VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Gayatri Mantra

गायत्री मन्त्र · Sāvitrī, Savitri Mantra, câu chú Gāyatrī, Rigveda 3.62.10

Hai mươi bốn âm tiết từ Rigveda 3.62.10, cùng dòng mở đầu Om và ba vyahrti, nguyên văn Devanagari, phiên âm IAST, dịch Việt, dịch Anh và giải nghĩa từng chữ

Thuộc đạo
Ấn Độ Giáo
Niên đại
Rigveda, quyển 3, bài 62, câu 10
Britannica đặt việc soạn Rigveda vào khoảng năm 1500 trước Công nguyên. Chỉ mục truyền thống ghi câu này thuộc về ṛṣi Viśvāmitra con của Gāthin, dâng thần Savitr, viết theo thể gāyatrī. Dòng mở đầu Om và ba vyahrti không nằm trong câu Rigveda mà đến từ lối tụng, đã thấy trong Yajurveda trắng và trong Luật Manu.
Độ dài
24 âm tiết, cộng dòng mở đầu
Ba pada, mỗi pada 8 âm tiết theo thể gāyatrī. Pada đầu viết ra chỉ đếm được 7 âm tiết, phải đọc vareṇyaṃ thành vareṇiyaṃ mới đủ 8, như nhà nghiên cứu Dominik A. Haas đã nêu trong bài năm 2023. Dòng oṃ bhūr bhuvaḥ svaḥ đứng ngoài số ấy.
Thường tụng khi
Đọc trong nghi thức sandhyavandana lúc bình minh, giữa trưa và hoàng hôn, thường lần 108 lần với chuỗi hạt

ITrước Khi Đọc

Hai mươi bốn âm tiết, đọc chậm chưa hết nửa phút. Vậy mà đây là câu kinh Veda được đọc nhiều hơn cả trong đời sống Ấn Độ Giáo. Câu này nằm trong Rigveda, lớp kinh văn cổ nhất của đạo, được truyền bằng miệng qua rất nhiều thế hệ, được thầy trao cho trò trong lễ nhận dây thiêng, và được nhiều gia đình đọc lúc mặt trời lên, lúc đứng bóng và lúc mặt trời lặn. Người ta gọi nó là Gayatri Mantra, dù chữ gayatri vốn là tên một thể thơ chứ không phải tên riêng của câu chú.

Câu chú mang hai tên. Tên thông dụng là Gāyatrī गायत्री, lấy theo thể thơ ba dòng mỗi dòng tám âm tiết mà câu này dùng. Tên cổ hơn là Sāvitrī सावित्री, nghĩa là câu dâng thần Savitr. Britannica ghi cả hai tên và gọi đây là lời cầu xin sự khơi dậy tinh thần, dâng lên mặt trời. Luật Manu, bộ sách luật Bà La Môn cổ, gọi nó là câu Rik dâng Savitr bắt đầu bằng chữ tad.

Điều quý vị cần biết ngay từ đầu là câu mà người ta tụng ngày nay có hai lớp. Lớp trong là câu Rigveda, ba dòng, hai mươi bốn âm tiết, bắt đầu bằng tat savitur vareṇyaṃ. Lớp ngoài là dòng mở đầu oṃ bhūr bhuvaḥ svaḥ, gồm âm tiết thiêng Om và ba tiếng gọi tên ba cõi, gọi là ba vyāhṛti. Dòng mở đầu ấy không có trong Rigveda. Nó được đặt thêm vào theo lối tụng, và lối tụng đó đã có từ rất sớm.

Điều thứ hai cần biết là trong Rigveda mỗi âm tiết mang một dấu giọng cao thấp, và người học Veda theo lối cổ phải tụng đúng từng dấu. Các bản in và bản tụng thông dụng, cũng như bảng toàn văn trên trang này, không ghi những dấu giọng ấy. Mục lai lịch ngay dưới đây có dẫn một dòng chuyển tự có dấu giọng để quý vị thấy chúng trông ra sao.

Trang này trình bày toàn văn chữ Devanagari, phiên âm theo lối IAST mà giới học thuật dùng, bản dịch tiếng Việt và tiếng Anh do thư viện tự dịch, rồi giải nghĩa từng chữ. Bốn chữ dhīmahi, pracodayāt, bhargas và tên thần Savitṛ có nhiều cách hiểu khác nhau, và thư viện ghi thẳng những cách hiểu ấy thay vì chọn một cách rồi viết như thể đã xong.

Theo sử liệu

Vị trí trong Rigveda. Theo Britannica, Rigveda gồm 1.028 bài thơ xếp thành 10 quyển gọi là maṇḍala, được soạn bằng một dạng tiếng Phạn cổ vào khoảng năm 1500 trước Công nguyên và được giữ bằng miệng trước khi có bản chép. Câu Gayatri là câu 10 của bài 62 thuộc quyển 3, tức Rigveda 3.62.10. Chỉ mục truyền thống đi kèm bản kinh ghi câu này thuộc về ṛṣi Viśvāmitra con của Gāthin, vị thần được dâng là Savitā, và thể thơ là gāyatrī. Câu 11 kế sau trong cùng bài cũng gọi thần Savitr.

Dấu giọng. Trong bản saṃhitā, câu này được ghi kèm dấu giọng. Bài năm 2023 của Dominik A. Haas chép lại bằng chữ Latinh như sau: tát savitúr váreṇiyaṃ bhárgo devásya dhīmahi, dhíyo yó naḥ pracodáyāt. Các dấu sắc trên chữ Latinh đánh dấu âm tiết mang giọng cao. Chữ i trong váreṇiyaṃ được Haas phục dựng theo vận luật, không có trên mặt chữ truyền thống. Bảng toàn văn trên trang này bỏ các dấu ấy, đúng như lối tụng thông dụng.

Dòng mở đầu. Trong Yajurveda trắng, tức bộ Vājasaneyi Saṃhitā, ở chương 36 câu 3, câu chú đã đứng sau ba tiếng bhūr bhuvaḥ svaḥ. Bản dịch Anh của Ralph T. H. Griffith cho câu ấy mở đầu bằng ba tiếng Đất, Khoảng Giữa, Trời rồi dẫn về câu Savitr đã có ở chương trước. Âm tiết Om đứng trước cả ba tiếng ấy được Luật Manu nói rõ ở câu 2.81: ba đại vyāhṛti có âm Om đi trước, rồi tới câu Sāvitrī ba dòng, là cửa vào Veda. Như vậy dòng oṃ bhūr bhuvaḥ svaḥ là phần của lối tụng đã thành lệ, không phải phần của bài thơ Rigveda.

Chỗ các bản khác nhau. Về mặt chữ, các nguồn thư viện đối chiếu khớp nhau hoàn toàn ở phần câu Rigveda. Chỗ khác chỉ nằm ở cách ngắt và dấu câu: có bản viết liền cả bốn dòng, có bản đặt dấu । sau dhīmahi như bản saṃhitā. Ở dòng mở đầu, các dòng truyền thống theo Taittirīya thường đọc suvaḥ thay cho svaḥ, như trong Taittirīya Upaniṣad 1.5. Bản trên trang này theo lối svaḥ phổ biến hơn.

IIToàn Văn Gayatri Mantra

Rigveda 3.62.10 theo bản saṃhitā truyền thống, không ghi dấu giọng, có thêm dòng mở đầu Om và ba vyahrti theo lối tụng thông dụng. Cột Việt và cột Anh do thư viện dịch theo cách hiểu phổ biến trong lối tụng ngày nay.
CâuNguyên văn DevanagariPhiên âm IASTTiếng ViệtTiếng Anh
1ॐ भूर्भुवः स्वःoṃ bhūr bhuvaḥ svaḥOm. Cõi đất, cõi khoảng giữa, cõi trời.Om. Earth, the middle air, heaven.
2तत्सवितुर्वरेण्यंtat savitur vareṇyaṃĐiều đáng chọn lựa ấy của thần Savitr,That which is worthy to be chosen, belonging to Savitr,
3भर्गो देवस्य धीमहि ।bhargo devasya dhīmahiánh quang huy của vị thần, chúng tôi chiêm niệm,the radiance of the god, on this we contemplate,
4धियो यो नः प्रचोदयात् ॥dhiyo yo naḥ pracodayātđấng thúc giục tâm trí chúng tôi tiến lên.the one who urges our thoughts onward.

IIIGiải Nghĩa Từng Chữ

Câu chú ngắn tới mức có thể giải từng chữ một. Phần dưới đi theo đúng thứ tự người ta tụng, bắt đầu từ dòng mở đầu rồi qua ba dòng của câu Rigveda. Chỗ nào ngữ pháp Vệ Đà cổ và cách hiểu của người đời sau khác nhau thì ghi cả hai. Thư viện dựa chủ yếu vào phân tích của Dominik A. Haas năm 2023, bản chú giải của Sāyaṇa thời trung đại qua bản dịch của H. H. Wilson, và các bản dịch được Haas dẫn lại.

ॐ
oṃ

Âm tiết thiêng mở đầu và khép lại phần lớn lời tụng trong Ấn Độ Giáo. Luật Manu câu 2.76 kể rằng đấng Prajāpati đã vắt ra từ ba bộ Veda ba âm A, U, M, tức ba thành phần của âm Om, cùng ba tiếng bhūḥ, bhuvaḥ, svaḥ. Ý của câu chuyện là Om và ba tiếng ấy được xem như tinh chất cô đặc của cả ba Veda.

Cần nói rõ lại một lần: âm Om không có trong câu Rigveda 3.62.10. Nó được đặt trước câu chú theo lối tụng, và Luật Manu câu 2.81 đã ghi lối ấy như một công thức: Om, rồi ba vyāhṛti, rồi câu Sāvitrī.

भूर्भुवः स्वः
bhūr bhuvaḥ svaḥ

Ba tiếng gọi tên ba cõi theo vũ trụ quan Vệ Đà. Bhūḥ là đất, cõi con người đứng. Bhuvaḥ là khoảng giữa đất và trời, nơi có gió và mây. Svaḥ là cõi trời, cõi ánh sáng. Chữ bhūḥ đổi thành bhūr vì luật nối âm của tiếng Phạn khi đứng trước một phụ âm hữu thanh.

Ba tiếng ấy được gọi là vyāhṛti, nghĩa là lời thốt ra. Taittirīya Upaniṣad ở chương 1.5 nói rằng có ba vyāhṛti ấy và kể thêm một tiếng thứ tư là mahaḥ. Trong lối tụng thông dụng chỉ đọc ba tiếng đầu.

Theo cách hiểu của người tụng, đặt ba tiếng này trước câu chú là gọi cả ba cõi vào lời cầu, trước khi hướng về thần Savitr. Có người hiểu ba tiếng ứng với ba trạng thái của tâm, có người hiểu ứng với ba bộ Veda như Luật Manu kể. Những cách hiểu ấy thuộc về truyền thống giải thích, không phải điều câu chữ tự nói.

तत्
tat

Chữ đầu tiên của câu Rigveda, nghĩa là cái ấy, điều ấy. Đây là đại từ giống trung, và theo cách đọc thông thường nó đi với danh từ giống trung bhargas ở dòng sau: ánh quang huy ấy. Vì chữ này đứng đầu, Luật Manu gọi cả câu là câu bắt đầu bằng chữ tad.

Có một cách đọc khác. Theo Haas, nhà nghiên cứu Walter Slaje đề nghị hiểu tat như một trạng từ, nghĩa là như thế, bởi thế, và đọc dòng cuối như một mệnh đề chỉ mục đích. Theo cách ấy, câu nói rằng nhận được ánh quang huy thì có được sự khơi dậy. Đây là cách đọc của giới nghiên cứu, không phải cách người tụng quen hiểu.

सवितुर्
savitur

Thuộc cách của tên thần Savitṛ, nghĩa là của Savitr. Tên này lấy từ căn động từ sū, nghĩa là thúc đẩy, khiến cho chuyển động. Haas vì thế dịch tên thần theo nghĩa gốc là đấng Thúc Đẩy. Tên thần và động từ ở cuối câu, pracodayāt, cùng mang ý thúc đẩy, nên câu chú mở và đóng bằng cùng một ý.

Savitr là mặt trời hay là sức thúc đẩy nằm sau mặt trời, giới nghiên cứu hiểu không giống nhau. Mục riêng về thần Savitr phía dưới nói kỹ hơn.

वरेण्यं
vareṇyaṃ

Tính từ lấy từ căn vṛ, nghĩa là chọn, mong muốn. Nghĩa sát chữ là đáng được chọn, đáng mong cầu. Các bản dịch Anh cũ thường dịch là excellent, tuyệt hảo, còn Haas giữ nghĩa gốc là desirable, đáng mong muốn.

Về vận luật, chữ này là chỗ duy nhất trong câu mà mặt chữ không khớp với số âm tiết. Viết ra thì pada đầu chỉ có bảy âm tiết. Để đủ tám âm tiết như thể gāyatrī đòi hỏi, phải đọc vareṇiyaṃ, tức chen một âm i vào. Haas ghi rõ âm i ấy chỉ phục dựng được nhờ vận luật. Lối tụng thông dụng vẫn đọc vareṇyaṃ bảy âm tiết.

भर्गो
bhargo

Danh từ giống trung bhargas, đổi đuôi thành bhargo theo luật nối âm vì đứng trước chữ devasya. Nghĩa là ánh rực, ánh quang huy.

Chữ này được hiểu theo ít nhất ba cách. Theo bản dịch của Wilson, Sāyaṇa giảng bhargas là ánh sáng đồng một với Brahman, có sức thiêu đốt vô minh, hoặc là vầng sáng của mặt trời thiêu tội lỗi, và còn ghi một cách hiểu nữa là thức ăn. Cách hiểu thiêu đốt dựa trên chỗ gần âm với động từ bhṛj, nghĩa là rang, đốt. Haas thì cho rằng trong Rigveda chữ này chỉ một thứ ánh sáng có thật, có lẽ là ánh hồng trước lúc mặt trời mọc và sau lúc mặt trời lặn, gắn với sức thúc đẩy của Savitr, và chỉ về sau mới được hiểu trừu tượng thành hào quang thần linh.

Cách hiểu của Haas đáng để ý vì nó khớp với giờ tụng: câu chú được đọc đúng vào lúc trời hừng sáng và lúc chạng vạng.

देवस्य
devasya

Thuộc cách của deva, nghĩa là của vị thần. Chữ deva cùng gốc với ý sáng, trời. Ở đây devasya đi cùng savitur ở dòng trên: của thần Savitr. Hai chữ thuộc cách đứng tách ra hai dòng, kẹp danh từ bhargas vào giữa, là lối xếp chữ quen thấy trong thơ Vệ Đà.

धीमहि
dhīmahi

Đây là chữ gây bàn cãi nhiều nhất, và là động từ chính của câu. Có hai cách hiểu lớn.

Cách thứ nhất, theo ngữ pháp Vệ Đà. Haas phân tích dhīmahi là một dạng thể aorist, thể ước muốn hoặc thể injunctive, thuộc thái trung của căn dhā, vốn nghĩa là đặt, và ở thái trung mang nghĩa nhận lấy, đón về mình. Theo cách này câu nói: mong chúng tôi nhận được ánh quang huy ấy. Bản dịch của Jamison và Brereton năm 2014 và bản dịch của Griffith theo hướng này.

Cách thứ hai, theo tiếng Phạn đời sau. Khi những dạng động từ cổ ấy mất dần khỏi tiếng nói, người đời sau hiểu dhīmahi là từ căn dhī, nghĩa là nghĩ, quán, chiêm ngưỡng. Theo cách này câu nói: chúng tôi chiêm niệm ánh quang huy ấy. Sāyaṇa giảng theo hướng quán tưởng, Monier Williams năm 1877 dịch là chúng ta hãy quán tưởng, Wilson năm 1866 cũng dịch là chúng ta quán tưởng. Haas ghi nhận đây là cách hiểu rất phổ biến từ thời các nhà chú giải trung đại tới nay.

Cột Việt và cột Anh trên trang này theo cách thứ hai, vì đó là nghĩa mà phần lớn người tụng ngày nay mang trong đầu. Nếu theo cách thứ nhất, dòng ấy sẽ đọc là: ánh quang huy của vị thần, mong chúng tôi nhận được. Haas đưa ra hai bản dịch song song cho đúng hai lớp nghĩa này và viết rằng không nhất thiết chỉ có một bản dịch đúng.

धियो
dhiyo

Đối cách số nhiều của danh từ dhī, đổi thành dhiyo theo luật nối âm. Nghĩa là những ý nghĩ, những thấy biết, và trong thơ Vệ Đà thường chỉ cái thấy của nhà thơ, tức nguồn cảm hứng để làm nên lời tụng. Sāyaṇa, qua bản dịch của Wilson, giảng chữ này là những việc làm, tức các nghi lễ, hoặc là sự hiểu biết.

Chữ dhiyo nghe rất gần dhīmahi ở ngay trước. Haas cho rằng hai chữ không cùng gốc theo ngữ nguyên, và sự gần âm ấy là một lối chơi chữ có chủ ý của nhà thơ. Chính sự gần âm này góp phần khiến người đời sau hiểu dhīmahi là chiêm niệm.

यो नः
yo naḥ

Yaḥ, đổi thành yo, là đại từ quan hệ giống đực, nghĩa là đấng mà, người mà. Naḥ nghĩa là của chúng tôi.

Chỗ đáng để ý là giống ngữ pháp. Câu mở bằng hai chữ giống trung, tat và bhargas, nhưng dòng cuối lại dùng đại từ giống đực. Vì vậy đấng thúc giục ở dòng cuối là thần Savitr, vốn là giống đực, chứ không phải ánh quang huy. Theo Haas, học giả Vishva Bandhu năm 1954 từng đề nghị đọc yo như một dạng giống trung để ánh quang huy thành chủ thể của động từ cuối, và Haas bác cách đọc ấy vì nó bẻ cong ngữ pháp. Trong lối hiểu của người tụng, ranh giới giữa vị thần và ánh sáng của ngài thường không được tách chặt như vậy.

प्रचोदयात्
pracodayāt

Động từ ghép từ tiền tố pra, nghĩa là về phía trước, và căn cud, nghĩa là thúc, giục, ở dạng sai khiến. Nghĩa sát chữ là thúc cho tiến tới.

Thể của động từ này cũng được hiểu hai cách. Theo Haas, trong tiếng Vệ Đà đây là thể conjunctive, thường gọi là subjunctive, và thể ấy nói về điều được chờ đợi sẽ xảy ra hơn là một lời ước: đấng sẽ thúc giục tâm trí chúng tôi. Jamison và Brereton dịch theo hướng này. Khi thể ấy mất đi, người đời sau đọc nó như một lời cầu: nguyện ngài khơi dậy tâm trí chúng tôi. Griffith và Monier Williams dịch theo hướng này.

Cột Việt trên trang này chọn lối nói trung tính, đấng thúc giục tâm trí chúng tôi tiến lên, để không nghiêng hẳn về bên nào. Chữ pracodayāt là chữ cuối, và vì thế nó cũng là chữ mà người tụng nhấn và ngân lâu nhất.

IVThể Thơ Gayatri Và Thần Savitr

Nhiều người đọc nghĩ rằng Gayatri là tên một vị thần hay tên riêng của câu chú. Thực ra gāyatrī là tên một thể thơ Vệ Đà, cũng như lục bát là tên một thể thơ Việt. Chỉ mục truyền thống của Rigveda ghi rõ thể thơ của câu 3.62.10 là gāyatrī, cũng như ghi tên ṛṣi và tên vị thần được dâng.

Thể gāyatrī gồm ba dòng, mỗi dòng gọi là một pada, mỗi pada tám âm tiết, cộng lại hai mươi bốn âm tiết. Rigveda có rất nhiều câu viết theo thể này, dâng cho nhiều vị thần khác nhau. Câu dâng Savitr ở quyển 3 nổi tiếng tới mức tên thể thơ trở thành tên của chính nó. Về sau người ta còn soạn thêm nhiều câu theo cùng khuôn cho từng vị thần, và kho Sanskrit Documents gom được cả một danh sách những câu gāyatrī như thế, trong đó câu dâng Savitr được xếp dưới mục mặt trời.

Ba pada của thể gāyatrī. Dòng mở đầu oṃ bhūr bhuvaḥ svaḥ không tính vào khuôn hai mươi bốn âm tiết. Cách đọc vareṇiyaṃ theo phục dựng của Haas năm 2023.
PadaNguyên vănChia âm tiếtSố âm tiết
Thứ nhấtतत्सवितुर्वरेण्यंtat sa vi tur va reṇ yaṃ7 khi viết, 8 khi đọc theo vận là va re ṇi yaṃ
Thứ haiभर्गो देवस्य धीमहिbhar go de vas ya dhī ma hi8
Thứ baधियो यो नः प्रचोदयात्dhi yo yo naḥ pra co da yāt8

Luật Manu câu 2.77 kể một cách hiểu truyền thống về ba dòng này: Prajāpati đã vắt ra từ ba bộ Veda câu Rik dâng Savitr, mỗi bộ Veda cho một dòng. Như vậy trong cách nhìn của sách luật, ba pada của câu chú ứng với ba Veda, cũng như ba âm A, U, M của Om và ba tiếng vyāhṛti. Con số ba lặp đi lặp lại ở cả ba lớp của lời tụng.

Thể thơ này cũng được bàn trong các Upaniṣad. Chāndogya Upaniṣad ở chương 3.12 lấy chính gāyatrī làm đề mục để quán, nói về nó như một thứ bao trùm muôn vật. Ở đó gāyatrī đã không còn chỉ là một khuôn đếm âm tiết mà thành một biểu tượng.

Savitr, đấng thúc đẩy

Savitr सवितृ là một vị thần của Rigveda gắn với mặt trời. Như đã nói ở phần giải nghĩa, tên ngài lấy từ căn sū, nghĩa là thúc đẩy, khiến chuyển động. Trong các bài Rigveda dâng riêng ngài, Savitr thường được tả là vị thần đánh thức muôn loài lúc sáng sớm và cho chúng về nghỉ lúc chiều tối, vị thần có đôi tay vàng giơ lên để khởi động ngày mới.

Rigveda còn có một vị thần mặt trời khác là Sūrya. Giới nghiên cứu hiểu mối quan hệ giữa hai vị không giống nhau. Có người xem Savitr là chính mặt trời dưới một danh hiệu khác, có người xem Savitr là sức thúc đẩy đứng sau mặt trời, là cái khiến mặt trời mọc và lặn, chứ không phải khối sáng trên trời. Trang trụ Ấn Độ Giáo của thư viện xếp Sūrya vào lớp các vị thời Veda nay đã mờ, và tên Savitr ngày nay được biết tới nhiều nhất qua chính câu Gayatri.

Ở tiếng Phạn đời sau, ranh giới ấy nhòe đi. Haas đưa ra hai bản dịch song song, và ở bản dịch theo tiếng Phạn đời sau, ông đổi tên thần thành thần Mặt Trời. Britannica cũng mô tả câu chú là lời cầu dâng mặt trời.

Theo giáo nghĩa

Trong truyền thống chú giải, Savitr trong câu Gayatri không chỉ là mặt trời vật lý. Sāyaṇa giảng ánh quang huy của Savitr là ánh sáng đồng một với Brahman, cái có thật tuyệt đối, và là thứ đốt cháy vô minh. Theo cách hiểu này, người tụng không cầu xin mặt trời điều gì, mà hướng tâm về nguồn sáng nằm sau mọi ánh sáng, để chính nguồn sáng ấy khơi dậy trí hiểu của mình. Đó là lý do câu chú được xem là câu chú của trí tuệ hơn là câu chú cầu phúc.

Theo sử liệu

Haas đọc câu chú gần với khung cảnh vật chất hơn. Theo ông, trong Rigveda chữ bhargas có lẽ chỉ ánh sáng có thật lúc bình minh và hoàng hôn, và câu chú nói rằng người tụng mong nhận được ánh sáng ấy của Savitr, đấng sẽ thúc các ý nghĩ của họ tiến tới. Theo cách đọc này, nguồn cảm hứng của nhà thơ và sự khởi động của một ngày mới được đặt cạnh nhau. Haas cũng nhấn mạnh rằng nghĩa của câu chú đã đổi theo thời gian cùng với sự đổi thay của tiếng Phạn, nên cách hiểu thời Vệ Đà và cách hiểu đời sau đều có căn cứ trong lịch sử của nó.

VUpanayana, Sandhyavandana Và Đường Truyền Rộng

Suốt phần lớn lịch sử của nó, câu Gayatri không phải câu ai cũng được nghe rồi tụng theo. Nó gắn chặt với một nghi lễ, lễ upanayana उपनयन, và với một bổn phận hằng ngày sau nghi lễ ấy, nghi thức sandhyāvandana सन्ध्यावन्दन. Mục này tả hai nghi lễ ấy rồi tả chuyện câu chú dần ra khỏi khuôn khổ cũ.

Lễ upanayana, lễ nhận dây thiêng

Chữ upanayana nghĩa là dẫn tới gần, tức dẫn người học trò tới bên thầy. Theo Hindupedia, cậu bé làm lễ, gọi là vaṭu, ở tuổi từ 7 tới 16, được khoác sợi dây thiêng yajñopavīta gồm ba sợi xe lại, cầm cây gậy gỗ palāśa, và phần cốt lõi của lễ là Sāvitrī upadeśa, tức việc thầy trao câu Sāvitrī cho trò. Thầy phải dạy câu ấy với đúng ngữ điệu cho tới khi trò thuộc trọn.

Luật Manu quy định tuổi làm lễ theo varna. Câu 2.36 ghi năm thứ tám tính từ lúc thụ thai cho người Bà La Môn, năm thứ mười một cho người Kṣatriya, năm thứ mười hai cho người Vaiśya. Câu 2.38 ghi hạn chót của việc thụ câu Sāvitrī là hết năm thứ mười sáu, hai mươi hai và hai mươi bốn cho ba varna ấy. Britannica cũng mô tả câu chú được dùng nổi bật nhất trong lễ upanayana dành cho con trai thuộc một số đẳng cấp.

Theo giáo nghĩa

Người đã qua lễ upanayana được gọi là dvija, người sinh hai lần. Lần sinh thứ nhất là từ mẹ, lần thứ hai là việc được sinh vào đời sống Veda qua câu Sāvitrī. Hindupedia thuật lại quan niệm rằng câu chú trao cho người học trò một con mắt thứ hai, con mắt của hiểu biết. Luật Manu câu 2.78 nói người Bà La Môn thông Veda tụng âm Om và câu ấy, có ba vyāhṛti đi trước, vào hai buổi chạng vạng thì được trọn phước đức của việc tụng cả ba Veda. Câu 2.81 gọi Om, ba vyāhṛti và câu Sāvitrī là cửa vào Veda.

Sandhyāvandana, lễ ba thời

Chữ sandhyā nghĩa là chỗ giao, tức lúc chuyển giữa đêm và ngày, giữa ngày và đêm. Vandana là lễ bái. Theo Hindupedia, người học trò đã qua upanayana và người chủ gia đình thuộc hàng dvija có bổn phận làm lễ sandhyā ba lần mỗi ngày, trong đó có phần quán tưởng và phần lặp câu Gayatri.

Có một chỗ khác nhau giữa sách cổ và thực hành đời sau. Luật Manu câu 2.101 chỉ nói tới hai thời: buổi sáng đứng tụng câu Sāvitrī cho tới khi thấy mặt trời, buổi tối ngồi tụng cho tới khi thấy rõ sao. Thực hành đời sau thêm thời giữa trưa, nên thành ba thời. Nghi thức đầy đủ còn có phần súc miệng bằng nước, phần điều hơi thở và phần dâng nước hướng về mặt trời, gọi là arghya, và thứ tự các phần khác nhau tùy dòng Veda mà gia đình theo.

Theo sử liệu

Vì câu Gayatri được trao trong lễ upanayana, và lễ ấy theo sách luật chỉ dành cho con trai ba varna trên, nên trong nhiều thế kỷ câu chú thuộc về một phạm vi hẹp. Neil Dalal, trong bài đăng trên tạp chí Religions of South Asia năm 2023, tả quá trình câu chú đi từ một nghi lễ nhập môn riêng tư trong văn hóa Bà La Môn Vệ Đà tới chỗ thành một câu chú công khai, phổ biến.

Theo Dalal, các phong trào cải cách Ấn Độ Giáo quanh chỗ chuyển sang thế kỷ hai mươi là đầu mối quan trọng. Qua các nghi thức nhận người vào đạo không phân biệt giới tính, đạo gốc hay đẳng cấp, câu chú được đưa ra khỏi quyền quản của giới Bà La Môn chính thống, và từ biểu tượng của căn tính dvija nó thành biểu tượng rộng hơn của căn tính Hindu. Haas ghi thêm rằng nhờ Vivekananda và các phong trào như Arya Samaj, câu chú đã đi vào cả những dòng văn hóa ngoài Nam Á, được in lên áo, phổ nhạc, tụng trong các phòng tập yoga và các lễ hội.

Thư viện ghi lại quá trình ấy như một sự kiện lịch sử. Cả hai lối vẫn cùng có mặt hôm nay: có cộng đồng giữ đúng lệ câu chú đi liền với lễ upanayana và do thầy trao, có cộng đồng tụng chung câu chú không đòi hỏi điều kiện ấy. Mỗi bên có lý lẽ của mình trong truyền thống của mình, và thư viện không phân xử.

VITín Đồ Đọc Khi Nào Và Ra Sao

Câu Gayatri được đọc theo giờ của mặt trời. Đó là điều nối liền lời tụng hôm nay với câu Rigveda soạn từ khoảng năm 1500 trước Công nguyên theo mốc Britannica ghi, vốn dâng vị thần khởi động ngày mới. Phần dưới tả những thời điểm và cách đọc thường gặp, như người đứng ngoài quan sát.

Lúc bình minh

Là thời quan trọng nhất. Luật Manu câu 2.101 tả người tụng đứng mà lặp câu Sāvitrī cho tới khi mặt trời hiện ra. Người làm lễ thường quay về hướng đông, và nhiều nơi làm lễ bên bờ sông hay bể nước để dâng nước lên mặt trời. Câu 2.102 nói người tụng lúc sáng thì trừ được lỗi đã phạm trong đêm.

Lúc giữa trưa

Thời thứ hai trong lễ ba thời mà Hindupedia mô tả, khi mặt trời đứng bóng. Sách Manu không nhắc tới thời này, nó là phần của thực hành đời sau. Với người đi làm, đây là thời hay bị bỏ hoặc rút gọn nhất.

Lúc hoàng hôn

Theo Luật Manu câu 2.101, người tụng ngồi mà lặp câu chú cho tới khi thấy rõ sao trên trời. Câu 2.102 nói người tụng buổi tối thì trừ được lỗi đã phạm trong ngày. Thời sáng đứng, thời tối ngồi là chỗ phân biệt được giữ ở nhiều gia đình.

Lần 108 lần với chuỗi hạt

Việc lặp một câu chú nhiều lần gọi là japa. Theo Britannica, chuỗi hạt japa mālā thường có 108 hạt và một hạt lớn đánh dấu chỗ đầu và chỗ cuối. Người tụng lần một hạt cho mỗi lần đọc. Theo prokerala.com, trong lễ Gayatri Japam người ta tụng câu chú 108 lần, có người tụng liền 1.008 lần.

Ngày Gayatri Japam

Ngoài giờ hằng ngày, có một ngày riêng trong năm dành cho câu chú, rơi vào ngay sau trăng rằm tháng Śrāvaṇa, tức khoảng tháng bảy tháng tám dương lịch. Theo prokerala.com, ở các bang miền nam Ấn Độ ngày này đi liền với lễ Avani Avittam và Upākarma, lễ thay dây thiêng hằng năm.

Ở đền và trong nhà

Tại đền, câu Gayatri thường nghe trong phần tụng của các vị tư tế. Trong nhà, nó được đọc trước bàn thờ, trước bữa học, hay đơn giản là lúc thức dậy. Ngoài câu dâng Savitr còn có nhiều câu gāyatrī riêng cho từng vị thần, dùng trong lễ dâng vị ấy.

Khác nhau giữa các dòng

Cách phát âm. Người học Veda theo lối cổ tụng câu chú với đủ dấu giọng cao thấp như trong bản saṃhitā. Người tụng hằng ngày phần lớn đọc đều giọng, không giữ dấu giọng. Các dòng theo Taittirīya đọc suvaḥ ở dòng mở đầu. Có người đọc liền bốn dòng một hơi, có người ngắt sau mỗi pada. Người có học vận luật đôi khi đọc vareṇiyaṃ cho đủ tám âm tiết, còn phần lớn đọc vareṇyaṃ.

Đọc thành tiếng hay đọc thầm. Trong sandhyāvandana, câu chú thường được lặp khẽ, đủ cho mình nghe, hoặc lặp thầm trong ý. Ở những buổi tụng chung, câu chú được đọc to hay hát theo điệu. Các bản thu âm và bản phổ nhạc ngày nay thuộc lối sau.

Có Om và vyāhṛti hay không. Trong sandhyāvandana, câu chú đi kèm Om và ba vyāhṛti như Luật Manu đã ghi. Còn khi câu được tụng như một phần của bài Rigveda trọn vẹn, nó đứng giữa bài 3.62 mà không có dòng mở đầu, như mọi câu khác.

Ai tụng. Như mục trên đã tả, có cộng đồng giữ lệ chỉ người đã qua upanayana mới tụng, có cộng đồng mở cho mọi người. Người quan sát sẽ gặp cả hai lối, đôi khi ngay trong cùng một thành phố.

Thư viện tả những việc này để quý vị hiểu điều mình thấy và nghe, không đứng ra chỉ dẫn nghi thức. Chuyện tụng lúc nào, bao nhiêu lần, có cần được thầy trao hay không là việc của mỗi dòng mỗi nhà, và người trong truyền thống mới là người trả lời được.

VIINhững Chỗ Hay Hiểu Lầm

Câu chú đã đi khắp thế giới qua sách, băng đĩa và phòng tập yoga, và mỗi chặng đường lại để lại vài cách hiểu lệch. Năm điểm dưới đây là những chỗ thư viện gặp nhiều hơn cả.

Om bhūr bhuvaḥ svaḥ là một phần của câu Rigveda

Không phải. Câu Rigveda 3.62.10 bắt đầu bằng chữ tat. Ba vyāhṛti đã đứng trước câu chú trong Yajurveda trắng, và công thức Om rồi ba vyāhṛti rồi câu Sāvitrī được Luật Manu câu 2.81 ghi lại. Đây là phần của lối tụng đã thành lệ từ lâu, không phải của bài thơ gốc.

Gayatri là tên vị thần được thờ trong câu chú

Gāyatrī là tên thể thơ ba dòng tám âm tiết, và vị thần được dâng trong câu là Savitr. Về sau truyền thống nhân cách hóa câu chú thành nữ thần Gāyatrī. Hai lớp ấy đều có thật trong lịch sử Ấn Độ Giáo, nhưng câu Rigveda không nhắc tới nữ thần nào.

Chỉ có một câu Gayatri

Câu dâng Savitr là câu nổi tiếng nhất, nhưng thể gāyatrī được dùng cho rất nhiều câu khác. Đời sau còn soạn cả loạt câu gāyatrī cho từng vị thần theo cùng một khuôn, và kho Sanskrit Documents gom được một danh sách dài những câu như vậy. Khi người ta nói Gayatri Mantra mà không nói gì thêm, họ chỉ câu Rigveda 3.62.10.

Dhīmahi chắc chắn nghĩa là thiền định

Đây là cách hiểu phổ biến nhất ngày nay và có căn cứ trong truyền thống chú giải, từ Sāyaṇa trở đi. Nhưng theo ngữ pháp Vệ Đà, chữ này có thể là động từ nhận lấy, và khi ấy câu nói mong chúng tôi nhận được ánh quang huy. Các nhà dịch hiểu khác nhau, và thư viện ghi cả hai cách.

Câu chú là lời cầu xin của cải hay may mắn

Nội dung câu chú nói về ánh sáng và về tâm trí được thúc tới. Sāyaṇa có ghi một cách hiểu bhargas là thức ăn và nói người tụng mong phần thưởng như thức ăn, nhưng dòng chính của truyền thống xem đây là câu chú của trí tuệ. Thư viện thuật lại nội dung như vậy, không xác nhận thay quý vị hiệu nghiệm nào của việc tụng.

?Hỏi Đáp Nhanh

Gayatri Mantra là gì

Là câu 10 của bài 62 quyển 3 trong Rigveda, lớp kinh văn cổ nhất của Ấn Độ Giáo, dâng thần Savitr, viết theo thể thơ gāyatrī ba dòng mỗi dòng tám âm tiết. Chỉ mục truyền thống ghi câu này thuộc về ṛṣi Viśvāmitra. Câu chú được thầy trao cho trò trong lễ upanayana và được tụng trong nghi thức sandhyāvandana lúc bình minh, giữa trưa và hoàng hôn. Tên cổ của nó là Sāvitrī.

Om bhūr bhuvaḥ svaḥ có nằm trong Rigveda không

Không. Câu Rigveda bắt đầu bằng chữ tat savitur. Ba tiếng bhūr bhuvaḥ svaḥ, gọi là ba vyāhṛti, nghĩa là đất, khoảng giữa và trời, đã đứng trước câu chú trong Yajurveda trắng. Âm Om đặt trước cả ba được Luật Manu câu 2.81 ghi như một công thức: Om, ba vyāhṛti, rồi câu Sāvitrī ba dòng. Đây là phần của lối tụng, không phải phần của bài thơ gốc.

Dhīmahi nghĩa là chiêm niệm hay nhận lấy

Cả hai cách hiểu đều có người theo. Theo ngữ pháp Vệ Đà, nhiều nhà nghiên cứu như Dominik A. Haas phân tích dhīmahi là dạng của căn dhā, nghĩa là mong chúng tôi nhận được ánh quang huy. Khi dạng động từ ấy mất đi, người đời sau hiểu nó là từ căn dhī, nghĩa là chúng tôi chiêm niệm, và đây là cách hiểu phổ biến từ Sāyaṇa tới nay. Bản dịch trên trang này theo cách thứ hai và ghi cách thứ nhất trong phần giải nghĩa.

Vì sao câu chú được gọi là Gayatri

Vì gāyatrī là tên thể thơ mà câu chú dùng: ba dòng, mỗi dòng tám âm tiết, tổng cộng hai mươi bốn âm tiết. Rigveda có nhiều câu cùng thể thơ, nhưng câu dâng Savitr nổi tiếng tới mức tên thể thơ thành tên của nó. Tên cổ hơn là Sāvitrī, nghĩa là câu dâng Savitr. Về sau câu chú còn được nhân cách hóa thành nữ thần Gāyatrī.

Tín đồ tụng Gayatri Mantra lúc nào và bao nhiêu lần

Theo lệ sandhyāvandana, câu chú được tụng ba thời trong ngày: bình minh, giữa trưa và hoàng hôn. Luật Manu chỉ nói tới hai thời chạng vạng, buổi sáng đứng tụng tới khi thấy mặt trời, buổi tối ngồi tụng tới khi thấy sao. Người tụng thường lần chuỗi hạt japa mālā, loại chuỗi mà Britannica ghi thường có 108 hạt. Vào ngày Gayatri Japam sau trăng rằm tháng Śrāvaṇa, có người tụng 108 lần, có người tụng tới 1.008 lần.

›Đọc Tiếp