ITrước Khi Đọc
Phật Giáo Hòa Hảo không có kinh chữ Hán, cũng không có kinh chữ Phạn. Kinh sách của đạo là thơ tiếng Việt, và bài thơ đầu tiên trong số đó mở ra bằng một câu mà người miền Tây theo đạo gần như ai cũng thuộc: Hạ nguơn nay đã hết đời. Trang này chép bốn mươi bốn câu mở đầu của quyển Sấm Giảng thứ nhứt, kèm nghĩa bằng lời thường và phần giải nghĩa.
Bộ kinh sách chính thức của đạo mang tên Sấm Giảng Thi Văn Giáo Lý, gồm sáu quyển do Đức Huỳnh Giáo Chủ viết, phần nhiều bằng thể lục bát và thất ngôn, riêng quyển sáu viết bằng văn xuôi. Quyển thứ nhứt là Sấm Giảng Khuyên Người Đời Tu Niệm, viết năm 1939, dài 912 câu. Người trong đạo thường gọi gọn là Sấm Giảng quyển nhứt.
Tên quyển đã nói rõ nó dùng để làm gì. Phần Tiêu Đề trong bản Chú Giải của Giáo hội giảng rằng chữ Sấm 讖 là lời báo trước về thế cuộc, ghi bằng văn vần, theo lối các bài sấm xưa của người Việt, còn chữ Giảng là giải bày giáo lý nhà Phật cho người hiểu cách tu. Ghép lại, Sấm Giảng là một quyển vừa báo trước vừa giảng đạo, để khuyên người sớm tỉnh mà tu. Bốn chữ sau của tên quyển, khuyên người đời tu niệm, là chủ đích của cả quyển.
Vì sao chọn bốn mươi bốn câu này. Quyển có 912 câu, quá dài để chép trọn trên một trang. Theo phần Bố Cục của bản Chú Giải, quyển chia ba phần: phần khai đề từ câu 1 tới câu 8 nói cảnh đời Hạ nguơn và lý do người giảng xuống đời, phần chánh đề từ câu 9 tới câu 826 vừa khuyên tu vừa thuật lại chuyến đi giảng khắp sáu tỉnh miền Nam xưa, và phần kết. Bốn mươi bốn câu đầu gồm trọn phần khai đề và ba tiểu đoạn đầu của phần chánh đề. Trong khoảng ấy người giảng tự giới thiệu mình, nói vì sao mình giảng, nói người đời đón lời giảng ra sao, rồi dừng lại bằng câu để rộng thì giờ nói chuyện chơn-tu. Đó là một khúc trọn ý, và cũng là khúc tín đồ quen đọc nhất, vì ai mở quyển ra cũng đọc nó trước.
Nguyên văn giữ đúng bản của Giáo hội, kể cả gạch nối giữa các tiếng ghép và những chữ đọc theo giọng Nam Bộ. Cột bên cạnh là nghĩa bằng lời thường do thư viện soạn. Thư viện không đoán giải những lời báo trước trong bài.
Về lai lịch văn bản. Phần Xuất Xứ Và Văn Thể của bản Chú Giải ghi rằng đây là quyển thứ nhứt Đức Huỳnh Giáo Chủ viết khi Ngài còn ở Tổ Đình tại làng Hòa Hảo, khoảng trung tuần tháng Tám năm Kỷ Mão, tức năm 1939, theo thể lục bát, lối vừa tự thuật vừa thuyết giáo, dài 912 câu, mở đầu bằng câu Hạ nguơn nay đã hết đời và khép lại bằng câu Tới đây cũng lần ngừng lại bút nghiên. Mốc ấy chỉ cách ngày khai đạo, 18 tháng 5 năm Kỷ Mão, chừng ba tháng âm lịch.
Bản dùng làm gốc ở đây là bản đăng trên trang hoahao.org, chép từ bộ Chú Giải Sấm Giảng Thi Văn Giáo Lý Toàn Bộ, trong đó mỗi tiểu đoạn chánh văn đi kèm phần Lược Giải và phần Chú Thích từng chữ. Thư viện đối chiếu từng câu với bản trên Diễn đàn Phật Giáo Hòa Hảo và bản trên pghhtuhaingoai.net. Ba bản khớp nhau về lời, chỉ khác ở mấy chỗ sau, ghi ra để quý vị biết.
- Câu 1: bản hoahao.org và bản Diễn đàn viết Hạ nguơn, bản pghhtuhaingoai.net và chính phần Xuất Xứ của bản Chú Giải viết Hạ Ngươn. Hai cách viết cùng ghi một chữ 元 theo giọng Nam Bộ. Trang này theo trang chánh văn của hoahao.org.
- Câu 3: trang chánh văn của hoahao.org in Kỹ-Mão dấu ngã, hai bản kia in Kỷ-Mão dấu hỏi. Chữ can Kỷ 己 viết dấu hỏi, và phần Xuất Xứ của chính hoahao.org cũng viết Kỷ Mão, nên trang này chép Kỷ-Mão.
- Câu 12: cả ba bản điện tử đều gõ Nguời, đặt dấu huyền lệch chỗ. Câu này đối với câu 11 theo lối kẻ thời, người thời, nên trang này chép đúng chữ Người.
- Câu 21: bản hoahao.org và bản Diễn đàn viết Minh-Vương có gạch nối, bản pghhtuhaingoai.net viết rời.
- Câu 26: bản pghhtuhaingoai.net sót chữ cuối, chỉ còn sai xuống cứu. Hai bản kia có đủ sai xuống cứu dân, và câu tám chữ của thể lục bát cũng cần đủ tám tiếng.
- Câu 33 và 43: bản hoahao.org viết này, bản Diễn đàn viết nầy. Hai chữ cùng nghĩa, nầy là lối viết Nam Bộ. Trang này theo hoahao.org.
Tác giả mất đã lâu và bản văn viết trước năm 1945, nên phần nguyên văn chép trọn ở đây không vướng bản quyền. Phần Chú Giải là công trình của người đời sau trong đạo, nên thư viện chỉ thuật ý và ghi nguồn, không chép lại.
IIBốn Mươi Bốn Câu Mở Đầu
| Câu | Lời Sấm Giảng | Nghĩa bằng lời thường | Tiếng Anh |
|---|---|---|---|
| 1 | Hạ nguơn nay đã hết đời, | Thời Hạ nguơn nay đã tới lúc cùng, | The Lower Era has now come to the end of its days, |
| 2 | Phong ba biến chuyển đổi dời gia cang. | sóng gió xoay vần, nếp nhà và đạo cương thường đổi dời. | winds and waves turn and shift, and the bonds of home and duty are displaced. |
| 3 | Năm Mèo Kỷ-Mão rõ ràng, | Năm Mèo, tức năm Kỷ Mão, điều ấy đã rõ ràng, | In the Year of the Cat, the year Kỷ Mão, this is plain to see, |
| 4 | Khắp trong trần hạ nhộn nhàng xiết chi. | khắp cõi đời dưới này rối rộn không sao kể xiết. | all through the world below, the turmoil is beyond telling. |
| 5 | Ngồi buồn Điên tỏ một khi, | Ngồi buồn, Điên này bày tỏ đôi lời, | Sitting in sorrow, Điên speaks out for a while, |
| 6 | Bá gia khổ-não vậy thì từ đây. | vì từ nay trăm họ sẽ phải chịu khổ não. | for from now on the hundred families will know affliction. |
| 7 | Cơ trời thế cuộc đổi xây, | Máy trời và cuộc đời đang xoay đổi, | Heaven's design and the course of the world are turning, |
| 8 | Điên mới theo Thầy xuống chốn phàm-gian. | nên Điên mới theo Thầy xuống cõi người phàm. | and so Điên has followed the Master down into the mortal world. |
| 9 | Thấy đời ly-loạn bất an, | Thấy cuộc đời chia lìa rối loạn, không yên, | Seeing the world scattered in disorder and unrest, |
| 10 | Khắp trong các nước nhộn-nhàng đao binh. | khắp các nước đều rối ren loạn lạc. | and all the nations caught in tumult and strife, |
| 11 | Kẻ thời phụ nghĩa bố-kình, | Kẻ thì phụ bạc nghĩa vợ chồng thuở hàn vi, | some betray the vow of husband and wife made in plain cloth, |
| 12 | Người thời trung-hiếu chẳng gìn vẹn hai. | người thì chẳng giữ trọn cả lòng trung lẫn lòng hiếu. | others fail to keep both loyalty and filial duty whole. |
| 13 | Nên Điên khuyên-nhủ bằng nay, | Vì vậy nay Điên đứng ra khuyên nhủ, | Therefore Điên now offers this counsel, |
| 14 | Xin trong lê-thứ ngày rày tỉnh tâm. | xin muôn dân từ nay tỉnh lòng lại. | asking all the common people from this day to wake their hearts. |
| 15 | Cơ thâm thì họa diệc thâm, | Mưu tính càng sâu thì tai họa cũng sâu, | Where scheming runs deep, calamity runs just as deep, |
| 16 | Nào trong sách sử có lầm ở đâu. | sách vở xưa nay ghi điều ấy chưa từng sai. | and nowhere in the books of old has that been proved wrong. |
| 17 | Người khôn nghe nói càng rầu, | Người khôn nghe vậy càng thêm lo buồn, | The wise, hearing these words, grow more sorrowful, |
| 18 | Người ngu nghe nói ngửa đầu cười reo. | kẻ dại nghe vậy lại ngửa mặt cười vang. | the foolish, hearing these words, throw back their heads and laugh. |
| 19 | Rồi sau sẽ thấy hùm beo, | Về sau sẽ thấy cảnh hùm beo dữ dằn, | Later on, tigers and leopards will be seen, |
| 20 | Khắp trong bá tánh hiểm-nghèo đáng thương. | trăm họ khắp nơi lâm cảnh hiểm nghèo đáng thương. | and everywhere the people will fall into perils worthy of pity. |
| 21 | Điên này vưng lịnh Minh-Vương, | Điên này vâng lệnh Đấng Minh Vương, | This Điên obeys the command of the Enlightened King, |
| 22 | Với lịnh Phật đường đi xuống giảng dân. | cùng lệnh nơi cửa Phật, xuống giảng đạo cho dân. | and the command of the Buddha's hall, coming down to teach the people. |
| 23 | Thấy trong bá tánh phàm trần, | Thấy trong trăm họ nơi cõi trần, | Seeing among the people of the mortal world |
| 24 | Kẻ khinh người nhạo Thần Tiên quỉ tà. | kẻ khinh người nhạo, người gọi là Thần Tiên, kẻ gọi là quỷ tà. | some scorn and some mock, calling him an immortal or an evil spirit. |
| 25 | Mặc ai bàn tán gần xa, | Mặc cho ai gần xa bàn tán, | Let people near and far say what they will, |
| 26 | Quỉ của Phật Bà sai xuống cứu dân. | có là quỷ thì cũng là quỷ được Phật Bà sai xuống cứu dân. | if a spirit, then a spirit sent by the Lady Buddha to save the people. |
| 27 | Kẻ xa thì mến đức-ân, | Người ở xa thì mến cái đức cái ơn, | Those who live far away cherish the virtue and the kindness, |
| 28 | Làm cho người gần ganh-ghét khinh khi. | điều ấy lại khiến người ở gần sinh lòng ganh ghét khinh chê. | which only makes those close by envious and scornful. |
| 29 | Nam mô, mô Phật từ-bi, | Ngoài miệng thì Nam mô, mô Phật từ bi, | Namo, namo, the compassionate Buddha, |
| 30 | Miệng thì niệm Phật lòng thì tà-gian. | miệng thì niệm Phật mà lòng thì gian tà. | the mouth recites the Buddha's name while the heart is crooked. |
| 31 | Khắp trong bá-tánh trần-hoàn, | Khắp trăm họ trong cõi trần này, | Throughout the people of this dusty world, |
| 32 | Cùng hết xóm làng đều bỉ người Điên. | khắp xóm làng đều khinh chê người Điên. | in every hamlet and village they look down on the one called Điên. |
| 33 | Điên này xưa cũng như ai, | Điên này thuở trước cũng như bao người, | This Điên was once like anyone else, |
| 34 | Vào các ra đài tột bực giàu-sang. | ra vào lầu gác, giàu sang tột bậc. | passing in and out of towers and pavilions, rich and honored to the utmost. |
| 35 | Nghĩ suy danh-lợi chẳng màng, | Nghĩ suy rồi chẳng màng danh lợi, | Reflecting, he cared nothing for fame and gain, |
| 36 | Bèn lên ẩn dật lâm san tu-trì. | bèn lên rừng núi ở ẩn mà tu hành. | and went up to live hidden in forest and mountain, keeping to practice. |
| 37 | Nhờ Trời may mắn một khi, | Nhờ ơn Trời, một lần may mắn, | By Heaven's favor, on one fortunate day, |
| 38 | Thẩn-thơ lại gặp Đức Thầy Bửu-Sơn. | đang thẩn thơ lại gặp được Đức Thầy Bửu Sơn. | wandering aimlessly, he met the Master of Bửu Sơn. |
| 39 | Cúi đầu Điên tỏ nguồn-cơn, | Điên cúi đầu bày tỏ hết đầu đuôi, | Bowing his head, Điên told him everything from the beginning, |
| 40 | Động lòng bác-ái ra ơn dạy truyền. | Thầy động lòng thương rộng mà ban ơn truyền dạy. | and moved by boundless love, the Master kindly taught him. |
| 41 | Thấy Điên tâm tánh quá thiềng, | Thấy Điên có tấm lòng rất thành, | Seeing that Điên's heart was deeply sincere, |
| 42 | Nội trong sáu khắc biết liền Thiên-cơ. | chỉ trong sáu khắc đã biết được máy trời. | within six periods of time he came to know Heaven's design. |
| 43 | Chuyện này thôi nói sơ-sơ, | Chuyện này xin chỉ nói qua, | Of this I will say only a little, |
| 44 | Để rộng thì giờ nói chuyện chơn-tu. | để dành thì giờ mà nói chuyện tu hành chân chánh. | to leave ample time to speak of true practice. |
IIIGiải Nghĩa Từng Câu
Phần dưới lấy mười hai chỗ then chốt trong bốn mươi bốn câu ra giảng kỹ, giữ đúng thứ tự của bài. Phần lớn các chữ khó được giải theo phần Chú Thích của bản Chú Giải trong đạo, thư viện nói rõ khi nào là cách hiểu của bản ấy. Chỗ bài có lời báo trước về thời cuộc, thư viện chỉ thuật lại cách đạo hiểu, không đoán thêm.
Câu mở đầu đặt cả quyển vào một khung thời gian rất lớn. Chữ nguơn là chữ nguyên 元 đọc theo giọng Nam Bộ, nghĩa là một thời kỳ, một vận lớn của trời đất. Trong niềm tin của dòng Bửu Sơn Kỳ Hương mà Phật Giáo Hòa Hảo nối tiếp, cuộc đời trải qua ba nguơn: Thượng nguơn, Trung nguơn và Hạ nguơn. Hạ nguơn là nguơn cuối, lúc đạo đức suy, lòng người đổi, và bản Chú Giải thường gọi chung là thời Hạ nguơn mạt pháp.
Nói Hạ nguơn nay đã hết đời là nói cái thời kỳ cuối ấy đã tới chặng chót. Bài mở ra bằng một nhận định về thời cuộc chứ không bằng lời cầu nguyện. Đó là giọng riêng của Sấm Giảng: cho người nghe thấy mình đang đứng ở đâu, rồi mới khuyên nên làm gì.
Theo giáo nghĩa của đạo, chỗ hết đời là lý do để tu cho sớm, không phải để sợ hãi ngồi chờ.
Phong ba là gió và sóng, chỉ cảnh đời xáo trộn. Gia cang là chữ gia cương đọc theo giọng Nam Bộ, bản Chú Giải giải là nền cương thường lễ giáo trong nhà và trong xứ sở, tức những mối ràng buộc giữa cha con, vợ chồng, anh em, bạn bè mà người xưa coi là cột kèo của một gia đình.
Về chữ phong ba, bản Chú Giải nêu hai tầng nghĩa. Tầng thứ nhất là sóng gió của thời cuộc nói chung. Tầng thứ hai là làn sóng lối sống mới từ phương Tây làm xáo trộn nếp cương thường cũ. Cả hai dẫn về điều câu 11 và 12 sẽ nói: cái đổi dời đáng lo nhất nằm trong nhà, trong lòng người.
Câu này ghi năm viết bài ngay trong lời thơ. Kỷ Mão là năm 1939, và người Việt gọi con giáp Mão là con Mèo. Việc tự ghi năm như vậy làm cho quyển có một mốc thời gian chắc, khớp với phần Xuất Xứ của bản Chú Giải ghi trung tuần tháng Tám năm Kỷ Mão. Câu kế, khắp trong trần hạ nhộn nhàng xiết chi, dùng chữ nhộn nhàng mà bản Chú Giải giải là rộn ràng, lăng xăng, rối rắm không trật tự.
Đây là chỗ người giảng lần đầu tự xưng, và cái tên tự xưng là Điên. Trong quyển này, người giảng gọi mình là Điên và nói mình đi theo một vị Thầy. Phần Bố Cục của bản Chú Giải cho biết tới phần kết của quyển, ông Thầy xưng là Khùng, người tớ xưng là Điên, với pháp danh Huệ Lựu và Huệ Tâm, và câu trong bài là Thầy thì Huệ Lựu tớ thì Huệ Tâm. Phần Lược Giải của đoạn này đọc câu thứ tám là Đức Thầy theo Thầy mình xuống đời để tùy phương hóa độ.
Xưng mình là Điên là một cách nói vừa khiêm vừa sắc. Lời một người tự nhận là điên phải tự đứng bằng lẽ phải của nó, không dựa vào danh vị. Cái tên ấy cũng báo trước câu 32: xóm làng khinh chê người Điên.
Chữ một khi nghĩa là một lần, một lúc. Phàm gian là cõi người phàm, đối với cõi Phật cõi Tiên.
Hai câu này cho thấy cái loạn mà bài giảng lo trước hết là cái loạn trong đạo làm người. Bố kình, cũng đọc bố kinh, là vải thô và trâm gai. Bản Chú Giải dẫn điển tích Lương Hồng và Mạnh Quang bên Tàu: người vợ con nhà giàu bỏ lụa là, mặc áo vải, cài trâm gai để sống cảnh cày dệt cùng chồng. Từ đó bố kình chỉ nghĩa vợ chồng thủy chung từ thuở còn nghèo. Phụ nghĩa bố kình là phụ cái nghĩa ấy.
Trung hiếu là hai đức lớn trong đạo làm người theo lối nói xưa: trung là một lòng ngay thẳng với nơi mình mang ơn, hiếu là kính và nuôi cha mẹ. Bản Chú Giải ghi đây là hai trong Tứ Ân. Câu thơ trách người giữ được bên này thì bỏ bên kia, chẳng vẹn cả hai.
Về mặt chữ, cả ba bản điện tử thư viện đối chiếu đều gõ chữ đầu câu 12 thành Nguời. Đây là lỗi đặt dấu, trang này chép lại là Người như đã ghi trong mục Trước Khi Đọc.
Đây là câu duy nhất trong đoạn mang dáng một thành ngữ Hán Việt. Cơ là mưu mẹo, thâm là sâu, họa là tai vạ, diệc là cũng. Nghĩa là mưu tính sâu hiểm bao nhiêu thì tai vạ quay về cũng sâu bấy nhiêu. Chính Sấm Giảng quyển này ở chỗ khác có câu nói thẳng bằng lời Việt: mưu sâu thì họa cũng thâm.
Câu tiếp theo, nào trong sách sử có lầm ở đâu, đưa sử sách ra làm chứng. Ý của đoạn là luật nhân quả, một trong những nền tảng mà Phật Giáo Hòa Hảo nhắc nhiều nhất. Quyển Cách Tu Hiền cũng dặn tín đồ lúc nào cũng phải nhớ lời Phật dạy về nhân quả: nhân toàn thiện thì quả cũng toàn thiện.
Hai câu đặt hai hạng người nghe cạnh nhau. Bài giảng không chia khôn dại theo học thức hay giàu nghèo, mà theo thái độ trước một lời nhắc: biết lo để sửa mình hay cười mà gạt đi.
Hai câu kế, rồi sau sẽ thấy hùm beo, khắp trong bá tánh hiểm nghèo đáng thương, là lời báo trước. Bản Chú Giải đọc theo nghĩa đen, rằng về sau trong buổi cuối Hạ nguơn sẽ có cảnh thú dữ hại người, và dẫn thêm những câu tương tự ở Sấm Giảng quyển ba. Thư viện ghi lại cách đọc ấy như điều đạo dạy, không xác nhận và không bác bỏ. Điều thấy rõ trên mặt chữ là giọng thương xót của người giảng: chữ cuối đoạn là đáng thương, không phải đáng đời.
Vưng lịnh là vâng lệnh, đọc theo giọng Nam Bộ. Hai câu nói người giảng xuống đời không phải tự ý mình, mà vâng lệnh bề trên.
Về chữ Minh Vương, bản Chú Giải giải là vị vua sáng suốt, chỉ bậc Thánh Vương đã tu gần chứng quả Phật, lòng hiền từ minh chánh, và dẫn câu ở Sấm Giảng quyển hai nói Minh Vương bắt chước Thuấn Nghiêu. Đây là một hình ảnh trong niềm tin của dòng Bửu Sơn Kỳ Hương về bậc hiền thánh của buổi chuyển nguơn. Về chữ Phật đường, bản Chú Giải giải chữ đường là nhà, là đạo, và cho rằng ở câu này Phật đường chỉ Đức Phật Thích Ca, vị giáo chủ của cõi Ta Bà. Ý chung của hai câu: người giảng tự đặt mình là kẻ được sai đi.
Bốn câu này có giọng tự trào hiếm gặp trong văn kinh. Người đời bàn tán về người giảng, kẻ gọi là Thần Tiên, người gọi là quỷ tà. Người giảng không cãi, chỉ đáp: mặc ai bàn tán gần xa, có là quỷ thì cũng là quỷ của Phật Bà sai xuống cứu dân.
Phật Bà ở đây, theo bản Chú Giải, là Đức Quán Thế Âm, người Việt quen gọi Phật Bà Quan Âm hay Quan Âm Nam Hải, vị Bồ Tát nghe tiếng kêu khổ mà cứu. Chữ quỉ là lối viết cũ của chữ quỷ.
Lối đáp ấy không mất công chứng minh mình là Tiên. Nó nhận luôn chữ xấu người ta ném vào rồi đổi nghĩa chữ ấy bằng việc mình làm. Hai câu sau, kẻ xa thì mến đức ân, làm cho người gần ganh ghét khinh khi, là một nhận xét rất đời thường về lòng người: bụt chùa nhà không thiêng.
Đây là hai câu được trích nhiều nhất trong cả đoạn, và cũng là chỗ gần nhất với giáo lý tu hành của đạo. Nam mô 南無 là phiên âm tiếng Phạn namo, bản Chú Giải giải là quy mạng, tức cúi mình nương theo Phật. Câu đầu lặp chữ mô như tiếng niệm lầu bầu ngoài miệng. Câu sau lật ngược: miệng niệm Phật mà lòng gian tà.
Bản Chú Giải nối hai câu này với thành ngữ khẩu Phật tâm xà, miệng nói từ bi như Phật mà lòng độc như rắn. Đó là hạng người tu giả, lấy tiếng tu để gạt người.
Hai câu này giải thích vì sao đạo thờ đơn giản. Quyển Cách Tu Hiền nói sự tu hành cốt ở trau tâm sửa tánh hơn là lễ bái bề ngoài.
Từ câu 33 bài chuyển sang lối tự thuật. Vào các ra đài là ra vào lầu gác, bản Chú Giải giải là cảnh sống sang trọng quyền quý. Lâm san là lâm sơn, rừng và núi. Tu trì là vừa trau sửa thân tâm vừa gìn giữ giới luật.
Phần Lược Giải của bản Chú Giải đọc đoạn này là chuyện tiền thân của Đức Thầy: đã từng sống nơi cao sang bậc nhất, rồi giác ngộ lợi danh là mộng, bỏ chốn phù hoa lên núi tìm đường giải thoát. Đây là cách hiểu theo giáo nghĩa của đạo, và thư viện ghi như vậy.
Có một điểm dễ hiểu lệch. Nhân vật trong bài lên núi ẩn tu, nhưng đạo không dạy tín đồ bỏ nhà lên núi. Chuyện lên núi thuộc về lai lịch của người giảng, còn con đường dành cho tín đồ là tu tại gia, như mục Tứ Ân phía dưới sẽ nói.
Đức Thầy Bửu Sơn, theo bản Chú Giải, là Đức Phật Thầy Tây An, tức ông Đoàn Minh Huyên, người mở dòng Bửu Sơn Kỳ Hương 寶山奇香 từ năm 1849. Câu thơ nối người giảng với chính dòng đạo có trước ông gần một trăm năm, và đó là lý do tín đồ coi Hòa Hảo là khúc sau của một mạch liền.
Thiềng là chữ thành đọc theo giọng Nam Bộ, bản Chú Giải giải quá thiềng là rất thành lòng, tha thiết chơn thật. Thiên cơ là máy trời, sự sắp đặt của tạo hóa.
Chữ sáu khắc là chỗ bản Chú Giải tự nêu hai cách hiểu. Cách thứ nhất tính theo giờ phương Tây, một khắc là mười lăm phút, sáu khắc là một giờ rưỡi. Cách thứ hai tính theo lối xưa, hiểu sáu khắc là sáu giờ âm lịch. Bản Chú Giải ghi cả hai, và dù theo cách nào thì ý của câu vẫn là thời gian rất ngắn. Phần Lược Giải so việc ấy với lối truyền tâm của nhà Thiền.
Hai câu khép đoạn gác chuyện riêng sang một bên. Chơn tu, tức chân tu, là tu thật chứ không tu giả, và tám trăm sáu mươi tám câu còn lại của quyển dành cho việc ấy.
IVTứ Ân Và Lối Tu Tại Gia
Bốn mươi bốn câu đầu Sấm Giảng nói nhiều tới thời cuộc và tới người giảng, nhưng điều chúng muốn dẫn tới là việc tu của người bình thường. Muốn hiểu người tín đồ đem lời Sấm Giảng về nhà để làm gì, phải biết tới Tứ Ân 四恩, bốn cái ơn mà quyển Cách Tu Hiền Và Sự Ăn Ở Của Một Người Bổn Đạo đặt làm nền cho đạo làm người.
Quyển ấy mở phần giáo lý bằng việc chia người theo Phật làm hai hạng. Hạng xuất gia là các nhà sư, ni cô đã rời gia đình, sống nơi chùa hay am cốc. Hạng tại gia là đại chúng, những người còn nặng nợ với gia đình, quê hương và đồng bào nên chưa thể xuất gia, nhưng vẫn quy y Phật, giữ ít điều giới luật, coi kinh sách và sửa tánh. Rồi quyển ấy kết luận rằng toàn thể người trong đạo thuộc hạng tại gia cư sĩ, học Phật tu nhân.
Quyển ấy dẫn tiếp câu sách xưa rằng muôn quyển kinh đều dạy hiếu nghĩa làm đầu, và muốn làm xong hiếu nghĩa thì có bốn ơn phải đền, theo lời Đức Phật Thầy Tây An thường khuyên môn đồ.
Ơn sinh thành và nuôi dạy, và vì cha mẹ có là nhờ tổ tiên nên ơn ấy nối lên tổ tiên. Quyển Cách Tu Hiền giảng cách đền: lúc cha mẹ còn thì nghe lời hay lẽ phải, nuôi dưỡng, giữ hòa thuận giữa anh em, thấy cha mẹ lầm lỗi thì tìm cách khuyên can. Lúc cha mẹ mất thì tu mà cầu cho được siêu thăng. Với tổ tiên thì đừng làm điều gì làm nhục tông môn.
Ơn của mảnh đất nuôi sống mình, cho mình tấc đất để ở, ngọn rau để ăn, để giống nòi được truyền nối. Quyển Cách Tu Hiền giảng rằng người được đất nước nuôi thì có bổn phận tùy tài tùy sức lo cho quê hương, và nếu chưa làm được việc lớn thì ít ra đừng làm điều gì khiến quê hương khổ lụy.
Tam Bảo là Phật, Pháp, Tăng. Quyển Cách Tu Hiền nói tổ tiên cha mẹ và đất nước lo cho phần xác, còn Phật, Pháp, Tăng lo cho phần tinh thần, khai trí mở lòng cho sáng suốt. Đền ơn này bằng cách kính trọng Phật, làm theo lời dạy, noi chí người xưa và tiếp tục gieo rải tinh thần từ bi bác ái.
Ơn của người dưng. Quyển Cách Tu Hiền giảng rất cụ thể: ta nhờ hạt cơm của họ mới sống, nhờ miếng vải của họ mới ấm, nhờ cửa nhà của họ mới tránh được mưa gió. Rồi mở rộng ra cả nhân loại, những người khắp nơi đang làm ra các thứ mình dùng. Lòng từ bi của Phật, theo lời quyển ấy, không phân biệt màu da hay nòi giống. Với người xuất gia, ân thứ tư được ghi là ân đàn na thí chủ.
Theo giáo nghĩa của đạo, Tứ Ân không phải bốn món nợ tách rời mà là bốn vòng nối nhau, từ gần tới xa: cha mẹ, quê hương, đạo pháp, rồi tới mọi người. Đền ơn gần mà quên ơn xa là chưa trọn, lo ơn xa mà bỏ ơn gần cũng chưa trọn. Chính vì vậy mà đạo chọn con đường tu tại gia. Bỏ nhà đi tu là bỏ ngay cái ơn thứ nhất, lên núi ở một mình là quay lưng với cái ơn thứ tư.
Tứ Ân soi lại bốn mươi bốn câu đầu
Đặt Tứ Ân cạnh đoạn mở đầu Sấm Giảng thì thấy hai bên khớp nhau. Câu 11 và 12 trách người phụ nghĩa bố kình và chẳng giữ vẹn trung hiếu, tức là trách chỗ lơ là ân cha mẹ và nghĩa trong nhà. Câu 29 và 30 trách người miệng niệm Phật lòng gian tà, tức là đền ân Tam Bảo bằng miệng mà không bằng lòng. Câu 27 và 28 nói người gần ganh ghét người làm ơn, tức là chỗ ân đồng bào bị lòng đố kỵ che lấp.
Nói cách khác, cái loạn mà đoạn mở đầu tả trước hết là loạn trong đạo làm người, và việc sửa lại nằm ngay trong căn nhà, thửa ruộng và xóm giềng của mỗi người.
Câu của Đức Thầy mà người trong đạo hay nhắc để tóm ý này là Ta là cư sĩ canh điền, lo nghề cày cuốc cũng chuyên tu hành. Người cư sĩ làm ruộng, và việc cày cuốc nuôi nhà cũng là một phần của việc tu.
VLối Thờ Đơn Giản
Người đọc Sấm Giảng ở nhà thường đọc trước một bàn thờ rất khác với bàn thờ quen thấy ở chùa. Không tượng, không chuông mõ, không mâm cỗ. Lối thờ ấy được quy định trong mục Thờ Phượng của quyển Cách Tu Hiền, và nó đi cùng một mạch với câu miệng thì niệm Phật lòng thì tà gian: cái cần giữ là lòng, không phải bề ngoài.
Từ trần điều sang trần dà
Mục Thờ Phượng mở đầu bằng nhận xét rằng các chùa đã tạo ra quá nhiều hình tượng, và dặn người cư sĩ ở nhà không nên tạo thêm, nên thờ đơn giản để lòng tin quay về tâm hồn hơn là ở những vẻ hào nhoáng bên ngoài. Mục ấy cũng nói rõ đây không phải lời chê các chùa, cách thờ ở chùa tùy điều kiện các nhà sư, và người trong đạo vẫn có thể kính ngưỡng.
Chỗ thờ chính là một tấm vải trơn. Mục Thờ Phượng kể rằng trước kia người trong đạo thờ trần điều, tức tấm vải đỏ, là di tích của Đức Phật Thầy Tây An để lại. Về sau toàn thể người trong đạo đổi sang màu dà, tức màu nâu sồng. Mục ấy nêu lý do: màu dà là màu các nhà sư dùng để biểu hiện sự thoát tục, và vì là sự kết hợp của mọi màu nên có thể tượng trưng cho sự hòa hiệp của nhân loại, không phân biệt chủng tộc và cá nhân. Tấm vải ấy được gọi là tấm trần dà.
| Phần thờ | Theo quyển Cách Tu Hiền | Ý nghĩa được giảng |
|---|---|---|
| Tấm trần dà | Treo trên bàn thờ Phật thay cho tượng | Màu thoát tục, màu hòa hiệp của mọi màu |
| Nước lạnh | Một trong ba thứ duy nhất được cúng Phật | Tiêu biểu cho sự trong sạch |
| Bông hoa | Một trong ba thứ duy nhất được cúng Phật | Tiêu biểu cho sự tinh khiết |
| Nhang | Một trong ba thứ duy nhất được cúng Phật | Dùng để trừ mùi uế trược |
| Bàn thờ ông bà | Cúng món gì cũng được | Chỗ đền ân tổ tiên cha mẹ |
| Bàn Thông Thiên | Nhà chật thì chỉ bàn này với một lư hương cũng được | Tu cốt ở trau tâm hơn lễ bái bên ngoài |
Mục Thờ Phượng dặn thêm mấy điều ngắn. Cúng Phật chỉ nên cúng nước lạnh, bông hoa và nhang, ngoài ra không cúng món gì khác, nên bàn Phật không có đồ mặn. Người nào trong nhà đã có cốt Phật thì để vậy cũng được. Ai ở chung nhà với người khác đạo, hoặc nhà quá chật không có chỗ thờ, thì tới giờ cúng chỉ cần vái thầm và niệm Phật trong tâm. Ngoài Phật, tổ tiên, ông bà cha mẹ và các bậc anh hùng của đất nước, không nên thờ vị thần nào mình không rõ gốc tích.
Mục Hành Lễ đi tiếp một bước, dặn chỉ lạy Phật, tổ tiên, ông bà và cha mẹ, còn với người sống khác, kể cả thầy mình, chỉ xá thôi. Mục ấy cũng dặn đừng ỷ vào sự cứu vớt của thần thánh mà làm liều, và dặn mỗi người lấy trí mình mà xét đạo lý, đừng nhận lời nào bằng đức tin khi chưa hỏi cho tường tận.
Chỗ cần nhớ: trên bàn thờ Phật của nhà tín đồ Hòa Hảo chỉ có tấm trần dà, cùng ba thứ lễ phẩm là nước lạnh, bông hoa và nhang. Tấm vải đỏ gọi là trần điều thuộc về lối thờ trước kia, có từ dòng Bửu Sơn Kỳ Hương. Sự đơn giản ấy là chủ trương, dựa trên lẽ tu cốt ở trau tâm sửa tánh.
VITín Đồ Đọc Khi Nào Và Ra Sao
Sấm Giảng không được tụng theo khuôn thời khóa như kinh ở chùa. Nó được đọc, đọc to hay đọc thầm, ở nhà hay ở chỗ đông người, và nhiều tín đồ thuộc lòng từng đoạn dài. Thể lục bát có vần có nhịp nên nghe vài lần là nhớ, và người đọc thường đọc ngân theo nhịp của câu sáu câu tám. Trang của Phật Giáo Hòa Hảo hiện còn lưu các bản ghi âm đọc Sấm Giảng quyển nhứt theo từng phần, cho người không đọc được chữ cũng nghe được.
Đây là nơi Sấm Giảng được đọc nhiều nhất. Người lớn đọc cho con cháu nghe, người già đọc lúc rảnh việc đồng áng. Vì đạo chủ trương tu tại gia, quyển Sấm Giảng để trên bàn thờ hay trên kệ trong nhà thay cho kinh sách ở chùa.
Trong các hội quán và độc giảng đường, tức nhà giảng dựng để tín đồ họp mặt, người ta đọc Sấm Giảng chung rồi giảng giải cho nhau. Đoạn mở đầu quyển nhứt thường là đoạn được đọc trước, vì nó cho biết người giảng là ai và giảng để làm gì.
Trong hai mùa đại lễ lớn của đạo, lễ Khai Đạo ngày 18 tháng 5 âm lịch và lễ Đản sinh Đức Huỳnh Giáo Chủ ngày 25 tháng 11 âm lịch, tín đồ về Tổ Đình và An Hòa Tự ở Phú Tân, An Giang rất đông, và việc đọc giảng là một phần của những ngày ấy.
Nhiều người thuộc cả quyển. Việc thuộc lòng được hiểu như cách mang lời dạy theo mình ra ruộng, ra chợ, để lời ấy tự nhắc mình lúc sắp làm điều quấy. Câu miệng thì niệm Phật lòng thì tà gian là loại câu người ta hay đem ra nhắc nhau như thế.
Hai thời cúng lạy mỗi ngày
Việc đọc Sấm Giảng đứng cạnh một nếp khác có khuôn rõ hơn, là việc cúng lạy mỗi ngày của người cư sĩ tại gia. Nếp phổ biến là hai thời mỗi ngày, sớm mai và chiều tối. Mục Sự Cúng Lạy Của Người Cư Sĩ Tại Gia đăng trong quyển Cách Tu Hiền trên hoahao.org tả thứ tự như sau.
Trước bàn thờ ông bà, người cúng cầm nhang xá ba xá, quỳ chắp tay đưa lên trán đọc bài nguyện bằng thơ tiếng Việt, cắm nhang rồi đứng thẳng chắp tay đọc tiếp, rồi lạy bốn lạy. Trước bàn thờ Phật, người cúng đọc bài Quy Y, mở đầu bằng câu Nam-mô Ta-Bà Giáo-Chủ Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật niệm ba lần, rồi quy y Phật, Pháp, Tăng mười phương, rồi đọc năm lời nguyện cầu hướng về Tây phương: cầu cho thế giới, cho cửu huyền thất tổ, cho cha mẹ còn và mất, cho bá tánh vạn dân, và cầu cho chính mình được tiêu tai và sáng trí. Xong lạy bốn lạy và xá ba xá, chính giữa niệm Nam-Mô A-Di-Đà Phật, hai bên niệm danh hiệu Đức Đại Thế Chí và Đức Quan Thế Âm.
Sau đó người cúng ra bàn Thông Thiên ngoài sân, nguyện bốn hướng, lấy bàn làm hướng chánh. Hướng chánh đọc bài Quy Y, ba hướng kia đọc năm lời nguyện, mỗi hướng lạy bốn lạy, ai không lạy được thì xá ba xá. Lạy đứng hay lạy quỳ tùy sức. Cúng xong ai muốn thì ngồi thẳng lưng niệm Phật, nhiều ít tùy sức, và mục ấy dặn khi cầu nguyện và niệm Phật chỉ niệm trong tâm.
Những khác biệt giữa các nhà
Vì mọi việc diễn ra trong nhà riêng, cách làm cũng xê dịch theo hoàn cảnh, và chính quyển Cách Tu Hiền đã chừa chỗ cho sự xê dịch ấy. Nhà chật thì chỉ có bàn Thông Thiên với một lư hương. Người ở chung với người khác đạo thì tới giờ vái thầm. Người đi làm ruộng tới giờ cúng thì ngó về hướng Tây mà nguyện rồi xá bốn hướng, người đi xa thì nguyện trong tâm. Mỗi khi ăn cơm, dù chỉ cơm với mắm muối, người trong đạo nguyện mời cửu huyền thất tổ và ông bà cha mẹ đã khuất về ăn cùng, để tỏ lòng hiếu.
Việc ăn chay cũng theo mức của mỗi người. Mục Sự Cúng Lạy ghi các ngày chay trong tháng là 14, 15, 29, 30, tháng thiếu thì 29 và mồng 1, dịp năm mới thì ăn chay ngày 29, 30 và mồng 1 Tết. Ai phát nguyện nhiều hơn thì tùy tâm.
Thư viện tả những việc này như người quan sát. Cách làm cụ thể ở mỗi nhà, mỗi xóm có thể khác, và người trong đạo là người nói rõ nhất.
VIINhững Chỗ Hay Hiểu Lầm
Vì mang chữ Sấm trong tên, và vì viết bằng lời quê rất gần với lời nói thường, quyển này hay bị đọc lệch theo hai hướng ngược nhau: hoặc coi như sách đoán việc, hoặc coi như thơ dân gian không có chiều sâu. Dưới đây là mấy chỗ thư viện gặp nhiều nhất.
Bản Chú Giải của đạo giải chữ Sấm là lời báo trước và chữ Giảng là giải bày đạo lý, và định nghĩa Sấm Giảng là quyển vừa báo trước vừa giảng đạo để khuyên người sớm tỉnh. Trong bốn mươi bốn câu đầu, chỉ vài câu mang giọng báo trước, còn lại là tự giới thiệu, trách thói đời và khuyên tu. Lời báo trước được dùng làm lý do để tu cho sớm, không phải để người đọc ngồi đoán ngày giờ.
Chữ Điên là danh xưng, không phải lời tả bệnh. Theo bản Chú Giải, trong quyển này ông Thầy xưng là Khùng, người tớ xưng là Điên. Xưng như vậy là nhận luôn cái tên xóm làng gán cho, như câu 32 nói, rồi để lời giảng tự đứng bằng lẽ phải của nó chứ không bằng danh vị người nói.
Chính đoạn mở đầu đã bác điều này bằng hai câu Nam mô, mô Phật từ bi, miệng thì niệm Phật lòng thì tà gian. Đạo giữ việc niệm Phật, nhưng coi việc sửa lòng là gốc. Quyển Cách Tu Hiền viết rằng tu hành cốt ở trau tâm sửa tánh hơn là lễ bái bên ngoài.
Câu 36 kể người giảng từng lên núi ẩn tu, nhưng đó là lai lịch của người giảng. Con đường dành cho tín đồ, theo quyển Cách Tu Hiền, là tu tại gia, học Phật tu nhân, đền Tứ Ân ngay trong nhà và xóm giềng của mình. Toàn đạo là cư sĩ tại gia.
Đây là lối đọc Nam Bộ được giữ nguyên trong văn bản: nguơn là nguyên, vưng là vâng, lịnh là lệnh, thiềng là thành, chơn là chân, gia cang là gia cương. Sấm Giảng viết cho người miền Tây nghe, nên viết đúng như người miền Tây nói. Sửa các chữ ấy theo chính tả phổ thông sẽ làm lệch vần và mất giọng của bài.
Trần điều màu đỏ là lối thờ trước kia, có từ thời Đức Phật Thầy Tây An. Theo mục Thờ Phượng của quyển Cách Tu Hiền, toàn thể người trong đạo đã đổi sang màu dà, nên tấm vải trên bàn thờ Phật của nhà tín đồ Hòa Hảo là tấm trần dà màu nâu sồng.
?Hỏi Đáp Nhanh
Sấm Giảng Khuyên Người Đời Tu Niệm là gì
Là quyển thứ nhứt trong bộ Sấm Giảng Thi Văn Giáo Lý của Phật Giáo Hòa Hảo, do Đức Huỳnh Giáo Chủ viết tại làng Hòa Hảo khoảng trung tuần tháng Tám năm Kỷ Mão, tức năm 1939. Quyển dài 912 câu lục bát tiếng Việt, vừa báo trước thời cuộc theo niềm tin của đạo, vừa giảng giáo lý để khuyên người sớm tu. Đây là kinh sách chính của đạo, được tín đồ đọc tại nhà và trong các buổi đọc giảng.
Trang này chép đoạn nào của Sấm Giảng và vì sao
Trang này chép từ câu 1 tới câu 44 của quyển nhứt, tức phần khai đề và ba tiểu đoạn đầu của phần chánh đề theo cách chia đoạn của bản Chú Giải trong đạo. Đoạn này trọn ý: người giảng nói về thời Hạ nguơn, tự giới thiệu, nói vì sao xuống đời giảng đạo, kể người đời đón lời giảng ra sao, rồi dừng lại để bắt đầu nói chuyện chơn tu. Đây cũng là đoạn tín đồ quen đọc nhất.
Hạ nguơn nghĩa là gì
Nguơn là chữ nguyên đọc theo giọng Nam Bộ, chỉ một thời kỳ lớn của trời đất. Theo niềm tin của dòng Bửu Sơn Kỳ Hương mà Phật Giáo Hòa Hảo nối tiếp, cuộc đời trải qua Thượng nguơn, Trung nguơn và Hạ nguơn. Hạ nguơn là thời cuối, lúc đạo đức suy và lòng người đổi. Câu Hạ nguơn nay đã hết đời nói thời kỳ ấy đã tới chặng chót, và theo giáo nghĩa của đạo, đó là lý do để tu cho sớm.
Chữ Điên trong Sấm Giảng chỉ ai
Trong quyển này người giảng tự xưng là Điên và nói mình đi theo một vị Thầy. Theo phần Bố Cục của bản Chú Giải trong đạo, ông Thầy xưng là Khùng, người tớ xưng là Điên, pháp danh là Huệ Lựu và Huệ Tâm, và phần Lược Giải đọc lời của Điên là lời Đức Thầy nói về việc mình xuống đời hóa độ. Danh xưng ấy là lối nói khiêm, không phải lời tả bệnh.
Tín đồ Hòa Hảo đọc Sấm Giảng khi nào
Sấm Giảng không có thời khóa cố định như kinh ở chùa. Tín đồ đọc ở nhà, đọc cho con cháu nghe, đọc chung trong các buổi họp mặt ở hội quán và độc giảng đường, và đọc trong hai mùa đại lễ lớn của đạo. Bên cạnh đó mỗi nhà có hai thời cúng lạy mỗi ngày trước bàn thờ ông bà, bàn thờ Phật có tấm trần dà và bàn Thông Thiên ngoài sân, với lễ phẩm chỉ gồm nước lạnh, bông hoa và nhang.