốn ra đời khi người châu Âu ghép bốn phụ âm ấy với các dấu nguyên âm của chữ Adonai. Bản King James in chữ LORD bằng chữ hoa để đánh dấu chỗ ấy.

Chữ רֹעִי, ro'i, là động tính từ của động từ ra'ah, chăn, cho ăn cỏ, kèm hậu tố của tôi. Nghĩa sát chữ là người đang chăn tôi. Bản 1926 dịch là Đấng chăn giữ tôi, thêm chữ Đấng để tỏ lòng tôn kính, và chọn chữ chăn giữ chứ không chỉ chăn, tức nhấn cả phần canh giữ lẫn phần nuôi ăn. Đây là chữ chọn khéo, vì người chăn ở vùng đồi Giu-đa xưa làm đủ cả hai việc: tìm cỏ và giữ bầy khỏi thú dữ.

Vế sau לֹא אֶחְסָר, lo echsar, nghĩa là tôi sẽ không thiếu. Động từ tiếng Hebrew ở thể chưa hoàn thành, dịch được là tôi không thiếu hay tôi sẽ không thiếu. Bản 1926 dịch tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì, thêm chữ gì cho trọn câu tiếng Việt. Các nhà chú giải lưu ý rằng câu này nói về cái đủ của con chiên trong tay người chăn, không liệt kê những thứ con chiên muốn có.

בִּנְאוֹת דֶּשֶׁא יַרְבִּיצֵנִי עַל־מֵי מְנֻחוֹת יְנַהֲלֵנִי
Bin'ot deshe yarbitseni, al mei menuchot yenahaleni

Chữ נְאוֹת, ne'ot, chỉ những bãi chăn thả, và דֶּשֶׁא, deshe, là cỏ non mới mọc. Ở vùng đồi khô, cỏ non chỉ có theo mùa và theo chỗ, nên tìm được bãi cỏ non đã là công của người chăn. Bản 1926 dịch đồng cỏ xanh tươi, bản King James dịch green pastures, cả hai sát nghĩa.

Động từ יַרְבִּיצֵנִי, yarbitseni, nghĩa sát là làm cho tôi nằm xuống, chữ dùng cho súc vật nằm nghỉ. Bản 1926 dịch khiến tôi an nghỉ. Người chăn cừu đời xưa và nhiều nhà chú giải về sau đều ghi rằng con chiên chỉ nằm xuống khi đã no và không còn sợ, nên chữ này gói cả hai ý đủ ăn và yên lòng.

Cụm מֵי מְנֻחוֹת, mei menuchot, nghĩa sát là nước của những chỗ nghỉ. Chữ menuchah chỉ sự nghỉ ngơi, chỗ dừng chân. Có hai cách hiểu: nước lặng, không chảy xiết, để chiên uống được, hoặc nước ở nơi dừng nghỉ trên đường đi. Bản 1926 dịch mé nước bình tịnh, tức bờ nước yên lặng, nghiêng về cách hiểu thứ nhất, cũng như bản King James still waters. Chữ mé trong tiếng Việt cũ là bờ, cạnh.

נַפְשִׁי יְשׁוֹבֵב
Nafshi yeshovev

Đây là một trong những chỗ khó nhất của bài. Chữ נֶפֶשׁ, nefesh, trong tiếng Hebrew không trùng với chữ linh hồn theo nghĩa triết học về sau. Nghĩa gốc của nó là hơi thở, cổ họng, sự sống, và rộng ra là cả con người đang sống. Bản 1926 dịch linh hồn tôi, bản King James dịch my soul, đều theo lối dịch truyền thống.

Động từ יְשׁוֹבֵב, yeshovev, đến từ gốc shuv, quay về, trở lại. Nghĩa sát chữ là làm cho quay về. Vì thế có hai cách hiểu. Cách thứ nhất đọc câu này là hồi sức cho tôi, trả lại sức sống cho con người mệt lả, như cỏ và nước ở câu trước trả sức cho bầy chiên. Cách thứ hai nghe trong chữ shuv cái ý đem tôi quay trở lại, như người chăn đi tìm con chiên lạc, và một số nhà chú giải Kitô Giáo nối cách hiểu ấy với sự ăn năn.

Bản 1926 dịch bổ lại, chữ Việt cũ nghĩa là bồi bổ lại, làm cho khỏe lại, tức nghiêng về cách hiểu thứ nhất. Người đọc hôm nay có thể hiểu gần đúng câu này là Ngài làm cho tôi hồi sức.

בְמַעְגְּלֵי־צֶדֶק לְמַעַן שְׁמוֹ
vema'gelei tsedek lema'an shemo

Chữ מַעְגָּל, ma'gal, chỉ vệt đường mòn, vết bánh xe, lối đi đã có người đi. Chữ צֶדֶק, tsedek, là sự công chính, sự ngay đúng. Cụm này hiểu được theo hai tầng. Tầng sát hình ảnh là những lối đi đúng, tức lối dẫn tới nơi cần tới, không lạc vào vực. Tầng đạo lý là những nẻo công chính, lối sống ngay thẳng. Nhiều nhà chú giải cho rằng bài thơ cố ý để cả hai tầng cùng vang lên.

Bản 1926 dịch các lối công bình. Chữ công bình ở đây là lối nói cũ của công bằng, nhưng trong ngôn ngữ các hội thánh Tin Lành Việt Nam nó mang nghĩa rộng hơn, là sự ngay chính trước mặt Thiên Chúa, chứ không chỉ là chia phần đều nhau.

Vế cuối לְמַעַן שְׁמוֹ, lema'an shemo, là vì cớ danh Ngài. Trong tiếng Hebrew, danh không chỉ là cái tên mà là chính con người và tiếng tăm của người mang tên. Người chăn dẫn bầy đi đúng lối vì đó là việc của người chăn và vì danh dự của người chăn, không phải vì con chiên đã làm gì để đáng được dẫn.

בְּגֵיא צַלְמָוֶת
begei tsalmavet

Đây là cụm được biết nhiều nhất trong bài. Chữ גֵּיא, gei, là thung lũng, khe núi, và bản 1926 dịch bằng chữ trũng, chữ Việt chỉ chỗ đất thấp lõm xuống giữa hai bên cao.

Chữ צַלְמָוֶת, tsalmavet, được các nhà Masorete ghi dấu như một chữ ghép từ tsel, bóng, và mavet, sự chết. Theo cách đọc ấy, bản Hy Lạp Bảy Mươi, bản King James và bản 1926 đều dịch là bóng chết, the shadow of death. Nhiều nhà ngữ học hiện đại thì cho rằng chữ này vốn là tsalmut, từ một gốc có nghĩa là tối, và nghĩa của nó là bóng tối dày đặc. Chữ này xuất hiện nhiều lần trong Kinh Thánh Hebrew, phần lớn trong sách Gióp, và ở nhiều chỗ nó chỉ bóng tối nói chung chứ không nhất thiết liên quan tới sự chết.

Hai cách đọc dẫn tới hai sắc thái. Đọc là trũng bóng chết thì câu thơ nói về nỗi nguy tới tính mạng, và vì thế bài được đọc nhiều trong lễ tang. Đọc là thung lũng tối tăm thì câu thơ nói về mọi quãng tối trong đời, trong đó có sự chết mà không chỉ có sự chết. Cả hai cách đều có người theo, và nguyên văn có dấu của bản Masoretic ủng hộ cách thứ nhất.

Chữ רָע, ra', là điều dữ, điều xấu, cái hại. Bản King James dịch evil, bản 1926 dịch tai họa, nghiêng về nghĩa điều hại xảy tới chứ không về nghĩa cái ác đạo đức.

כִּי־אַתָּה עִמָּדִי
ki attah immadi

Ba chữ này nghĩa sát là vì Ngươi ở với tôi. Chữ אַתָּה, attah, là đại từ ngôi thứ hai, tức người nói đang nói thẳng với Thiên Chúa. Cho tới câu này, bài thơ nói về Đức Giê-hô-va ở ngôi thứ ba: Ngài khiến tôi, Ngài dẫn tôi. Từ đây trở đi, người nói quay sang nói với Ngài.

Bản 1926 giữ được chỗ chuyển ấy bằng cách đổi từ Ngài sang Chúa. Trong tiếng Việt, chữ Chúa ở đây là lời gọi trực tiếp, như thưa với người đối diện, nên người đọc bản 1926 cũng cảm được chỗ đổi giọng dù tiếng Việt không có đại từ ngôi thứ hai dành riêng cho Thiên Chúa.

שִׁבְטְךָ וּמִשְׁעַנְתֶּךָ הֵמָּה יְנַחֲמֻנִי
shivtecha umish'antecha hemmah yenachamuni

Người chăn đời xưa mang theo hai món. שֵׁבֶט, shevet, là cây gậy ngắn và nặng, có khi đầu to, dùng để đuổi thú dữ và cũng dùng để đếm chiên khi chúng đi qua bên dưới. מִשְׁעֶנֶת, mish'enet, từ gốc có nghĩa là tựa vào, là cây gậy dài để chống khi đi đường núi và để lùa, đỡ con chiên. Bản 1926 dịch là cây trượng và cây gậy, bản King James dịch thy rod and thy staff.

Điều đáng để ý là cả hai món, kể cả món dùng để đánh, đều được nói là an ủi tôi. Động từ יְנַחֲמֻנִי, yenachamuni, nghĩa là làm cho tôi được yên lòng. Con chiên yên lòng khi thấy cây gậy vì cây gậy cho biết người chăn đang ở đó. Có nhà chú giải hiểu cây gậy ngắn là để che chở và cây gậy dài là để dẫn dắt, có nhà chú giải hiểu cây gậy ngắn còn là để sửa kỷ luật, và cả hai cách đều thấy trong các sách giải.

תַּעֲרֹךְ לְפָנַי שֻׁלְחָן נֶגֶד צֹרְרָי
Ta'aroch lefanai shulchan neged tsorerai

Tới câu 5, hình ảnh đổi hẳn. Chữ שֻׁלְחָן, shulchan, là cái bàn, và động từ arach là bày ra, dọn ra theo thứ tự. Bản 1926 dịch sát chữ Chúa dọn bàn cho tôi, trong tiếng Việt nghĩa là dọn bữa ăn cho tôi. Người đọc hôm nay nên hiểu chữ bàn ở đây là bàn tiệc, không phải món đồ gỗ.

Có hai cách hiểu câu này. Phần đông nhà chú giải cho rằng hình ảnh người chăn đã nhường chỗ cho hình ảnh chủ nhà đãi khách. Theo phong tục chiêu đãi của vùng Cận Đông xưa, người đã được mời ngồi vào bàn của chủ nhà thì được chủ nhà che chở, nên kẻ thù đứng nhìn mà không làm gì được. Một số ít nhà chú giải cố giữ hình ảnh người chăn tới cuối và hiểu cái bàn là bãi cỏ người chăn dọn sẵn cho chiên giữa chốn có thú rình. Cách hiểu thứ nhất phổ biến hơn.

Chữ צֹרְרָי, tsorerai, là những kẻ gây khó cho tôi, những kẻ ép tôi. Bản 1926 dịch kẻ thù nghịch tôi. Bài thơ không nói kẻ thù biến mất. Nó nói bữa tiệc được dọn ngay trước mặt họ.

דִּשַּׁנְתָּ בַשֶּׁמֶן רֹאשִׁי כּוֹסִי רְוָיָה
dishanta vashemen roshi, kosi revayah

Động từ דִּשַּׁנְתָּ, dishanta, có gốc nghĩa là làm cho béo, làm cho mỡ màng. Dùng với dầu, nó chỉ việc thoa dầu thơm lên đầu khách, một cử chỉ tiếp đãi quen thuộc của vùng khô nóng. Đây không phải chữ mashach dùng cho lễ xức dầu phong vua hay phong thầy tế lễ. Bản 1926 dịch Chúa xức dầu cho đầu tôi, và người đọc tiếng Việt dễ nghĩ ngay tới nghi lễ xức dầu. Nguyên văn nghiêng về nghĩa chủ nhà rưới dầu thơm đãi khách quý.

Cụm כּוֹסִי רְוָיָה, kosi revayah, gồm chữ kos, chén, và revayah, sự no nê, sự thấm đẫm, từ gốc chỉ việc uống cho đã khát. Nghĩa sát là chén tôi là sự dư dật. Bản 1926 dịch Chén tôi đầy tràn, bản King James dịch my cup runneth over, cả hai đều thêm hình ảnh nước tràn ra ngoài miệng chén để nói ý thừa thãi. Đó là cách dịch lấy ý, và là một trong những câu dịch đã thành thành ngữ trong cả tiếng Anh lẫn tiếng nói của tín đồ Việt Nam.

טוֹב וָחֶסֶד יִרְדְּפוּנִי
tov vachesed yirdefuni

Chữ טוֹב, tov, là điều tốt, phước lành. Chữ חֶסֶד, chesed, là một trong những chữ khó dịch nhất của Kinh Thánh Hebrew. Nó chỉ lòng thương giữ trọn giao ước, sự tử tế trung tín không bỏ, và các bản dịch phải chọn một mặt của nó. Bản King James chọn mercy, bản 1926 chọn sự thương xót.

Động từ יִרְדְּפוּנִי, yirdefuni, từ gốc radaf, là đuổi theo, chữ thường dùng cho kẻ thù đuổi đánh. Đây là chỗ bản 1926 dịch nhẹ hơn nguyên văn. Bản 1926 dịch sẽ theo tôi, bản King James dịch shall follow me. Nguyên văn nói phước lành và lòng thương săn đuổi người nói, dùng đúng chữ mà sách Thi Thiên nhiều lần dùng cho kẻ thù đuổi bắt người cầu nguyện. Nhiều nhà chú giải thấy trong đó một phép đảo ngược có chủ ý: người nói không bị kẻ thù đuổi, mà bị điều lành đuổi theo.

Chữ đầu câu אַךְ, ach, có thể hiểu là quả thật hoặc chỉ có. Bản 1926 dịch Quả thật. Hiểu theo nghĩa thứ hai thì câu thơ nói rằng thứ duy nhất đuổi theo tôi là phước lành và lòng thương.

וְשַׁבְתִּי בְּבֵית־יְהוָה לְאֹרֶךְ יָמִים
veshavti beveit Adonai le'orech yamim

Câu cuối có hai chỗ các bản hiểu khác nhau. Chỗ thứ nhất là động từ וְשַׁבְתִּי, veshavti. Theo dấu nguyên âm của bản Masoretic, chữ này thuộc gốc shuv, nghĩa là tôi sẽ trở lại nhà Đức Giê-hô-va. Bản Hy Lạp Bảy Mươi và nhiều bản dịch cổ đọc thành tôi sẽ ở, như thể chữ gốc là yashav, ngồi, cư ngụ. Nhiều nhà ngữ học cho rằng hình thức hiện có là cách viết gọn của chữ ở, vì đi với trong nhà thì nghĩa ở hợp hơn. Bản King James và bản 1926 đều dịch theo nghĩa ở.

Chỗ thứ hai là cụm לְאֹרֶךְ יָמִים, le'orech yamim, nghĩa sát là cho chiều dài của những ngày. Bản King James dịch for ever, đời đời. Bản 1926 dịch Cho đến lâu dài, tức sát nguyên văn hơn bản King James ở chỗ này.

Hai lối dịch mở ra hai cách hiểu. Theo cách hiểu sát nguyên văn, mà nhiều nhà chú giải Do Thái và nhiều học giả hiện đại theo, câu này nói về suốt những ngày dài của đời người, tức cả đời được gắn bó với nhà Đức Giê-hô-va, có thể là Đền Thờ. Theo cách đọc truyền thống của nhiều hội thánh Kitô Giáo, câu này còn chỉ về sự sống đời đời sau khi chết, và vì thế bản King James dịch for ever. Thư viện ghi cả hai, không chọn thay quý vị. Người đọc bản 1926 có thể để ý rằng chính bản mình đọc đã để ngỏ câu hỏi ấy bằng chữ lâu dài.

IVNgười Chăn Và Chủ Tiệc

Đọc lướt thì Thi Thiên 23 như một bức tranh đồng quê. Đọc chậm thì thấy bài thơ đi qua hai bức tranh nối nhau, và giữa hai bức có một chỗ gập. Mục này bày ra bố cục ấy, vì hiểu bố cục thì những câu riêng lẻ ở trên sáng thêm.

Bức thứ nhất: người chăn và bầy chiên

Từ câu 1 tới câu 4, mọi hình ảnh đều thuộc về nghề chăn: đồng cỏ, dòng nước, lối mòn, thung lũng, cây gậy. Người chăn ở vùng đồi Giu-đa xưa không lùa bầy từ phía sau mà đi phía trước để chiên theo, dẫn chúng từ bãi cỏ này sang bãi cỏ khác theo mùa, có khi phải qua những khe núi hẹp và tối. Cả bức tranh xoay quanh một điều: con chiên không tự tìm được cỏ, nước hay lối, và mọi thứ nó có là nhờ người đi trước.

Chính trong bức tranh này mà hình ảnh thung lũng tối hiện ra. Nó không nằm ngoài con đường của người chăn mà nằm trên con đường ấy. Lối đi đúng ở câu 3 dẫn thẳng vào thung lũng ở câu 4, và bài thơ không hứa tránh được thung lũng, chỉ nói rằng không phải qua đó một mình.

Bức thứ hai: chủ nhà và người khách

Từ câu 5, bàn, dầu, chén và nhà thay chỗ cho cỏ và gậy. Người được chăn giờ là người khách, và Đấng chăn giữ giờ là chủ nhà. Ở vùng Cận Đông xưa, lệ tiếp khách rất nặng: theo điều các nhà chú giải hay nhắc, ai đã được mời vào lều và ăn ở bàn chủ nhà thì được chủ nhà bảo vệ, kẻ đuổi theo không được đụng tới. Đặt vào lệ ấy, câu dọn bàn trước mặt kẻ thù không phải là lời khoe mà là lời nói về sự an toàn. Có nhà chú giải chia ba bức, tách câu 6 thành cảnh người hành hương về nhà Đức Giê-hô-va, nhưng cách chia hai bức phổ biến hơn.

Chỗ gập ở giữa bài

Giữa hai bức tranh là câu כִּי־אַתָּה עִמָּדִי, vì Chúa ở cùng tôi. Ở đây bài thơ đổi ngôi. Trước câu này người nói kể về Đức Giê-hô-va cho người khác nghe: Ngài khiến tôi, Ngài dẫn tôi. Từ câu này người nói quay mặt lại nói thẳng với Ngài: Chúa ở cùng tôi, Chúa dọn bàn, Chúa xức dầu. Tới câu 6, Danh Đức Giê-hô-va trở lại ở ngôi thứ ba, và bài thơ khép lại bằng chính Danh đã mở đầu nó.

Nhà nghiên cứu Kathryn Schifferdecker chỉ ra rằng trong nguyên văn Hebrew, trước câu này có 26 chữ và sau câu này cũng có 26 chữ. Thư viện đếm lại trên bản Masoretic, không kể hai chữ nhan đề và tách riêng các chữ nối bằng gạch nối, được đúng như vậy, tổng cộng 55 chữ. Tức là chỗ người nói thôi kể về Thiên Chúa để nói với Thiên Chúa nằm đúng ở tâm bài. Các nhà nghiên cứu không biết chắc người soạn đã đếm chữ có chủ ý hay không, nhưng sự cân xứng ấy có thật trong văn bản.

Cũng nên để ý chỗ đặt câu ấy trong bức tranh: nó nằm ngay giữa thung lũng tối. Bài thơ chuyển sang lối nói thân mật nhất đúng ở quãng đường tối nhất.

Chỗ hay hiểu lầm

Gọn lại: bài thơ đi từ đồng cỏ qua thung lũng tối tới bàn tiệc rồi về ngôi nhà, và người nói đổi từ nói về Thiên Chúa sang nói với Thiên Chúa đúng ở tâm bài.

VBản 1926, Bản King James Và Nguyên Văn

Tín đồ Tin Lành Việt Nam thuộc Thi Thiên 23 qua bản 1926, còn tín đồ nói tiếng Anh trong nhiều thế hệ thuộc bài này qua bản King James. Hai bản cách nhau hơn ba thế kỷ nhưng cùng một lối dịch khá sát chữ, và phần lớn câu chữ của hai bản đi song song. Bảng dưới gom những chỗ một trong hai bản, hoặc cả hai, đi xa nguyên văn Hebrew, để quý vị đọc bản mình quen mà biết chữ gốc nói gì.

Những chỗ bản 1926 và bản King James dịch khác nguyên văn Hebrew hoặc chọn một trong nhiều cách hiểu. Phần giải từng câu ở trên nói kỹ từng chỗ.
Nguyên văn và nghĩa sát chữBản 1926King James 1611
יַרְבִּיצֵנִי, làm cho tôi nằm xuốngkhiến tôi an nghỉmaketh me to lie down
נַפְשִׁי יְשׁוֹבֵב, làm sự sống tôi quay vềbổ lại linh hồn tôirestoreth my soul
צַלְמָוֶת, bóng chết hoặc bóng tối dày đặcbóng chếtthe shadow of death
רָע, điều dữ, cái hạitai họaevil
דִּשַּׁנְתָּ, làm cho mỡ màng, thoa dầu đãi kháchxức dầuanointest
רְוָיָה, sự no nê, thấm đẫmđầy trànrunneth over
יִרְדְּפוּנִי, đuổi theo tôisẽ theo tôishall follow me
וְשַׁבְתִּי, tôi sẽ trở lại, hoặc đọc là tôi sẽ ởTôi sẽ ởI will dwell
לְאֹרֶךְ יָמִים, cho chiều dài những ngàyCho đến lâu dàifor ever

Chỗ bản 1926 sát nguyên văn hơn

Người quen bản King James thường nhớ câu cuối là for ever, đời đời, và có khi nghĩ bản Việt cũng nói vậy. Thật ra bản 1926 dịch Cho đến lâu dài, gần với cụm Hebrew לְאֹרֶךְ יָמִים hơn. Chỗ câu 5, bản 1926 dịch dọn bàn theo đúng chữ shulchan, không đổi thành chữ tiệc. Và ở câu 4, bản 1926 giữ chỗ đổi ngôi bằng cách chuyển sang chữ Chúa, trong khi bản King James giữ bằng đại từ thou.

Chỗ bản 1926 dịch lấy ý

Ở chiều ngược lại, bản 1926 có mấy chỗ chọn chữ nhẹ hơn hoặc rộng hơn nguyên văn, phần lớn trùng với chính những chỗ bản King James cũng làm như vậy. Sẽ theo tôi nhẹ hơn chữ radaf, đuổi theo. Linh hồn hẹp hơn chữ nefesh, sự sống của cả con người. Xức dầu gợi nghi lễ hơn chữ dishen, vốn là cử chỉ đãi khách. Đầy tràn thêm hình ảnh nước tràn miệng chén mà nguyên văn không nói rõ. Đây là những lựa chọn quen thuộc của các bản dịch Kinh Thánh cùng thời, không phải chỗ sai.

Bản 1926 còn giữ lối viết hoa chữ đầu mỗi dòng thơ, nên trong một câu có những chữ viết hoa giữa chừng như Dẫn tôi, Trước mặt, Cho đến. Đó là dấu chỗ xuống dòng của thể thơ, không phải lỗi in. Bản in đầu còn nối các tiếng trong một từ bằng gạch nối, như chăn-giữ, thiếu-thốn, và các bản in hiện hành đã bỏ gạch nối ấy. Trong cột Việt của trang này, ba chỗ bản in dùng dấu chấm phẩy được thư viện thay bằng dấu phẩy theo quy ước trình bày chung của thư viện, câu chữ giữ nguyên.

Theo giáo nghĩa

Trong cách đọc của các hội thánh Tin Lành, Thi Thiên 23 thường được đọc chung với Tân Ước. Sách Giăng chương 10 chép lời Chúa Giê-su tự xưng: Ta là người chăn hiền lành. Theo giáo nghĩa ấy, Đấng chăn giữ trong Thi Thiên 23 được tín đồ Tin Lành hiểu là chính Chúa Giê-su Christ, trũng bóng chết được hiểu là sự chết mà người tin không phải qua một mình, và nhà Đức Giê-hô-va cho đến lâu dài được hiểu là sự sống đời đời. Đây là cách hiểu theo giáo nghĩa Kitô Giáo. Trong Do Thái Giáo, bài thơ được đọc như lời của Đa-vít về Thiên Chúa của Israel, không gắn với Tân Ước.

Một bản tiếng Anh khác: Sách Cầu Nguyện Chung

Trong Anh giáo, Thi Thiên được tụng theo bản dịch của Miles Coverdale in trong Sách Cầu Nguyện Chung năm 1662, chứ không theo bản King James. Câu đầu trong bản ấy là The Lord is my shepherd: therefore can I lack nothing, tức Chúa là người chăn tôi, vì thế tôi chẳng thiếu gì. Ở Scotland, bài này được hát theo bản Thi Thiên có vần của Giáo hội Scotland năm 1650, mở đầu bằng The Lord's my shepherd, I'll not want. Cùng một bài thơ Hebrew, mỗi truyền thống có một bản mà tín đồ của mình thuộc lòng, cũng như tín đồ Tin Lành Việt Nam thuộc bản 1926.

VITín Đồ Đọc Khi Nào Và Ra Sao

Tin Lành không có một bộ kinh đọc thuộc lòng bắt buộc theo giờ như một số truyền thống khác, và cũng không có phụng vụ chung cho mọi hội thánh. Thi Thiên 23 không phải kinh bắt buộc. Nó có mặt trong đời sống tín đồ vì được chọn đọc lại nhiều lần trong những dịp khác nhau, và qua nhiều năm thì thành thuộc. Dưới đây là những dịp thư viện ghi nhận được.

Giờ tĩnh nguyện hằng ngày

Nhiều tín đồ Tin Lành giữ lệ dành một khoảng lặng mỗi sáng sớm hoặc trước khi ngủ để đọc Kinh Thánh và cầu nguyện, gọi là giờ tĩnh nguyện. Người ta thường đọc theo một bản đọc Kinh Thánh hằng ngày hoặc đọc dần từng sách, và Thi Thiên là sách được mở nhiều trong những giờ ấy. Thi Thiên 23 hay được đọc lại vào những ngày người đọc đang lo lắng hay bệnh tật, và nhiều người đọc thuộc mà không cần mở sách.

Học thuộc lòng

Ở lớp Trường Chúa Nhật, các em nhỏ học thuộc từng câu Kinh Thánh, gọi là câu gốc, và Thi Thiên 23 thường là một trong những đoạn trọn vẹn đầu tiên các em được giao học thuộc. Vì bài ngắn, có vần điệu và nhiều hình ảnh dễ vẽ, nó hay được đọc chung cả lớp, có khi đọc thuộc trước hội chúng trong ngày lễ. Người lớn tuổi nhiều khi còn nhớ nguyên văn bản 1926 từ thuở học ở lớp ấy.

Lễ tang

Đây là dịp bài này được nghe nhiều nhất ngoài nhà thờ. Trong lễ tang của tín đồ Tin Lành, tại nhà, tại nhà thờ hay bên huyệt mộ, mục sư hoặc người chủ lễ thường đọc Thi Thiên 23 cùng với những đoạn Tân Ước như Giăng chương 14. Câu trũng bóng chết và câu ở trong nhà Đức Giê-hô-va cho đến lâu dài là hai câu làm bài này gắn với tang lễ. Có nơi cả hội chúng cùng đọc thuộc lòng bài ấy.

Thăm người bệnh và người hấp hối

Khi mục sư hay các tín hữu tới thăm người đau yếu, người già sắp qua đời, bài này thường được đọc lên bên giường bệnh. Người bệnh đã thuộc từ nhỏ có khi đọc theo được dù đã yếu. Đây là cách dùng bài thơ như một lời quen thuộc để yên lòng chứ không như một nghi thức có quy định.

Hát thành thánh ca

Nhiều bài hát trong các hội thánh phỏng theo Thi Thiên 23, cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt. Trong truyền thống Cải Cách nói tiếng Anh, bản Thi Thiên có vần của Giáo hội Scotland năm 1650 khiến bài này được cả hội chúng hát trong buổi nhóm và trong lễ tang. Trong các hội thánh Việt Nam, có những bài thánh ca và bài hát thờ phượng phổ lời Thi Thiên 23, hát trong buổi nhóm và trong các buổi lễ tang.

Khác nhau giữa các nhánh

Cách đọc bài này khác nhau theo cách tổ chức thờ phượng của từng nhánh. Ở các hội thánh theo lối thờ phượng tự do, tức phần lớn hội thánh Tin Lành Việt Nam, không có quy định bài nào đọc vào ngày nào, và việc chọn Thi Thiên 23 tùy người chủ lễ và tùy dịp. Người đọc thường đứng, giọng đọc chậm, hội chúng có khi cùng đọc theo. Ở Anh giáo và các nhánh có sách nghi thức, bài này có chỗ đã định trong nghi thức an táng và trong lịch tụng Thi Thiên, và được tụng hoặc xướng theo bản Coverdale. Ở các hội thánh Luther, bài này cũng thường có mặt trong nghi thức an táng.

Thư viện ghi lại những cách đọc này như người đứng quan sát. Mỗi hội thánh có cách riêng, và nếu quý vị muốn biết một hội thánh cụ thể đọc bài này lúc nào, cách chắc nhất là hỏi ngay tại nơi ấy.

VIINhững Chỗ Hay Hiểu Lầm

Vì bài ngắn và được thuộc rộng, nhiều câu của nó được trích rời khỏi bài, và từ đó sinh ra một số cách hiểu lệch với nguyên văn. Năm điểm dưới đây là những chỗ gặp thường hơn cả.

Tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì nghĩa là muốn gì được nấy

Câu này nói về cái đủ của con chiên trong tay người chăn: cỏ, nước, lối đi, sự che chở. Nguyên văn לֹא אֶחְסָר là tôi không thiếu, và phần còn lại của bài kể ra những thứ không thiếu ấy. Bài thơ không hứa của cải, và chính nó nói tới thung lũng tối và kẻ thù, tức không hứa một đời không gặp khó.

Trũng bóng chết chỉ nói về lúc sắp chết

Vì bài được đọc nhiều trong lễ tang, người ta hay nghĩ câu này chỉ nói về giờ lâm chung. Chữ צַלְמָוֶת theo bản Masoretic đọc là bóng chết, nhưng nhiều nhà ngữ học đọc là bóng tối dày đặc, và trong Kinh Thánh Hebrew chữ này dùng cho nhiều cảnh tối khác nhau. Cả hai cách hiểu đều có người theo. Theo cả hai, câu thơ nói về một quãng đường người nói đi xuyên qua rồi đi tiếp, không phải điểm dừng.

Câu cuối chắc chắn nói về đời đời

Bản King James dịch for ever, và nhiều người đọc bản Việt cũng hiểu như vậy. Nguyên văn לְאֹרֶךְ יָמִים là cho chiều dài những ngày, và bản 1926 dịch Cho đến lâu dài. Theo nghĩa sát chữ, câu này nói về suốt đời người. Cách hiểu đời đời là cách đọc theo giáo nghĩa Kitô Giáo. Hai cách hiểu cùng tồn tại, và thư viện ghi cả hai.

Chúa dọn bàn nghĩa là dọn cái bàn

Chữ bàn trong bản 1926 dịch sát chữ Hebrew שֻׁלְחָן. Trong tiếng Việt hôm nay, dọn bàn cho ai là dọn bữa ăn đãi người ấy. Câu thơ nói về một bữa tiệc chủ nhà bày ra cho khách, và theo lệ tiếp khách của vùng Cận Đông xưa, khách ngồi ở bàn chủ nhà thì được chủ nhà che chở.

Thi Thiên 23 là kinh riêng của Tin Lành

Bài này có trong Kinh Thánh Hebrew từ trước khi có Kitô Giáo, và được đọc trong Do Thái Giáo, Công Giáo, Chính Thống Giáo và Tin Lành. Người Công Giáo Việt Nam gặp bài này dưới tên Thánh Vịnh 22 vì lối đánh số theo bản Hy Lạp. Cái riêng của tín đồ Tin Lành Việt Nam là bản dịch họ thuộc, tức bản 1926, và cách bài này có mặt trong giờ tĩnh nguyện và lễ tang của họ.

?Hỏi Đáp Nhanh

Thi Thiên 23 là bài gì

Là bài thơ thứ hai mươi ba trong sách Thi Thiên của Cựu Ước, gồm sáu câu, mở đầu bằng câu Đức Giê-hô-va là Đấng chăn giữ tôi: tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì. Nhan đề Hebrew ghi là thơ của Đa-vít. Bài thơ dùng hình ảnh người chăn dẫn bầy chiên, rồi hình ảnh chủ nhà đãi khách, để nói về sự che chở của Thiên Chúa. Đây là một trong những đoạn Kinh Thánh được tín đồ Tin Lành Việt Nam thuộc lòng nhiều nhất.

Vì sao Công Giáo gọi là Thánh Vịnh 22

Vì bản Hy Lạp Bảy Mươi gộp hai bài 9 và 10 của bản Hebrew làm một, nên từ đó trở đi số bài lùi đi một. Bản Latinh Vulgata theo lối đánh số ấy, và nhiều bản Kinh Thánh Công Giáo cũng theo, nên bài này mang số 22. Các bản Tin Lành, trong đó có bản 1926, đánh số theo bản Hebrew, nên là Thi Thiên 23. Đây là cùng một bài.

Trũng bóng chết nghĩa là gì

Trũng là thung lũng, chỗ đất trũng giữa hai bên cao. Bóng chết dịch chữ Hebrew צַלְמָוֶת, mà bản Masoretic ghi dấu như chữ ghép từ bóng và sự chết. Nhiều nhà ngữ học hiện đại đọc chữ này là bóng tối dày đặc. Vì thế có người hiểu câu thơ nói về nỗi nguy tới tính mạng, có người hiểu là nói về mọi quãng tối trong đời. Cả hai cách hiểu đều thấy trong các sách giải.

Chén tôi đầy tràn nghĩa là gì

Nguyên văn Hebrew כּוֹסִי רְוָיָה nghĩa sát là chén tôi là sự no nê, sự thấm đẫm. Bản 1926 và bản King James đều dịch thêm hình ảnh nước tràn ra khỏi miệng chén để nói ý dư dật. Câu này thuộc bức tranh chủ nhà đãi khách ở câu 5, cùng với việc dọn bàn và rưới dầu thơm lên đầu khách.

Câu cuối nói đời đời hay suốt đời

Nguyên văn לְאֹרֶךְ יָמִים nghĩa sát là cho chiều dài những ngày. Bản King James dịch for ever, đời đời, còn bản 1926 dịch Cho đến lâu dài, sát nguyên văn hơn. Nhiều nhà chú giải Do Thái và học giả hiện đại hiểu là suốt đời người, gắn bó với nhà Đức Giê-hô-va. Nhiều hội thánh Kitô Giáo hiểu thêm là sự sống đời đời. Thư viện ghi cả hai cách hiểu.

›Đọc Tiếp