VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Kinh Lạy Cha: Nguyên Văn Latinh, Bản Đọc Tiếng Việt, Bản Anh Và Giải Nghĩa Từng Câu

Pater Noster · Lời Kinh Chúa Dạy, Pater Noster, Our Father, The Lord's Prayer, Bài Cầu Nguyện Chung (cách gọi quen của Tin Lành Việt Nam)

Bảy lời xin mà người Công Giáo Việt Nam đọc mỗi sáng, mỗi tối, trong mỗi Thánh Lễ và ở đầu mỗi chục chuỗi Mân Côi, đặt bên nguyên văn Latinh và Hy Lạp

Thuộc đạo
Công Giáo
Niên đại
Ghi trong hai sách Phúc Âm Mátthêu và Luca, thế kỷ thứ nhất
Lời kinh có trong Phúc Âm Mátthêu chương 6 câu 9 tới 13 và Phúc Âm Luca chương 11 câu 2 tới 4, viết bằng tiếng Hy Lạp. Sách Didakhê, một bản giáo huấn Kitô Giáo mà bài hướng dẫn phụng vụ trên trang Hội đồng Giám mục Việt Nam xếp vào cuối thế kỷ thứ nhất, đã chép gần trọn bản Mátthêu kèm một câu vinh tụng. Bản Latinh trên trang này là bản trong sách lễ Rôma hiện hành.
Độ dài
Bảy lời xin, 49 chữ Latinh không kể chữ Amen
Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo số 2759 gọi bản Mátthêu là bản khai triển gồm bảy lời xin, còn bản Luca là bản ngắn gồm năm lời xin. Đếm trên bản Latinh của sách lễ Rôma, từ chữ Pater tới chữ malo, được 49 chữ. Trang này ngắt thành mười dòng cho dễ đối chiếu, dòng cuối là chữ Amen.
Thường tụng khi
Kinh sáng và kinh tối, Thánh Lễ, Phụng vụ Giờ Kinh, lần chuỗi Mân Côi và hầu hết các buổi đọc kinh chung

ITrước Khi Đọc

Nếu hỏi một người Công Giáo Việt Nam thuộc kinh nào đầu tiên, câu trả lời gần như luôn là bài này. Đứa trẻ học nó trước khi biết đọc chữ, người già đọc nó khi không còn nhớ được bài nào khác. Chưa tới một phút là đọc xong, mà cả đời đạo của một người đi qua nó hằng ngày, sáng, tối, trong Thánh Lễ và giữa những hạt chuỗi.

Kinh Lạy Cha là lời cầu nguyện mà theo hai sách Phúc Âm Mátthêu và Luca, chính Chúa Giêsu dạy các môn đệ. Vì thế người Công Giáo còn gọi nó là Lời Kinh Chúa Dạy, dịch từ cách gọi Latinh oratio dominica. Tên Latinh quen dùng là Pater Noster, lấy theo hai chữ mở đầu, nghĩa là Cha chúng con. Người nói tiếng Anh gọi là Our Father hay The Lord's Prayer. Tín đồ Tin Lành Việt Nam quen gọi là Bài Cầu Nguyện Chung.

Bài kinh có hai phần rõ rệt. Phần đầu gồm ba lời xin hướng về Thiên Chúa: danh Cha, nước Cha, ý Cha. Phần sau gồm bốn lời xin cho người đọc: lương thực, sự tha thứ, khỏi sa cám dỗ, khỏi sự dữ. Cách chia bảy lời xin như vậy theo sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo số 2759.

Trang này bày ba cột. Cột gốc là bản Latinh trong sách lễ Rôma, bản mà Hội Thánh Công Giáo dùng làm chuẩn cho phụng vụ. Cột Việt là bản tín đồ Công Giáo Việt Nam đọc thuộc hôm nay, không phải bản thư viện dịch. Cột Anh là bản truyền thống. Phía dưới, thư viện đặt thêm nguyên văn Hy Lạp của hai sách Phúc Âm, vì bản Latinh cũng là bản dịch, và nhiều chỗ khó của bài kinh chỉ hiện ra khi nhìn tới chữ Hy Lạp. Thư viện trình bày để quý vị đọc và hiểu, không đứng ra dạy quý vị cầu nguyện.

Theo sử liệu

Về lai lịch văn bản, bài kinh có mặt ở hai chỗ trong Tân Ước. Bản dài nằm trong Phúc Âm Mátthêu, chương 6, câu 9 tới 13, giữa Bài Giảng Trên Núi, khi Chúa Giêsu dạy về cách cầu nguyện kín đáo không phô trương. Bản ngắn nằm trong Phúc Âm Luca, chương 11, câu 2 tới 4, sau khi một môn đệ xin Thầy dạy cho biết cầu nguyện. Cả hai sách đều viết bằng tiếng Hy Lạp, dù giới sử học cho rằng Chúa Giêsu thường nói tiếng Aram, nên nguyên văn Hy Lạp đã là một lớp chuyển ngữ.

Bên ngoài Tân Ước, bản văn cổ nhất còn giữ được lời kinh là sách Didakhê, tức Giáo Huấn Của Mười Hai Tông Đồ. Sách này chép bản gần như trùng với Mátthêu, thêm một câu vinh tụng ở cuối, và dặn tín hữu đọc như thế ba lần mỗi ngày. Từ đó bài kinh đi vào phụng vụ. Theo bài hướng dẫn phụng vụ của linh mục Giuse Phạm Đình Ái trên trang Hội đồng Giám mục Việt Nam, thánh Grêgôriô Cả, giáo hoàng từ năm 590 tới 604, đã dời Kinh Lạy Cha trong Thánh Lễ Rôma lên đứng trước nghi thức bẻ bánh, chỗ mà bài kinh còn giữ tới nay.

Bản Latinh dùng trong phụng vụ không hoàn toàn trùng với bản Vulgata của thánh Giêrônimô. Ở câu xin bánh trong sách Mátthêu, bản Vulgata dịch là supersubstantialem, còn sách lễ giữ chữ cotidianum, hằng ngày, theo lối đọc Latinh cũ hơn và trùng với chữ dùng ở bản Luca. Đây là một ví dụ cho thấy lời kinh đọc trong nhà thờ có đời sống riêng, không chỉ là một đoạn trích Kinh Thánh.

IIToàn Văn Bảy Lời Xin

Nguyên văn Latinh theo sách lễ Rôma như in trong các sách lễ của Tòa Thánh đăng trên vatican.va, cột Việt là bản đọc của Giáo hội Công Giáo Việt Nam theo trang Hội đồng Giám mục Việt Nam, cột Anh là bản Our Father truyền thống thuộc phạm vi công cộng.
CâuNguyên văn LatinhBản đọc của Giáo hội Việt NamBản Anh truyền thống
1Pater noster, qui es in cælis:Lạy Cha chúng con ở trên trời,Our Father, who art in heaven,
2sanctificetur nomen tuum,chúng con nguyện danh Cha cả sáng,hallowed be thy name.
3adveniat regnum tuum,nước Cha trị đến,Thy kingdom come.
4fiat voluntas tua, sicut in cælo, et in terra.ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.Thy will be done on earth, as it is in heaven.
5Panem nostrum cotidianum da nobis hodie,Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày,Give us this day our daily bread,
6et dimitte nobis debita nostra,và tha nợ chúng conand forgive us our trespasses,
7sicut et nos dimittimus debitoribus nostris,như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con.as we forgive those who trespass against us,
8et ne nos inducas in tentationem,Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ,and lead us not into temptation,
9sed libera nos a malo.nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.but deliver us from evil.
10Amen.Amen.Amen.

IIIGiải Nghĩa Từng Câu

Phần dưới đi lần lượt qua mười dòng của bài kinh. Mỗi mục đặt dòng Latinh lên trước, rồi nói nghĩa sát chữ, nói những chữ cổ trong bản tiếng Việt mà người đọc hôm nay dễ hiểu lệch, và ghi những chỗ các nhà chú giải hiểu khác nhau. Chỗ nào là giáo nghĩa của Hội Thánh Công Giáo thì thư viện nói rõ là giáo nghĩa, dẫn theo sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, viết tắt là GLHTCG.

Pater noster, qui es in cælis

Chữ đầu tiên của bài là Cha. Trong Kinh Thánh Hebrew, gọi Thiên Chúa là Cha có xuất hiện nhưng không nhiều, và thường theo nghĩa Cha của cả dân tộc. Các sách Phúc Âm cho thấy Chúa Giêsu gọi Thiên Chúa là Cha một cách thường xuyên, và Phúc Âm Máccô còn giữ nguyên chữ Aram Abba trong lời cầu của Ngài. Kinh Lạy Cha trao cách gọi ấy cho các môn đệ.

Chữ chúng con cũng đáng chú ý. Bài kinh không dạy nói Cha của con mà nói Cha chúng con, và mọi lời xin phía sau đều ở số nhiều: cho chúng con, tha chúng con, cứu chúng con. Người đọc một mình trong phòng vẫn nói ở số nhiều.

Chữ ở trên trời dễ bị hiểu thành một địa điểm trên bầu trời. Theo giáo nghĩa, GLHTCG số 2794 giải rằng cách nói ấy không chỉ một nơi chốn mà chỉ một cách hiện hữu, tức sự uy nghi của Thiên Chúa vượt trên mọi sự. Còn chữ Lạy đứng đầu bản tiếng Việt không có trong nguyên văn. Nó là tiếng thưa gửi cung kính của người Việt, như khi nói lạy ông, lạy bà, và được đặt vào để câu mở đầu thành một lời thưa đúng phép tiếng Việt.

sanctificetur nomen tuum

Nghĩa sát chữ của dòng Latinh là xin danh Cha được thánh hóa. Nguyên văn Hy Lạp ἁγιασθήτω τὸ ὄνομά σου dùng thể mệnh lệnh ở dạng bị động, một lối nói mà tiếng Việt không có sẵn. Kinh Thánh bản 1926 của Tin Lành dịch sát là Danh Cha được thánh.

Bản Công Giáo Việt Nam nói chúng con nguyện danh Cha cả sáng. Chữ cả ở đây là chữ cổ, nghĩa là lớn, như trong cả gan, con cả, biển cả. Cả sáng tức sáng rực, rạng rỡ lớn. Lời kinh vì vậy mang nghĩa: chúng con cầu cho danh Cha được rạng rỡ, được tôn thờ như thánh. Chữ nguyện đặt thêm người đọc vào câu, biến một lời xin ở thể bị động thành lời ước của chính người cầu.

Các nhà chú giải hiểu lời xin này theo hai hướng. Hướng thứ nhất xem đây là lời xin chính Thiên Chúa tỏ ra sự thánh thiện của danh Ngài trong lịch sử. Hướng thứ hai nhấn vào phần con người: danh Cha được thánh hóa khi người ta sống xứng với danh ấy. Theo giáo nghĩa, GLHTCG số 2807 giải rằng chữ thánh hóa ở đây trước hết không hiểu theo nghĩa làm cho nên thánh, vì chỉ Thiên Chúa mới làm cho nên thánh, mà hiểu theo nghĩa nhìn nhận là thánh và đối xử cách thánh thiện.

Chữ danh trong ngôn ngữ Kinh Thánh không chỉ là cái tên để gọi. Danh là chính con người, chính bản thân được tỏ ra. Xin cho danh Cha cả sáng tức là xin cho chính Thiên Chúa được nhận biết.

adveniat regnum tuum

Nghĩa sát chữ: xin nước Cha đến. Chữ nước ở đây là vương quốc, triều đại, quyền cai trị, không phải nước uống và cũng không phải quốc gia hiểu theo bản đồ. Chữ Hy Lạp βασιλεία vừa có nghĩa vương quốc vừa có nghĩa vương quyền, tức việc làm vua.

Bản Việt nói nước Cha trị đến, hai chữ trị đến là đến mà cai trị, một lối ghép động từ cổ gọn gàng mà câu nói thường ngày hôm nay ít dùng. Người mới đọc đôi khi tách nhầm thành nước Cha trị, rồi đến, nên cần đọc hai chữ ấy như một khối.

Đây là chỗ các nhà chú giải cổ và mới hiểu khác nhau khá rõ. Có cách hiểu đặt lời xin vào thời sau hết, xin cho ngày Thiên Chúa hoàn tất lịch sử mau tới. Có cách hiểu đặt vào hiện tại, xin cho Thiên Chúa cai trị ngay trong lòng người và trong đời sống. Có cách hiểu của thánh Cyprianô, được GLHTCG số 2816 nhắc lại, cho rằng Nước Thiên Chúa có thể chính là Đức Kitô. Giáo nghĩa Công Giáo không chọn một bỏ hai mà xem ba lớp nghĩa ấy nối nhau.

fiat voluntas tua, sicut in cælo, et in terra

Nghĩa sát chữ: xin ý Cha được thành, như ở trên trời, cũng ở dưới đất. Tiếng Latinh đặt trời trước, đất sau, và bản Anh giữ đúng thứ tự ấy. Bản Việt đảo lại, nói dưới đất cũng như trên trời, là cách xếp tự nhiên hơn trong câu tiếng Việt: lấy trên trời làm mẫu, xin dưới đất cũng được như thế.

Chữ thể hiện là chỗ người đọc hôm nay dễ hiểu lệch nhất. Trong tiếng Việt thường ngày bây giờ, thể hiện nghĩa là bày tỏ ra, biểu lộ ra, như thể hiện cảm xúc. Trong lời kinh, chữ ấy mang nghĩa cũ hơn: được thực hiện, được nên trọn. Kinh Thánh bản 1926 của Tin Lành dịch cùng câu này là Ý Cha được nên, cho thấy rõ nghĩa ấy.

Bản Latinh có dấu phẩy sau chữ cælo, và các nhà chú giải từ lâu đã để ý rằng vế dưới đất cũng như trên trời có thể đọc riêng cho lời xin thứ ba, hoặc đọc chung cho cả ba lời xin đầu: danh Cha, nước Cha, ý Cha, tất cả đều xin được dưới đất như trên trời. Hai cách đọc đều có người theo.

Panem nostrum cotidianum da nobis hodie

Đây là dòng khó dịch nhất của cả bài, và cái khó nằm ở một chữ Hy Lạp: ἐπιούσιον, đọc là epiousion, mà bản Việt dịch là hằng ngày. Theo GLHTCG số 2837, ngoài lời kinh này ở Mátthêu và Luca, chữ ấy không xuất hiện ở chỗ nào khác trong Tân Ước. Nhà chú giải Ôrigênê ở thế kỷ thứ ba đã ghi rằng ông không tìm thấy chữ ấy nơi một tác giả Hy Lạp nào, cũng không nghe trong lời nói thường, và cho rằng hình như các tác giả Phúc Âm đã đặt ra nó.

Vì thế từ thời cổ đã có nhiều cách hiểu. Cách thứ nhất hiểu theo thời gian: bánh cho hôm nay, cho từng ngày, nhắc lại chữ hôm nay đứng ngay sau. Đây là cách của bản Latinh cổ cotidianum và của bản Việt. Cách thứ hai hiểu theo cái cần: bánh vừa đủ để sống, không dư không thiếu. Cách thứ ba tách chữ thành epi, ở trên, và ousia, bản thể, thành bánh vượt trên bản thể. Thánh Giêrônimô theo cách này khi dịch Mátthêu trong bản Vulgata là supersubstantialem, và nhiều Giáo phụ hiểu đó là bánh Thánh Thể. Cách thứ tư nối chữ với cụm từ Hy Lạp chỉ ngày hôm sau, thành bánh cho ngày mai. Chính thánh Giêrônimô ghi lại rằng trong một sách Phúc Âm tiếng Hebrew mà ông được đọc, chỗ này là chữ mahar, nghĩa là ngày mai.

Theo giáo nghĩa, GLHTCG số 2837 giữ cùng lúc nghĩa thời gian, nghĩa cái cần cho sự sống, và nghĩa bánh sự sống là Thánh Thể. Bản Việt chọn chữ lương thực, rộng hơn chữ bánh, vì với người Việt thứ nuôi sống hằng ngày là cơm gạo chứ không phải bánh mì.

et dimitte nobis debita nostra

Nghĩa sát chữ: và tha cho chúng con những món nợ của chúng con. Bản Việt giữ đúng hình ảnh ấy: tha nợ chúng con. Chữ Hy Lạp trong Mátthêu là ὀφειλήματα, những món nợ, còn Luca viết ἁμαρτίας, những tội lỗi. Hai sách dùng hai chữ khác nhau cho cùng một lời xin.

Nhiều nhà chú giải lưu ý rằng trong tiếng Aram, ngôn ngữ mà giới sử học cho là Chúa Giêsu thường nói, cùng một chữ vừa có nghĩa món nợ vừa có nghĩa tội. Mátthêu giữ hình ảnh nợ, Luca nói thẳng ra là tội cho người đọc gốc Hy Lạp dễ hiểu. Chính Luca vẫn để lộ hình ảnh gốc ở vế sau, khi nói tha cho mọi người mắc nợ chúng con.

Bản Anh truyền thống ở đây lại dùng chữ trespasses, những lần xâm phạm, lỗi phạm, chứ không dùng debts. Kinh Thánh King James dịch Mátthêu 6,12 là debts, nhưng lời kinh tiếng Anh đọc trong nhà thờ từ lâu đã theo chữ trespasses, chữ mà bản King James dùng ở hai câu giải thích ngay sau bài kinh, Mátthêu 6,14 và 15, để dịch chữ Hy Lạp παραπτώματα, những lỗi phạm. Đây là ví dụ cho thấy ba bản trên trang này không phải bản nào cũng dịch từng chữ từ bản kia.

sicut et nos dimittimus debitoribus nostris

Nghĩa sát chữ: như chính chúng con cũng tha cho những người mắc nợ chúng con. Bản Việt: như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con. Chữ kẻ trong lời kinh không mang ý coi thường như trong tiếng Việt nói hôm nay. Trong lối văn cũ, kẻ chỉ đơn giản là người, như trong kẻ trên người dưới, kẻ ở người đi.

Đây là lời xin duy nhất trong bài có kèm một vế nói về việc người cầu làm. Mátthêu dùng động từ ở thì đã xong, ἀφήκαμεν, như chúng con đã tha. Luca dùng thì hiện tại, như chúng con đang tha. Bản Byzantine của Mátthêu thì có thì hiện tại giống Luca.

Các nhà chú giải cân nhắc chữ như theo hai hướng. Có người đọc nó như một thước đo: xin tha cho chúng con theo đúng mức chúng con tha người. Có người đọc nó như một điều kiện đi kèm, không phải cái giá để mua sự tha thứ, mà là dấu cho thấy lòng đã mở ra. Phúc Âm Mátthêu đặt ngay sau bài kinh, ở câu 14 và 15, hai câu giải thích chỉ riêng lời xin này, điều cho thấy tác giả xem nó là chỗ then chốt.

et ne nos inducas in tentationem

Nghĩa sát chữ của tiếng Latinh: và xin đừng dẫn chúng con vào cơn cám dỗ. Nguyên văn Hy Lạp καὶ μὴ εἰσενέγκῃς ἡμᾶς εἰς πειρασμόν cũng dùng động từ mang nghĩa đưa vào, mang vào. Đọc sát chữ thì câu này như hàm ý chính Thiên Chúa có thể dẫn người ta vào cám dỗ, và đó là chỗ người đọc thường vấp.

Bản Việt nói xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, tức ngay từ đầu đã dịch theo nghĩa đừng để chứ không phải đừng dẫn. Chữ sa là rơi vào, sa chân, sa lưới. Chữ chước là mưu kế, mẹo lừa, như trong mưu chước. Sa chước cám dỗ vì thế là rơi vào mưu mẹo của sự cám dỗ, một hình ảnh cụ thể hơn chữ cám dỗ đứng một mình.

Theo giáo nghĩa, GLHTCG số 2846 giải rằng động từ Hy Lạp ở đây vừa có nghĩa xin đừng để chúng con đi vào cơn cám dỗ, vừa có nghĩa xin đừng để chúng con sa ngã trong cơn cám dỗ, và dẫn thư Giacôbê chương 1 câu 13 rằng Thiên Chúa không cám dỗ ai. Chữ πειρασμός trong tiếng Hy Lạp cũng rộng hơn chữ cám dỗ, còn có nghĩa thử thách. Vì vậy các nhà chú giải chia hai hướng: có người hiểu đây là những cám dỗ thường ngày, có người hiểu là cơn thử thách lớn của thời sau hết.

sed libera nos a malo

Nghĩa sát chữ: nhưng xin giải thoát chúng con khỏi điều dữ. Bản Việt: nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ. Chữ dữ trong tiếng Việt cổ là xấu, ác, trái với lành, như trong điềm dữ, tin dữ. Sự dữ là điều ác, không phải sự hung dữ.

Chữ Hy Lạp τοῦ πονηροῦ ở cuối Mátthêu có thể hiểu hai cách, và các nhà chú giải cổ đã chia đôi từ sớm. Về văn phạm, nó có thể là giống trung, điều ác, hoặc giống đực, kẻ ác. Truyền thống Latinh thường hiểu theo nghĩa thứ nhất, nhiều Giáo phụ Hy Lạp hiểu theo nghĩa thứ hai. Theo giáo nghĩa, GLHTCG số 2851 nói rằng sự dữ ở đây không phải một điều trừu tượng mà chỉ một nhân vật, là Satan, Kẻ Dữ. Vì thế có sách kinh và bài giảng Việt Nam viết hoa thành sự Dữ.

Luca không có lời xin này. Bản của Luca dừng ở câu xin chớ để chúng con sa cám dỗ.

Amen.

Amen là chữ gốc Hebrew, được giữ nguyên qua tiếng Hy Lạp, Latinh, rồi sang tiếng Việt. Theo GLHTCG số 2856, chữ ấy có nghĩa xin được như vậy. Người Việt đọc là a men.

Có một chi tiết ít người để ý. Khi đọc riêng, ở nhà hay khi lần hạt, người Công Giáo khép bài kinh bằng chữ Amen. Nhưng trong Thánh Lễ, sau câu cứu chúng con cho khỏi sự dữ không ai đọc Amen, vì linh mục nói tiếp ngay một lời nguyện nối dài lời xin cuối, rồi cộng đoàn đáp bằng câu vinh tụng. Sách lễ Latinh cũng không in chữ Amen ở chỗ ấy.

IVHai Bản Mátthêu Và Luca

Bản Latinh trong cột gốc là bản dịch, và gốc của nó là tiếng Hy Lạp của hai sách Phúc Âm. Mục này đặt hai bản Hy Lạp cạnh nhau, theo bản SBL Greek New Testament, bản văn phê bình mà giới nghiên cứu Tân Ước hiện dùng rộng rãi, có đối chiếu với các bản Nestle 1904 và Westcott và Hort 1881.

Bản Mátthêu, chương 6, câu 9 tới 13

Πάτερ ἡμῶν ὁ ἐν τοῖς οὐρανοῖς· ἁγιασθήτω τὸ ὄνομά σου, ἐλθέτω ἡ βασιλεία σου, γενηθήτω τὸ θέλημά σου, ὡς ἐν οὐρανῷ καὶ ἐπὶ γῆς· τὸν ἄρτον ἡμῶν τὸν ἐπιούσιον δὸς ἡμῖν σήμερον· καὶ ἄφες ἡμῖν τὰ ὀφειλήματα ἡμῶν, ὡς καὶ ἡμεῖς ἀφήκαμεν τοῖς ὀφειλέταις ἡμῶν· καὶ μὴ εἰσενέγκῃς ἡμᾶς εἰς πειρασμόν, ἀλλὰ ῥῦσαι ἡμᾶς ἀπὸ τοῦ πονηροῦ.

Đây là bản mà Hội Thánh chọn làm lời kinh chung. GLHTCG số 2759 ghi rằng truyền thống phụng vụ của Hội Thánh đã giữ bản của Mátthêu. Bản Latinh ở cột gốc bám theo bản này gần như từng chữ, chỉ khác ở chữ cotidianum đã nói ở trên.

Bản Luca, chương 11, câu 2 tới 4

Πάτερ, ἁγιασθήτω τὸ ὄνομά σου· ἐλθέτω ἡ βασιλεία σου· τὸν ἄρτον ἡμῶν τὸν ἐπιούσιον δίδου ἡμῖν τὸ καθ’ ἡμέραν· καὶ ἄφες ἡμῖν τὰς ἁμαρτίας ἡμῶν, καὶ γὰρ αὐτοὶ ἀφίομεν παντὶ ὀφείλοντι ἡμῖν· καὶ μὴ εἰσενέγκῃς ἡμᾶς εἰς πειρασμόν.

Bản Luca ngắn hơn rõ rệt. Lời gọi chỉ còn một chữ Cha, không có chúng con, không có ở trên trời. Không có lời xin ý Cha được thành. Không có lời xin cứu khỏi sự dữ. Xin bánh thì không nói hôm nay mà nói τὸ καθ’ ἡμέραν, mỗi ngày, và động từ ở thì hiện tại, như xin cho đều đặn từng ngày.

So hai bản Hy Lạp theo SBL Greek New Testament. Nguồn: SBL Greek New Testament, số lời xin theo GLHTCG số 2759.
Chỗ soMátthêu 6,9 tới 13Luca 11,2 tới 4
Hoàn cảnhGiữa Bài Giảng Trên Núi, khi dạy cầu nguyện kín đáoSau khi một môn đệ xin Thầy dạy cầu nguyện
Lời gọiCha chúng con ở trên trờiCha
Số lời xinBảyNăm
Xin bánhCho hôm nay, σήμερονCho mỗi ngày, τὸ καθ’ ἡμέραν
Xin thaNhững món nợ, như chúng con đã thaNhững tội lỗi, vì chúng con cũng tha
Vế cuốiCó lời xin cứu khỏi sự dữDừng ở lời xin chớ để sa cám dỗ
Theo sử liệu

Vì sao có hai bản khác nhau, giới nghiên cứu chưa có một câu trả lời chung. Có ba hướng chính. Hướng thứ nhất cho rằng bản Luca gần với độ dài ban đầu hơn, còn bản Mátthêu đã được các cộng đoàn thêm vào trong lúc dùng làm kinh chung, vì người ta thường thêm vào một lời kinh hơn là bớt đi. Hướng thứ hai cho rằng Mátthêu giữ câu chữ gốc sát hơn ở nhiều chỗ, như hình ảnh món nợ. Hướng thứ ba cho rằng Chúa Giêsu có thể đã dạy lời kinh này nhiều lần, trong những hoàn cảnh khác nhau, nên hai sách ghi hai dạng.

Các bản chép tay đời sau cho thấy người chép có xu hướng kéo Luca về gần Mátthêu. Bản Textus Receptus năm 1894 và bản Byzantine ghi Luca với đủ câu Cha chúng con ở trên trời, câu ý Cha được thành và câu cứu khỏi sự dữ, những câu mà các bản phê bình như SBL, Nestle 1904 và Westcott và Hort đều không có. Các nhà phê bình văn bản xem đó là chỗ người chép thêm cho hai bản khớp nhau. Ở Luca 11,2, bản Nestle 1904 và Westcott và Hort viết ἐλθάτω, còn bản SBL viết ἐλθέτω, hai dạng của cùng một động từ, nghĩa không đổi.

Bản Didakhê cũng có mấy chỗ khác Mátthêu: nói ở trên trời bằng số ít ἐν τῷ οὐρανῷ, và nói món nợ bằng số ít τὴν ὀφειλὴν ἡμῶν. Những khác biệt nhỏ ấy cho thấy lời kinh đã được đọc thuộc lòng và truyền miệng trong các cộng đoàn từ rất sớm, trước khi văn bản được chép cố định.

Theo giáo nghĩa

Theo giáo nghĩa, Hội Thánh Công Giáo xem Kinh Lạy Cha không chỉ là một lời kinh giữa nhiều lời kinh. GLHTCG số 2761 dẫn lời văn sĩ Tertullianô ở Bắc Phi gọi bài kinh là breviarium totius Evangelii, bản tóm lược toàn bộ Phúc Âm. Thánh Augustinô viết rằng mọi lời cầu nguyện trong Kinh Thánh đều đã có sẵn trong Kinh Lạy Cha. Vì thế trong nghi thức khai tâm Kitô Giáo, người dự tòng được trao Kinh Lạy Cha như trao một kho báu, rồi đọc lại trong Thánh Lễ cùng cộng đoàn.

VCâu Vinh Tụng Vì Vương Quyền

Người đã dự Thánh Lễ Công Giáo và dự buổi nhóm của Tin Lành thường nhận ra một chỗ khác. Tín đồ Tin Lành đọc xong câu xin cứu khỏi điều ác thì đọc liền một câu tôn vinh. Người Công Giáo cũng đọc một câu gần giống vậy, nhưng chỉ trong Thánh Lễ, và không đọc liền mà cách ra một đoạn. Mục này nói câu ấy từ đâu tới và vì sao mỗi truyền thống đặt nó một chỗ khác.

Theo sử liệu

Về văn bản, câu vinh tụng không có trong những bản chép tay Phúc Âm Mátthêu cổ nhất còn giữ được, như Codex Sinaiticus và Codex Vaticanus ở thế kỷ thứ tư. Các bản văn phê bình như SBL, Nestle 1904 và Westcott và Hort vì thế kết thúc Mátthêu 6,13 ở chữ πονηροῦ. Bản Byzantine và Textus Receptus thì có thêm câu:

ὅτι σοῦ ἐστιν ἡ βασιλεία καὶ ἡ δύναμις καὶ ἡ δόξα εἰς τοὺς αἰῶνας. ἀμήν.

Nghĩa là: vì nước, quyền năng và vinh quang thuộc về Cha đến muôn đời. Amen.

Nhưng câu này rất cổ. Sách Didakhê đã có một dạng ngắn hơn, chỉ hai vế: ὅτι σοῦ ἐστιν ἡ δύναμις καὶ ἡ δόξα εἰς τοὺς αἰῶνας, vì quyền năng và vinh quang thuộc về Cha đến muôn đời. GLHTCG số 2760 ghi rằng Hội Thánh sớm thêm câu vinh tụng này vào cuối lời kinh khi đọc trong phụng vụ, và sách Hiến Chế Các Tông Đồ về sau thêm chữ vương quốc vào đầu. Giới phê bình văn bản vì vậy phần đông cho rằng câu vinh tụng đi từ phụng vụ vào bản chép tay, chứ không đi từ bản chép tay ra phụng vụ.

Trong Thánh Lễ Công Giáo

Trong Thánh Lễ Rôma, câu vinh tụng đứng ở cuối một trình tự ba bước. Trước hết linh mục mời cộng đoàn. Bản Latinh là Præceptis salutaribus moniti, et divina institutione formati, audemus dicere, bản tiếng Việt là Vâng lệnh Chúa Cứu Thế và theo thể thức Người dạy, chúng ta dám nguyện rằng. Chữ dám ở đây dịch chữ audemus. Theo giáo nghĩa, GLHTCG số 2777 giải rằng chữ ấy nói lên sự mạnh dạn của người con, tức gọi Thiên Chúa là Cha là điều người ta chỉ dám làm vì chính Chúa Giêsu đã dạy.

Tiếp đó cả cộng đoàn đọc hoặc hát Kinh Lạy Cha tới câu cứu chúng con cho khỏi sự dữ, không đọc Amen. Linh mục nói tiếp một mình lời nguyện mà sách phụng vụ gọi là lời nguyện chêm, tiếng Latinh là embolismus, tức đoạn chêm vào. Lời ấy mở đầu bằng Libera nos, quæsumus, Domine, ab omnibus malis, bản tiếng Việt mở đầu bằng Lạy Chúa, xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, rồi xin bình an và kết bằng niềm mong đợi ngày Đức Giêsu Kitô trở lại. Nói cách khác, lời nguyện chêm lấy câu xin cuối của Kinh Lạy Cha mà nói rộng ra.

Sau cùng cộng đoàn đáp câu vinh tụng. Bản Latinh là Quia tuum est regnum, et potestas, et gloria in sæcula. Bản tiếng Việt là Vì vương quyền, uy lực và vinh quang là của Chúa đến muôn đời. Câu vinh tụng như vậy vẫn có, chỉ là đứng sau lời nguyện chêm chứ không đứng liền sau Kinh Lạy Cha.

Trong thói quen Tin Lành

Phần lớn các hệ phái Tin Lành đọc câu vinh tụng liền ngay sau câu xin cuối, như một phần của bài kinh. Lý do dễ thấy: những bản Kinh Thánh Tin Lành quen dùng lâu đời, như King James và bản tiếng Việt 1926, đều có câu vinh tụng ở Mátthêu 6,13, theo dòng văn bản Textus Receptus. Kinh Thánh King James năm 1611 kết câu ấy bằng For thine is the kingdom, and the power, and the glory, for ever. Amen. Kinh Thánh tiếng Việt bản 1926 dịch là Vì nước, quyền, vinh hiển đều thuộc về Cha đời đời. A-men. Tín đồ Tin Lành Việt Nam đọc thuộc chính câu này.

Các bản Kinh Thánh dịch theo văn bản phê bình về sau thường đưa câu này xuống phần chú thích, nhưng lối đọc trong nhà thờ vẫn giữ câu vinh tụng. Chỗ khác nhau giữa hai truyền thống vì thế không nằm ở chỗ bên nào nhận hay bỏ câu này, mà ở chỗ đặt nó ở đâu và đọc khi nào.

Câu vinh tụng trong bốn cách đọc. Nguồn: sách lễ Rôma trên vatican.va, bài của Lm. Giuse Phạm Đình Ái trên hdgmvietnam.com, Kinh Thánh 1926, sách Didakhê chương 8.
Truyền thốngCâu vinh tụngĐặt ở đâu
Công Giáo, đọc riêngKhông đọcKết bằng Amen sau câu khỏi sự dữ
Công Giáo, Thánh LễVì vương quyền, uy lực và vinh quang là của Chúa đến muôn đờiSau lời nguyện chêm của linh mục
Tin Lành Việt NamVì nước, quyền, vinh hiển đều thuộc về Cha đời đời. A-menLiền sau câu cứu khỏi điều ác
Sách DidakhêVì quyền năng và vinh quang thuộc về Cha đến muôn đờiLiền sau câu cứu khỏi điều ác

VITín Đồ Đọc Khi Nào Và Ra Sao

Trong đời sống đạo Công Giáo, khó tìm được buổi cầu nguyện chung nào không có Kinh Lạy Cha. Sách Didakhê đã dặn đọc ba lần mỗi ngày, và phụng vụ hôm nay vẫn giữ con số ấy: bản Quy Chế Tổng Quát Phụng Vụ Giờ Kinh, số 195, ghi rằng Kinh Lạy Cha được đọc long trọng ba lần trong ngày, trong Thánh Lễ, trong Kinh Sáng và trong Kinh Chiều. Ngoài ba lần ấy, bài kinh còn có mặt ở những chỗ dưới đây.

Kinh sáng và kinh tối

Trong các gia đình Công Giáo Việt Nam, giờ kinh tối là nếp quen lâu đời: cả nhà quỳ trước bàn thờ Chúa, một người xướng, mọi người đọc theo. Kinh Lạy Cha đứng giữa các kinh căn bản như Kinh Kính Mừng, Kinh Sáng Danh, Kinh Tin Kính. Nhiều người còn đọc bài này khi vừa thức dậy, trước bữa ăn và trước khi ngủ.

Thánh Lễ

Sau Kinh Nguyện Thánh Thể và trước nghi thức chúc bình an, bẻ bánh. Cộng đoàn đứng, linh mục mời bằng câu Vâng lệnh Chúa Cứu Thế, rồi mọi người cùng đọc hoặc hát. Theo bài hướng dẫn trên trang Hội đồng Giám mục Việt Nam, trong các cải tổ phụng vụ khoảng năm 1958 tới 1968 cộng đoàn mới được cùng đọc phần này, trước đó chỉ linh mục đọc.

Phụng vụ Giờ Kinh

Linh mục, tu sĩ và nhiều giáo dân đọc Kinh Sáng và Kinh Chiều mỗi ngày. Kinh Lạy Cha đặt sau phần lời cầu, theo Quy Chế Tổng Quát Phụng Vụ Giờ Kinh số 194. Cùng với Thánh Lễ, đó là ba lần đọc long trọng trong ngày.

Chuỗi Mân Côi

Mở đầu chuỗi, sau Kinh Tin Kính, đọc một Kinh Lạy Cha, ba Kinh Kính Mừng và một Kinh Sáng Danh. Mỗi chục gồm một Kinh Lạy Cha, mười Kinh Kính Mừng, một Kinh Sáng Danh, trọn chuỗi năm chục. Hạt đọc Kinh Lạy Cha thường to hơn hoặc đứng tách riêng, để người lần hạt biết bằng đầu ngón tay mà không cần nhìn.

Tang lễ và giờ kinh cầu hồn

Khi trong họ đạo có người qua đời, bà con tới nhà đọc kinh suốt những ngày tang. Kinh Lạy Cha được đọc lặp lại trong các giờ kinh ấy, thường nhiều lần trong một buổi, cùng với chuỗi Mân Côi và các kinh cầu cho người đã khuất.

Cách đọc của người Việt

Người Công Giáo Việt Nam không đọc Kinh Lạy Cha như đọc một đoạn văn xuôi. Trong các nhà thờ và gia đình, lời kinh được đọc theo lối đọc kinh có cung giọng riêng, lên xuống bám theo sáu thanh của tiếng Việt, một người xướng câu đầu rồi cả cộng đoàn tiếp theo. Cung giọng ấy khác nhau giữa các miền và các giáo phận. Trong Thánh Lễ, nhiều nơi hát Kinh Lạy Cha theo các bản nhạc phụng vụ đã được phép dùng.

Về tư thế, trong Thánh Lễ cộng đoàn đứng, linh mục dang tay. Ở nhà, giờ kinh tối thường quỳ. Có nơi cộng đoàn nắm tay nhau khi đọc, nhưng bài hướng dẫn phụng vụ của linh mục Giuse Phạm Đình Ái đăng trên trang Hội đồng Giám mục Việt Nam lưu ý rằng việc nắm tay không phải chỉ dẫn chính thức của Hội Thánh.

Tại Vương cung thánh đường Thánh Phêrô ở Rôma, trong các sách lễ in cho những Thánh Lễ lớn, như hai cuốn năm 2012 và năm 2022 mà thư viện đã đối chiếu, Kinh Lạy Cha in bằng tiếng Latinh, đúng bản ở cột gốc của trang này, kèm bản dịch tiếng Ý cho người dự. Tại các nhà thờ Việt Nam như Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn, cộng đoàn đọc hoặc hát bằng tiếng Việt, đúng bản ở cột Việt.

Lời kinh tiếng Việt qua các thời

Bản ở cột Việt là bản các giáo phận Việt Nam đang in trong sách kinh, và trang Hội đồng Giám mục Việt Nam cũng đăng đúng bản ấy. Đối chiếu sách kinh Giáo phận Hà Tĩnh có phép in năm 2023 với trang Hội đồng Giám mục Việt Nam và trang conggiao.org, lời kinh khớp nhau từng chữ. Chỗ khác duy nhất là lối viết hoa: có sách viết Danh Cha, Nước Cha, Ý Cha bằng chữ hoa, có sách viết thường.

Lời kinh giữ nhiều chữ cổ mà câu nói hôm nay ít dùng: cả sáng, trị đến, thể hiện theo nghĩa được thực hiện, chước, kẻ, sự dữ. Những chữ ấy cho thấy lời kinh đã được định hình từ lâu và được giữ nguyên qua nhiều thế hệ, vì một bài kinh đọc thuộc lòng chung thì đổi một chữ cũng khó.

Lời kinh cũng đã có những lần đổi. Trên các trang kinh nguyện Công Giáo, một số người lớn tuổi còn chép lại lời kinh họ học thời nhỏ, trong đó xưng chúng tôi thay cho chúng con và có câu xin lương thực nói khác. Thư viện chưa tìm được văn bản chính thức nào ghi rõ nguyên văn các bản cũ, năm đổi lời và cơ quan quyết định, nên không chép lại lời cũ và không ghi mốc năm. Riêng bên Tin Lành, bản Kinh Thánh 1926 mở đầu câu này bằng Lạy Cha chúng tôi ở trên trời, và tín đồ Tin Lành đọc theo bản ấy.

VIINhững Chỗ Hay Hiểu Lầm

Vì bài kinh quá quen, người ta ít khi dừng lại hỏi từng chữ nghĩa là gì, và từ đó sinh ra những chỗ hiểu lệch. Năm điểm dưới đây là những chỗ thư viện gặp thường hơn cả, ghi lại để quý vị đọc mà đối chiếu.

Kinh Lạy Cha là kinh riêng của Công Giáo

Bài kinh nằm trong Tân Ước, nên mọi hệ phái Kitô Giáo đều đọc: Công Giáo, Chính Thống, Anh Giáo, Tin Lành. Lời dịch và cách đặt câu vinh tụng thì mỗi nơi mỗi khác, nhưng bảy lời xin là chung. Đây là một trong rất ít lời kinh mà tín hữu các hệ phái có thể cùng đọc trong một buổi nhóm chung.

Công Giáo đã cắt bỏ câu Vì vương quyền

Người Công Giáo vẫn đọc câu ấy trong mỗi Thánh Lễ, chỉ là đặt sau lời nguyện chêm của linh mục chứ không đặt liền sau bài kinh. Còn trong Phúc Âm, câu ấy không có trong các bản chép tay Mátthêu cổ nhất như Codex Sinaiticus và Codex Vaticanus, dù đã có trong sách Didakhê.

Câu chớ để chúng con sa chước cám dỗ nghĩa là Thiên Chúa cám dỗ người

Bản tiếng Việt đã dịch theo nghĩa đừng để, không phải đừng dẫn. Theo giáo nghĩa, GLHTCG số 2846 giải rằng động từ Hy Lạp ở đây mang nghĩa xin đừng để chúng con đi vào và đừng để chúng con sa ngã trong cơn cám dỗ, và dẫn thư Giacôbê 1,13 rằng Thiên Chúa không cám dỗ ai.

Lương thực hằng ngày chỉ là cơm ăn

Ngoài lời kinh này ở Mátthêu và Luca, chữ Hy Lạp epiousios không có chỗ nào khác trong Tân Ước, nên từ thời cổ đã có ít nhất bốn cách hiểu: bánh cho từng ngày, bánh vừa đủ để sống, bánh vượt trên bản thể, bánh cho ngày mai. Theo giáo nghĩa Công Giáo, lời xin bao gồm cả cơm ăn áo mặc lẫn bánh Thánh Thể, như GLHTCG số 2837 giải.

Tha nợ là chuyện tiền bạc

Chữ nợ trong lời kinh là hình ảnh. Mátthêu viết những món nợ, Luca viết thẳng là những tội lỗi cho cùng một lời xin. Nhiều nhà chú giải lưu ý rằng trong tiếng Aram, cùng một chữ vừa là nợ vừa là tội. Kẻ có nợ chúng con là người đã làm điều sai với chúng con, không chỉ là người vay tiền chưa trả.

?Hỏi Đáp Nhanh

Kinh Lạy Cha có trong Kinh Thánh ở đâu

Có ở hai chỗ trong Tân Ước. Bản dài nằm trong Phúc Âm Mátthêu chương 6 câu 9 tới 13, giữa Bài Giảng Trên Núi, gồm bảy lời xin. Bản ngắn nằm trong Phúc Âm Luca chương 11 câu 2 tới 4, gồm năm lời xin. Theo sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo số 2759, truyền thống phụng vụ đã giữ bản Mátthêu, và đó là bản người Công Giáo đọc hằng ngày.

Vì sao người Công Giáo không đọc câu Vì vương quyền ngay sau Kinh Lạy Cha

Người Công Giáo vẫn đọc câu ấy trong Thánh Lễ, nhưng đặt sau lời nguyện chêm của linh mục, là lời nguyện bắt đầu bằng Lạy Chúa, xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ. Câu đáp của cộng đoàn là Vì vương quyền, uy lực và vinh quang là của Chúa đến muôn đời. Khi đọc riêng ngoài Thánh Lễ thì kết bằng Amen. Câu vinh tụng không có trong những bản chép tay Mátthêu cổ nhất nhưng đã có trong sách Didakhê, nên giới nghiên cứu cho rằng nó đi từ phụng vụ vào bản chép tay.

Lương thực hằng ngày trong Kinh Lạy Cha nghĩa gốc là gì

Chữ gốc Hy Lạp là ἐπιούσιον, epiousion, một chữ mà ngoài lời kinh này ở Mátthêu và Luca không xuất hiện ở đâu khác trong Tân Ước, nên từ thời cổ đã có nhiều cách hiểu: bánh cho từng ngày, bánh vừa đủ để sống, bánh vượt trên bản thể, bánh cho ngày mai. Thánh Giêrônimô dịch chữ ấy trong Mátthêu là supersubstantialem, còn sách lễ Latinh giữ chữ cotidianum, hằng ngày. Theo giáo nghĩa, sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo số 2837 giữ cùng lúc nghĩa cái cần cho sự sống hằng ngày và nghĩa bánh Thánh Thể.

Kinh Lạy Cha của Công Giáo và Tin Lành khác nhau chỗ nào

Bảy lời xin là chung, vì cùng lấy từ Phúc Âm Mátthêu. Khác nhau ở lời dịch và ở câu vinh tụng. Người Công Giáo Việt Nam đọc Lạy Cha chúng con ở trên trời theo bản của Giáo hội Việt Nam, kết bằng Amen, và chỉ đọc câu Vì vương quyền trong Thánh Lễ sau lời nguyện chêm. Tín đồ Tin Lành Việt Nam đọc theo Kinh Thánh bản 1926, mở đầu Lạy Cha chúng tôi ở trên trời, và đọc liền câu Vì nước, quyền, vinh hiển đều thuộc về Cha đời đời. A-men.

Sa chước cám dỗ nghĩa là gì

Chữ sa là rơi vào, chữ chước là mưu kế, mẹo lừa, như trong mưu chước. Sa chước cám dỗ là rơi vào mưu mẹo của sự cám dỗ. Nguyên văn Hy Lạp dùng động từ mang nghĩa đưa vào, nhưng bản tiếng Việt đã dịch là xin chớ để, tức không hàm ý Thiên Chúa dẫn người vào cám dỗ. Theo giáo nghĩa, sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo số 2846 giải rằng lời xin này vừa có nghĩa đừng để chúng con đi vào cơn cám dỗ, vừa có nghĩa đừng để chúng con sa ngã trong cơn cám dỗ.

›Đọc Tiếp