ITrước Khi Đọc
Nếu chương Kinh sách Đại Học dựng lên khung sườn chính trị và đạo đức của Nho Giáo từ tu thân tới bình thiên hạ, thì chương mở đầu sách Trung Dung đào thẳng xuống tầng móng siêu hình sâu nhất của tòa nhà ấy: con người nhận bản tính từ đâu, vì sao đạo làm người không thể rời bỏ dù chỉ trong chốc lát, làm thế nào giữ lòng ngay thẳng khi ở một mình nơi góc khuất, và sự quân bình của vui, giận, buồn, sướng trong một nội tâm có liên hệ gì tới trật tự của trời đất muôn vật. Chỉ trong một trăm lẻ chín chữ Hán cô đọng như chạm vào đá, mười bốn câu văn này đã định hình ngôn ngữ triết học của cả khu vực Đông Á suốt hơn tám trăm năm.
Trước hết cần hiểu đúng hai chữ nhan đề Trung Dung 中庸. Trong lời nói hằng ngày hôm nay, không ít người lầm tưởng trung dung là đứng ở khoảng giữa ba phải, nửa vời, không dám nghiêng hẳn về đúng hay sai. Trong kinh điển Nho gia, nghĩa của hai chữ này hoàn toàn ngược lại. Mở đầu sách Trung Dung Chương Cú, Chu Hy giải thích Trung là không thiên lệch, không dựa dẫm, không thái quá mà cũng không bất cập (bất thiên bất ỷ, vô quá bất cập); còn Dung là lẽ thường hằng ngày không đổi dời (bình thường, theo Trình Di là bất dịch chi vị dung, cái lẽ muôn đời không thể thay đổi). Đạt tới Trung Dung không phải lấy cái tốt cộng cái xấu chia đôi, mà là trong từng hoàn cảnh biến động cụ thể đều tìm ra điểm chuẩn xác hợp lẽ nhất như mũi tên bắn trúng hồng tâm.
Cũng như sách Đại Học, Trung Dung trong truyền thống Nho Giáo không phải một bài kinh cầu nguyện trước bàn thờ để xin thần linh ban phước, mà là bản văn triết học và tu dưỡng nội tâm. Trong lời tổng kết đặt ngay cuối chương một, Chu Hy dẫn lời Dương Thời (Dương Quy Sơn, học trò hai anh em họ Trình) gọi chương mở đầu này là thể yếu của toàn thiên (cốt tủy thâu tóm cả cuốn sách), chia làm ba nhịp lớn: ba câu đầu nêu cội nguồn của Đạo bắt nguồn từ Trời và có sẵn nơi bản tính mỗi người; sáu câu giữa chỉ dạy công phu giữ gìn và soi xét nội tâm (tồn dưỡng và tỉnh sát); năm câu cuối mở ra công hiệu tột cùng khi đạt tới sự quân bình và hài hòa trọn vẹn (trí trung hòa).
Trang này in trọn nguyên văn 109 chữ Hán theo Trung Dung Chương Cú của Chu Hy, ghi rõ các âm đọc đặc biệt trong truyền thống huấn hỗ học, trình bày bản dịch tiếng Việt và tiếng Anh do thư viện tự dịch sát nghĩa gốc, rồi đặt cạnh nhau ba cách đọc lớn của lịch sử Nho học là Kinh học Hán Đường, Lý học đời Tống và Tâm học đời Minh để người đọc thấy rõ sức sống đa tầng của bản văn.
Khảo cứu lịch sử hình thành của Trung Dung cần phân biệt rõ truyền thống tông truyền của nhà Nho với kết quả văn bản học và khảo cổ học hiện đại. Ở lớp cổ nhất, bài văn này vốn là thiên thứ 31 trong bốn mươi chín thiên của bộ Lễ Ký 禮記 (Tiểu Đái Lễ Ký) do các học giả đời Tây Hán sưu tập và biên định. Trong Sử Ký (thiên Khổng Tử Thế Gia), Tư Mã Thiên ghi gọn năm chữ: Tử Tư tác Trung Dung, tức Tử Tư 子思 (tên thật là Khổng Cấp, khoảng 483 tới 402 trước Công nguyên, cháu nội Khổng Tử, học trò của Tăng Tử và là thầy truyền học thống cho dòng Mạnh Tử) là tác giả. Sang đời Tống, Trình Di và Chu Hy phát triển lời ghi ấy thành thuyết đạo thống tâm pháp: Tử Tư lo sợ pháp truyền tâm của nhà Nho lâu ngày bị sai lạc nên viết thành sách Trung Dung trao cho Mạnh Tử.
Từ đời Tống về sau, nhiều học giả khảo chứng từ Âu Dương Tu, Diệp Thích, Thôi Thuật cho tới giới nghiên cứu hiện đại đã nhận ra trong toàn văn thiên Trung Dung có những câu bàn về thống nhất mặt chữ viết, cỡ trục xe và khuôn phép hành xử (thư đồng văn, xa đồng quỹ ở chương 28), vốn phản ánh bối cảnh đế chế thống nhất thời Tần Hán hơn là thời Xuân Thu Chiến Quốc. Tuy nhiên, phát hiện khảo cổ năm 1993 tại mộ Sở Quách Điếm (tỉnh Hồ Bắc, niên đại khoảng năm 300 trước Công nguyên) với bó thẻ tre Tính Tự Mệnh Xuất 性自命出 (Tính từ Mệnh mà ra) bàn trực tiếp về mối liên hệ giữa Trời, Mệnh, Tính và bốn tình cảm vui, giận, buồn, thương đã chứng minh rằng chính mạch tư tưởng cốt lõi của chương mở đầu Trung Dung thực sự bắt nguồn từ học phái Tử Tư thời Chiến Quốc, trước khi được các nho gia sau đó biên tập hoàn chỉnh vào Lễ Ký.
Biến chuyển lịch sử đưa Trung Dung lên hàng kinh điển độc lập diễn ra vào thế kỷ mười hai. Sau nhiều chục năm trăn trở sửa chữa bản thảo, mùa xuân năm 1189 Chu Hy viết bài Trung Dung Chương Cú Tự nổi tiếng, tách thiên Trung Dung khỏi Lễ Ký, chia lại thành ba mươi ba chương có mạch lạc chặt chẽ thay cho lối chia đoạn cũ của Trịnh Huyền đời Đông Hán, rồi năm 1190 khắc in chung vào bộ Tứ Thư. Kể từ năm 1313 đời Nguyên khi Tứ Thư Tập Chú của Chu Hy trở thành sách thi khoa cử chính thức tại Trung Hoa, rồi lan sang Triều Tiên và Đại Việt, mười bốn câu mở đầu dưới đây trở thành nền tảng triết học bắt buộc của mọi bậc trí thức nho học Đông Á.
IIToàn Văn Chương Mở Đầu, Một Trăm Lẻ Chín Chữ
Khi đọc phiên âm Hán Việt của mười bốn câu dưới đây, có ba chữ tuyệt đối không được đọc lướt theo thói quen mặt chữ thông thường mà phải theo đúng chú âm cổ điển Chu Hy ghi ngay dưới chính văn. Một là chữ 見 trong câu thứ tám (Mạc hiện hồ ẩn): ở đây là động từ tự phát lộ rõ ra ngoài, đồng nghĩa với chữ 現, phải đọc là hiện chứ không đọc là kiến (nhìn thấy). Hai là chữ 樂 trong câu thứ mười (Hỷ nộ ai lạc): chỉ niềm vui sướng, đọc là lạc chứ không đọc là nhạc. Ba là hai chữ 中 đứng sát nhau ở câu mười và câu mười một: chữ đầu trong vị chi trung đọc thanh bằng là trung (danh từ chỉ trạng thái ở giữa không thiên lệch), còn chữ sau trong phát nhi giai trúng tiết đọc khứ thanh là trúng (động từ bắn trúng, khớp đúng chừng mực).
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Tiếng Việt | Tiếng Anh |
|---|---|---|---|---|
| 1 | 天命之謂性, | Thiên mệnh chi vị tính, | Điều mà Trời phú cho muôn vật gọi là bản tính, | What Heaven confers is called the inborn nature; |
| 2 | 率性之謂道, | suất tính chi vị đạo, | noi theo đúng bản tính tự nhiên ấy mà đi gọi là Đạo, | following that nature in accordance with its own grain is called the Way; |
| 3 | 修道之謂教。 | tu đạo chi vị giáo. | sửa sang và định chừng mực cho Đạo ấy thành khuôn phép gọi là Giáo hóa. | cultivating and ordering that Way into fitting measure is called instruction. |
| 4 | 道也者,不可須臾離也, | Đạo dã giả, bất khả tu du ly dã, | Đạo ấy không thể rời xa dù chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi, | As for the Way, one cannot depart from it even for a fleeting moment; |
| 5 | 可離非道也。 | khả ly phi đạo dã. | nếu có thể rời xa được thì chẳng phải là Đạo. | what could be departed from would not be the Way. |
| 6 | 是故君子戒慎乎其所不睹, | Thị cố quân tử giới thận hồ kỳ sở bất đổ, | Cho nên người quân tử luôn răn dè cẩn trọng ngay ở chỗ mắt chưa trông thấy, | Therefore the noble person is wary and reverently attentive toward what is not yet seen, |
| 7 | 恐懼乎其所不聞。 | khủng cụ hồ kỳ sở bất văn. | kính sợ dè dặt ngay ở chỗ tai chưa nghe thấy. | and stands in awe and caution toward what is not yet heard. |
| 8 | 莫見乎隱,莫顯乎微, | Mạc hiện hồ ẩn, mạc hiển hồ vi, | Không gì lộ rõ hơn chỗ khuất lấp thầm kín, không gì sáng tỏ hơn nét vi tế mới chớm, | Nothing is more manifest than what lies hidden, and nothing is more unmistakable than what is minute; |
| 9 | 故君子慎其獨也。 | cố quân tử thận kỳ độc dã. | bởi thế người quân tử hết sức cẩn trọng nơi chỗ chỉ một mình mình biết. | therefore the noble person is watchful over what is known to oneself alone. |
| 10 | 喜怒哀樂之未發,謂之中; | Hỷ nộ ai lạc chi vị phát, vị chi trung; | Khi vui, giận, buồn, sướng chưa phát khởi ra ngoài, trạng thái ấy gọi là Trung; | Before joy, anger, sorrow and pleasure have stirred forth, that state is called equilibrium; |
| 11 | 發而皆中節,謂之和。 | phát nhi giai trúng tiết, vị chi hòa. | khi đã phát ra mà thảy đều trúng đúng chừng mực, trạng thái ấy gọi là Hòa. | when they stir forth and each hits its due measure, that state is called harmony. |
| 12 | 中也者,天下之大本也; | Trung dã giả, thiên hạ chi đại bản dã; | Trung ấy chính là cái gốc lớn của muôn việc trong thiên hạ; | Equilibrium is the great root of all under Heaven; |
| 13 | 和也者,天下之達道也。 | hòa dã giả, thiên hạ chi đạt đạo dã. | Hòa ấy chính là con đường thông suốt chung của người đời trong thiên hạ. | harmony is the universal path shared throughout all under Heaven. |
| 14 | 致中和,天地位焉,萬物育焉。 | Trí trung hòa, thiên địa vị yên, vạn vật dục yên. | Đưa được Trung và Hòa tới mức tột cùng thì trời đất an định đúng ngôi vị, muôn vật sinh trưởng tốt tươi. | When equilibrium and harmony are carried to their utmost, Heaven and Earth rest in their proper places and the myriad things are nourished and flourish. |
IIIGiải Nghĩa Chi Tiết Từng Câu Và Đối Chiếu Các Chú Giải
Mười bốn câu của chương mở đầu sử dụng những khái niệm hàm súc bậc nhất của cổ văn Trung Hoa: mệnh, tính, đạo, giáo, tu du, ẩn vi, độc, vị phát, trung, trúng tiết, hòa. Phần dưới đây đi theo từng cụm câu của nguyên văn, giải rõ nghĩa chữ và ghi lại trung thực chỗ tương đồng cũng như chỗ khác biệt giữa lối giải Hán Đường (Trịnh Huyền, Khổng Dĩnh Đạt), Lý học đời Tống (Trình Di, Chu Hy) và Tâm học đời Minh (Vương Dương Minh).
Năm chữ mở đầu bắc cây cầu nối thẳng giữa vũ trụ và nội tâm con người. Mệnh 命 nghĩa gốc là mệnh lệnh, lời sai khiến, chuyển sang nghĩa triết học là sự phú bẩm, trao ban. Tính 性 là bản chất sẵn có ngay từ lúc sinh ra. Đời Đông Hán, Trịnh Huyền chú giải theo thuyết Ngũ hành khí chất thời Hán: Mộc thần tắc nhân, Kim thần tắc nghĩa, Hỏa thần tắc lễ, Thủy thần tắc trí, Thổ thần tắc tín; Trời trao khí chất nào làm thành tính nết người ấy.
Sang đời Tống, Chu Hy đưa mệnh đề nổi tiếng của Trình Di là Tính tức Lý (bản tính chính là Thiên lý) vào lời chú: Trời lấy hai khí Âm Dương và Ngũ hành hóa sinh vạn vật, khí tụ lại kết thành hình hài, đồng thời Lý cũng được phú vào trong đó như một mệnh lệnh trao ban; con người nhận lấy cái Lý ấy làm thành năm đức thường hằng Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, gọi là Tính. Nhờ định nghĩa này, bản tính đạo đức không phải quy ước do người đời đặt ra từ bên ngoài mà là chính lẽ Trời nằm sẵn trong lòng mỗi người.
Chữ suất 率 được cả Trịnh Huyền lẫn Chu Hy giải là tuần 循, nghĩa là noi theo, men theo tự nhiên không cưỡng ép. Đạo 道 nghĩa đen là con đường đi. Nếu bản tính trời phú vốn lành, thì khi con người và muôn vật cứ thuận theo lẽ tự nhiên của bản tính ấy trong từng việc ứng xử hằng ngày (như gặp cha mẹ tự nhiên biết thương kính, thấy trẻ sắp rơi xuống giếng tự nhiên chạnh lòng xót thương như Mạnh Tử nêu), những lối đi đương nhiên phải thế ấy chính là Đạo.
Chỗ tế nhị cần lưu ý là chữ tính ở đây là bản tính Thiên lý thuần thiện (như lòng trắc ẩn, lòng tu ố), chứ không phải những dục vọng bản năng thô tháo. Vương Dương Minh đời Minh nhấn mạnh thêm: chỉ khi không bị ý riêng vị kỷ che lấp thì sự vận hành tự nhiên của lương tri mới chính là suất tính.
Nếu bản tính vốn đã thiện và noi theo tính đã là Đạo, vậy tại sao con người còn cần tới Giáo (giáo hóa, lễ nhạc, pháp độ)? Chữ chìa khóa nằm ở động từ tu 修 (một số bản cổ viết 脩). Chu Hy giải tu là phẩm tiết chi dã, tức phân định phẩm trật và đặt ra chừng mực tiết độ.
Theo lời giảng của Chu Hy, tuy bản tính Thiên lý là đồng nhất ở mọi người, nhưng phần khí bẩm (thể chất thanh hay trọc, mạnh mẽ hay yếu mềm) của mỗi cá nhân lại khác nhau, nên khi hành xử thực tế khó tránh khỏi kẻ làm quá đà (quá), người làm chưa tới (bất cập). Chẳng hạn ai cũng có lòng thương tiếc cha mẹ qua đời, nhưng người nóng nảy quá đau thương có thể tuyệt thực hủy hoại thân mình, kẻ hời hợt lại chôn cất qua loa; bậc thánh nhân bèn nhân theo chính tình cảm tự nhiên ấy mà định ra lễ tang ba năm cùng các phép tắc lễ, nhạc, hình, chính làm khuôn thước chung cho thiên hạ, gọi là Giáo. Giáo hóa vì thế không cưỡng bức ngược lại bản tính, mà chỉ cắt tỉa cho cái quá và nâng đỡ cái chưa tới để ai nấy trở về đúng mạch Đạo.
Tu du 須臾 là khoảng thời gian cực ngắn trong chớp mắt, một hơi thở. Vì Đạo bắt nguồn ngay từ bản tính bên trong lòng người và hiện diện trong từng việc nhỏ nhặt từ ăn mặc, nói năng tới nhìn nghe, nên không có giây phút nào, không gian nào con người đứng ra ngoài Đạo được. Câu phản đề khả ly phi đạo dã (cái gì có thể tạm cất sang một bên rồi lát nữa quay lại lấy được thì cái đó chỉ là vật ngoài thân, không phải là Đạo) đặt nền móng trực tiếp cho sự tỉnh thức liên tục ở câu kế tiếp.
Chính vì Đạo không thể rời bỏ dù trong chốc lát, người quân tử không đợi tới khi có sự việc hiện ra trước mắt (đổ) hay có tiếng động vang tới bên tai (văn) mới bắt đầu giữ mình, mà thường trực nuôi giữ lòng kính cẩn, nghiêm trang ngay cả trong trạng thái tĩnh lặng khi chưa tiếp xúc với sự vật bên ngoài, nơi mắt chưa thấy gì và tai chưa nghe gì. Trong hệ thống tu dưỡng của Chu Hy, đây gọi là công phu tồn dưỡng (hay hàm dưỡng): giữ cho bản thể Thiên lý trong tâm luôn sáng suốt, ngay ngắn, không buông lung lơ đễnh lúc bình thường.
Nếu câu trên nói về sự giữ tâm lúc tĩnh lặng chung, thì câu này xoáy thẳng vào khoảnh khắc nhạy cảm nhất khi một ý niệm vừa nhúc nhích khởi lên. Chu Hy giải ẩn 隱 là chỗ tối tăm khuất lấp, vi 微 là việc nhỏ nhiệm mảnh mai, và độc 獨 là nhân sở bất tri nhi kỷ sở độc tri chi địa: nơi người ngoài hoàn toàn chưa ai hay biết, nhưng chính lương tâm mình đã biết rành rành.
Nghịch lý tâm lý sâu sắc nằm ở câu mạc hiện hồ ẩn, mạc hiển hồ vi (chẳng gì phơi bày rõ rệt bằng chỗ ẩn khuất, chẳng gì sáng tỏ bằng nét vi tế). Khi một tà niệm tham lam, đố kỵ hay dối trá vừa chớm động trong lòng (gọi là chữ cơ 幾), đối với người chung quanh nó vẫn ẩn tàng chưa thành hành động, nhưng đối với cái biết tự soi của chính người ấy thì nó sáng rõ hơn bất cứ thứ gì khác; nếu để mặc nó lớn lên trong bóng tối, sớm muộn nó cũng bộc lộ ra nét mặt và việc làm. Bởi vậy bậc quân tử thực hành thận kỳ độc (cẩn trọng nơi chỗ một mình mình biết), chặn đứng dục vọng sai lệch ngay từ mầm mống đầu tiên. Chu Hy gọi bước này là công phu tỉnh sát.
Đây là câu triết học nổi tiếng nhất về cấu trúc tâm tính của Nho Giáo. Vui (hỷ), giận (nộ), buồn (ai), sướng (lạc) đại diện cho toàn bộ đời sống tình cảm con người (tình). Khi chưa gặp sự vật kích động bên ngoài, bốn tình cảm ấy còn lắng yên chưa phát ra (vị phát), trong lòng rỗng rang sáng suốt, không hề nghiêng lệch về phía vui sẵn hay bực sẵn; trạng thái bản thể cân bằng tuyệt đối ấy của Tính được gọi là Trung 中.
Khi tiếp xúc với cảnh đời bên ngoài, người quân tử không phải khúc gỗ vô cảm không biết vui buồn hay phẫn nộ, mà vẫn vui khi gặp điều đáng mừng, giận khi thấy điều tàn ác bất công, buồn trước cảnh tang thương; song cả bốn tình cảm ấy phát ra đều trúng tiết 中節 (đúng đối tượng, đúng thời điểm, đúng mức độ, xong việc là lắng yên không vương vấn như gương sáng soi vật). Trạng thái tình cảm vận hành êm thuận không trái nghịch lẽ phải ấy gọi là Hòa 和.
Câu này nâng cặp phạm trù tâm lý cá nhân Trung và Hòa lên thành cặp phạm trù bản thể và tác dụng (thể và dụng) của toàn thể thế giới nhân sinh. Trung được gọi là đại bản (cái gốc lớn của thiên hạ), bởi mọi đạo lý ứng xử muôn hình vạn trạng trên đời đều từ bản tính ngay thẳng không thiên lệch ấy mà nảy ra (phần thể của Đạo). Còn Hòa được gọi là đạt đạo (con đường thông suốt khắp thiên hạ xưa nay ai ai cũng cùng đi được mà không bế tắc), bởi khi tình cảm con người phát ra đúng mực thì cha con, vợ chồng, bè bạn, vua tôi giao tiếp với nhau đều êm thấm thuận lý (phần dụng của Đạo).
Trí 致 nghĩa là đẩy tới mức cùng tột trọn vẹn: nhờ công phu giới thận bất đổ đẩy cái Trung lúc tĩnh tới chỗ không mảy may lệch lạc, và nhờ công phu thận độc đẩy cái Hòa lúc động tới chỗ ứng xử việc gì cũng chuẩn xác không sai lỗi. Khi ấy đạt tới hiệu quả thiên địa vị yên, vạn vật dục yên: trời đất an định đúng ngôi thứ, vạn vật được nuôi dưỡng sinh sôi trọn vẹn.
Các nhà chú giải đọc câu kết hùng vĩ này trên cả hai bình diện. Trên bình diện trị thế chính trị (như Trịnh Huyền đời Hán và một mặt trong chú giải Chu Hy), khi bậc thánh vương và con người giữ trọn đạo Trung Hòa trong chính sự, lễ nhạc và khai thác tự nhiên đúng mùa tiết (không chặt cây non, không tát cạn đầm như Mạnh Tử nói), thì trật tự xã hội thái bình, bốn mùa điều hòa và muôn loài sinh vật đều được nảy nở yên lành. Trên bình diện triết học tâm tính (mà Chu Hy và Vương Dương Minh đào sâu), trời đất vạn vật với bản thân ta vốn là một thể thống nhất (thiên địa vạn vật bản ngô nhất thể): khi tâm ta ngay chính thì tâm của trời đất nơi ta ngay chính, khi khí của ta thuận hòa thì khí của trời đất nơi từng việc ta chạm tới cũng thuận hòa, hoàn thành sứ mệnh con người tham dự vào công cuộc hóa dục cùng Trời Đất.
IVThận Độc Và Cuộc Biện Luận Trung Hòa Trong Triết Học Đông Á
Trong lịch sử tư tưởng Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam, không đoạn văn nào kích thích nhiều cuộc tranh biện triết học sâu sắc bằng mười bốn câu mở đầu sách Trung Dung. Hai tâm điểm lớn nhất là phép tu Thận độc và bài toán làm sao tu dưỡng trạng thái Vị phát.
Trước hết là Thận độc 慎獨. Cả sách Đại Học (chương Truyện thứ sáu giải nghĩa thành kỳ ý) lẫn chương đầu Trung Dung đều lấy ba chữ quân tử thận kỳ độc dã làm bản lề kiểm chứng đạo đức thật giả. Kẻ tiểu nhân khi ở chỗ vắng người thường buông thả làm quấy, hễ thoáng thấy bóng người quân tử bước vào liền vội vã che giấu cái xấu và phô cái tốt ra ngoài, nhưng rút cục người đời nhìn thấu gan phổi họ không sao che nổi. Nho học chỉ ra rằng đạo đức không được đo ở lúc đứng dưới ánh đèn sân khấu hay giữa đám đông giám sát, mà đo ở khoảnh khắc chỉ còn một mình mình đối diện với ý niệm vừa lóe lên trong ngực. Nếu ở nơi độc tri ấy người ta vẫn giữ lòng kính trọng lẽ phải y như đang tiếp kiến bậc khách quý hay đứng trước thần minh, thì trong ngoài hợp nhất làm một (gọi là chữ Thành 誠, khái niệm xuyên suốt nửa sau sách Trung Dung).
Tâm điểm thứ hai là câu hỏi từng làm chính Chu Hy mất ngủ suốt nhiều năm tuổi ba mươi: nếu vị phát là lúc vui, giận, buồn, sướng chưa hề khởi động, mà hễ ta vừa khởi ý định quan sát hay tìm kiếm cái Trung trong lòng thì ngay khoảnh khắc ấy tâm đã chuyển sang trạng thái dĩ phát mất rồi, vậy người học làm cách nào đặt công phu vào chỗ vị phát được?
Thời trẻ theo học thầy Lý Đỗng (Lý Diên Bình), Chu Hy được dạy pháp tĩnh tọa thể nghiệm khí tượng lúc hỷ nộ ai lạc chưa phát nhưng chưa thấu suốt. Năm ba mươi bảy tuổi, ông thảo thư trao đổi với người bạn tri âm là Trương Thức (Trương Nam Hiên, lãnh tụ phái Hồ Tương) và tạm lập ra thuyết mà hậu thế gọi là Trung Hòa Cựu Thuyết (năm 1168): cho rằng suốt ngày tâm người ta luôn luôn động (luôn là dĩ phát), còn Tính nằm chìm ở tầng bản thể vô hình nên chỉ có thể sát thức ở chỗ tâm đã phát ra mà thôi. Nhưng càng suy ngẫm, Chu Hy càng thấy lối giải ấy khiến con người thiếu hẳn gốc tĩnh vững chãi bên trong, tâm lúc nào cũng lao xao đuổi theo sự vật.
Tới mùa xuân năm Kỷ Sửu 1169 (khi Chu Hy bốn mươi tuổi), đọc lại lời Trình Di bàn về chữ Kính 敬, ông bỗng nhiên bừng ngộ và viết bức thư lịch sử Dữ Hồ Nam Chư Công Luận Trung Hòa Đệ Nhất Thư, xác lập Trung Hòa Tân Thuyết. Ông nhận ra Tâm thống Tính Tình (Tâm bao quát cả Tính lúc chưa phát lẫn Tình lúc đã phát): lúc chưa có việc đến, không cần cưỡng ép dập tắt tri giác cũng không đi săn tìm hình bóng cái Trung, chỉ cần thường trực giữ lòng trang nghiêm tỉnh thức (chủ Kính hàm dưỡng) ở chỗ mắt chưa thấy tai chưa nghe, thì bản thể Trung tự nhiên được bảo toàn trọn vẹn; tới khi sự việc chạm tới, dùng sự nhạy bén thận độc tỉnh sát để điều chỉnh tình cảm khớp đúng lễ nghĩa thì Hòa tự nhiên hiện ra. Cuộc chuyển hướng năm 1169 này được các sử gia triết học như Tiền Mục và Trần Lai coi là thời khắc khai sinh thực sự của hệ thống Chu Tử Lý học hoàn chỉnh.
Ba thế kỷ sau, Vương Dương Minh (1472 tới 1529) lại đưa ra một cách đọc đột phá khác từ lập trường Tâm học: ông phản đối việc chia giới thận bất đổ và thận độc thành hai giai đoạn tĩnh động tách rời, mà khẳng định cái độc tri chính là bản thể lương tri hằng sáng suốt không bao giờ đứt đoạn, dù khi có việc hay chưa có việc cũng chỉ là một công phu trí lương tri duy nhất.
| Khái niệm trong chương 1 | Kinh học Hán Đường (Trịnh Huyền) | Lý học đời Tống (Chu Hy) | Tâm học đời Minh (Vương Dương Minh) |
|---|---|---|---|
| Thiên mệnh chi vị tính | Trời phú khí Ngũ hành Mộc, Kim, Hỏa, Thủy, Thổ làm thành tính nết từng người | Trời phú Thiên lý thuần thiện làm thành năm đức Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín (Tính tức Lý) | Thiên lý vốn tự túc trọn vẹn ngay nơi bản thể của Tâm, chính là Lương tri |
| Suất tính và Tu đạo | Tuần theo tính tự nhiên là Đạo; bậc vương giả sửa sang lễ nhạc dạy dân là Giáo | Noi theo lẽ tự nhiên của Tính là Đạo; thánh nhân định phẩm tiết khắc phục sự lệch của khí bẩm là Giáo | Lương tri tự nhiên vận hành không bị tư dục che lấp là Đạo; mài giũa bỏ tư dục để trở về lương tri là Giáo |
| Giới thận và Thận độc | Người trên giữ lễ nghi nghiêm cẩn ngay cả khi không ai thấy nghe hay khi ở một mình | Tách làm hai mặt bổ sung: Giới thận là hàm dưỡng bản thể lúc tĩnh; Thận độc là tỉnh sát ý niệm lúc vừa chớm động | Hợp làm một công phu duy nhất: giữ trọn sự tỉnh giác của lương tri (độc tri) xuyên suốt cả tĩnh lẫn động |
| Chữ Trung (vị phát) và Hòa (dĩ phát) | Tâm tình đạm nhiên chưa động là Trung; phát ra vừa phải không thái quá bất cập là Hòa | Trung là bản thể của Tính không thiên lệch (đại bản); Hòa là Tình phát ra hợp lẽ (đạt đạo) | Vị phát chi trung chính là bản thể sáng suốt của Lương tri; Hòa là lương tri ứng vật tự nhiên trúng mực |
| Thiên địa vị yên, vạn vật dục yên | Vua quan hành chính sự Trung Hòa khiến âm dương thuận tiết, muôn dân muôn vật sinh sôi | Kết hợp cả tu dưỡng tâm khí cá nhân tới bậc thánh nhân lẫn hiệu nghiệm giáo hóa an định vũ trụ xã hội | Tâm con người vốn cùng trời đất vạn vật là một thể; lương tri sáng tỏ trọn vẹn thì muôn vật đều có đúng vị trí trong thế giới ý nghĩa ấy |
VCách Học Trong Tứ Thư, Khoa Cử Việt Nam Và Tiếng Nói Thường Ngày
Trong truyền thống giáo dục Nho học cổ truyền, sách Trung Dung không phải cuốn sách đem ra đọc vội đầu tiên, mà là đỉnh cao khép lại lộ trình học tập bộ Tứ Thư, đồng thời in dấu sâu đậm trong nền khoa cử và ngôn ngữ Việt Nam.
Trong Chu Tử Ngữ Loại quyển 14, Chu Hy dặn học trò một thứ tự bất di bất dịch: trước hết đọc Đại Học để nắm quy mô khung sườn, kế đó đọc Luận Ngữ để lập nền móng thực hành, tiếp theo đọc Mạnh Tử để khơi mở chí khí hào sảng, rồi sau cùng mới đọc Trung Dung để thấu đạt chỗ vi diệu tế nhị của người xưa. Nếu chưa đi qua ba sách trước mà nhảy ngay vào bàn chuyện Thiên mệnh và Vị phát thì rất dễ rơi vào lối nói suông huyền viễn.
Từ khoa thi dưới triều Lê Thánh Tông năm 1462 cho tới khoa thi Hội cuối cùng dưới triều Khải Định năm 1919, kỳ đệ nhất của thi Hương và thi Hội tại Việt Nam đều lấy đề Kinh nghĩa rút từ Tứ Thư và Ngũ Kinh theo chuẩn Tứ Thư Đại Toàn (dựa trên chương cú của Chu Hy). Những mệnh đề trong chương mở đầu như Thiên mệnh chi vị tính hay Trí trung hòa thiên địa vị yên là các đầu đề kinh điển thử thách chiều sâu triết học của sĩ tử.
Không dừng ở văn chương cử nghiệp, các học giả lớn của Việt Nam như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn (trong Vân Đài Loại Ngữ và Tứ Thư Ước Giải), Bùi Huy Bích, Phạm Nguyễn Du và Nhữ Bá Sỹ đều dành nhiều tâm huyết bàn luận về khái niệm Trung Hòa, Thận độc và Tính Mệnh của sách Trung Dung để soi chiếu việc tu thân và trị nước.
Nhiều chữ cô đọng trong 109 chữ mở đầu này đã hóa thành từ vựng quen thuộc trong tiếng Việt hiện đại: trung dung, trung hòa, thận độc, đạt đạo, đại bản, tu du, ẩn vi, trúng tiết, thiên mệnh. Hiểu lại mạch văn gốc giúp người dùng chữ hôm nay nắm được độ chuẩn xác ban đầu của từng từ.
Không gian lưu giữ ký ức sống động của việc giảng học sách Trung Dung và bộ Tứ Thư tại Việt Nam có thể tìm thấy tại Văn Miếu Quốc Tử Giám ở Hà Nội, tại Văn Miếu Trấn Biên ở Đồng Nai (văn miếu đầu tiên của vùng đất phương Nam lập năm 1715), cũng như tại quê hương dòng tộc Khổng Tử và Tử Tư ở Khổng Miếu Khúc Phụ (nơi có điện thờ Tư Nghi hầu Khổng Cấp trong hàng Tứ Phối cùng Nhan Hồi, Tăng Tử và Mạnh Tử). Quý vị có thể xem toàn cảnh lịch sử tư tưởng tại trang trụ Nho Giáo và đọc đối chiếu bản văn mở đầu bộ Tứ Thư tại Đại Học, Chương Kinh.
VINhững Chỗ Hay Hiểu Lầm Khi Đọc Chương Mở Đầu Trung Dung
Chỉ dài 109 chữ nhưng câu nào cũng hàm súc, chương đầu sách Trung Dung thường bị hiểu lệch ở sáu điểm phổ biến dưới đây.
Đây là sự đánh tráo khái niệm phổ biến nhất. Chính Khổng Tử từng gọi hạng người ai nói gì cũng gật đầu chiều theo để mua lòng mọi phía là hương nguyên, kẻ cướp của đạo đức (đức chi tặc dã). Trung trong Trung Dung là trúng đúng lẽ phải không lệch sang thái quá hay bất cập: khi cần mềm mỏng thì mềm mỏng trọn vẹn, khi đứng trước đại nghĩa cần cứng cỏi bảo vệ người vô tội thì cứng cỏi tới cùng mới chính là giữ đạo Trung.
Trong chữ Hán cổ, một mặt chữ có thể mang hai thanh điệu khác nhau tùy chức năng ngữ pháp. Ở câu mười một, chữ Trung đóng vai trò động từ nghĩa là khớp đúng nhịp mực (như bắn tên trúng đích), phải đọc khứ thanh là trúng tiết chứ không phải trung tiết (lòng trung trinh). Tương tự ở câu tám, chữ Kiến đóng vai trò nội động từ nghĩa là tự lộ rõ ra ngoài, phải đọc là mạc hiện hồ ẩn chứ không phải không nhìn thấy chỗ ẩn.
Thấy kinh khen trạng thái vui giận buồn sướng chưa phát là Trung, có người lầm tưởng tu dưỡng Nho gia là đè nén triệt tiêu mọi cảm xúc. Thực ra câu ngay kế tiếp khẳng định phát nhi giai trúng tiết vị chi hòa: bậc quân tử vẫn vui, vẫn giận, vẫn thương khóc đầy đặn, chỉ khác người thường ở chỗ cảm xúc khởi lên đúng việc, đúng chừng mực, không bị ích kỷ lôi đi quá trớn.
Ở một mình trong phòng kín chỉ là nghĩa hẹp về không gian. Theo định nghĩa chuẩn của Chu Hy, chữ độc chỉ tầng ý thức nội tâm nơi người khác chưa biết mà một mình lương tri ta đã biết. Ngay khi đang ngồi giữa hội trường đông đúc ngàn người, một ý nghĩ toan tính vụ lợi lóe lên trong đầu mà chưa nói ra miệng thì đó chính là chỗ độc cần phải thận trọng soi xét ngay lập tức.
Câu trí trung hòa, thiên địa vị yên, vạn vật dục yên không nói rằng một cá nhân ngồi nhắm mắt trong nhà có thể dùng phép lạ điều khiển tinh tú. Trong mạch triết học Nho gia, khi con người từ bậc cầm quyền tới mỗi thành viên xã hội sống trọn đạo Trung Hòa, không bạo ngược tàn phá nhân luân và thiên nhiên, thì trật tự xã hội hòa bình và môi trường vạn vật được che chở sinh sôi đúng vị trí vốn có của chúng.
Việc Tử Tư viết Trung Dung truyền cho Mạnh Tử là truyền thống tôn kính của Sử Ký và Chu Hy. Giới nghiên cứu văn bản hiện đại nhìn nhận thận trọng hơn: tư tưởng cốt lõi của chương mở đầu thực sự gắn bó mật thiết với học phái Tử Tư thời Chiến Quốc (như các thẻ tre Quách Điếm chứng thực), nhưng toàn bộ 33 chương như bản Lễ Ký hiện hành nhiều khả năng đã trải qua sự bồi đắp và biên tập của các thế hệ nho gia hậu học cho tới đầu thời Hán.
?Hỏi Đáp Nhanh
Ba câu mở đầu Thiên mệnh chi vị tính, suất tính chi vị đạo, tu đạo chi vị giáo nghĩa là gì
Ba câu này định nghĩa ba khái niệm trụ cột nối liền Trời với người. Lẽ lành và bản chất mà Trời phú bẩm vào mỗi sinh linh ngay khi thành hình gọi là Tính; cứ thuận theo bản tính tự nhiên chân chính ấy mà ứng xử trong cuộc sống hằng ngày gọi là Đạo; và việc bậc thánh hiền dựa trên Đạo ấy đặt ra khuôn phép lễ nhạc, pháp độ để uốn nắn sự thái quá hay bất cập của khí chất từng người thành nề nếp văn hóa gọi là Giáo.
Chương mở đầu sách Trung Dung dài bao nhiêu chữ Hán
Đếm trực tiếp từng chữ Hán trong chính văn từ chữ Thiên đầu bài tới chữ yên cuối bài (không tính các dấu chấm phẩy hiện đại) được đúng 109 chữ Hán. Con số 109 chữ này hoàn toàn trùng khớp giữa bản Trung Dung Chương Cú của Chu Hy trong Tứ Thư và bản gốc thiên Trung Dung thứ 31 trong sách Lễ Ký, dù trong lời nói thông thường người ta hay gọi chẵn là khoảng một trăm mười chữ.
Vì sao câu phát nhi giai trúng tiết lại đọc là trúng chứ không đọc là trung
Trong âm vận học chữ Hán cổ điển và lời chú trực tiếp của Chu Hy, chữ Trung khi mang thanh bằng (bình thanh, đọc là trung) là danh từ hoặc tính từ chỉ vị trí ở giữa, không nghiêng lệch (như vị chi trung). Còn khi mang thanh trắc (khứ thanh, đọc Hán Việt là trúng) thì chuyển thành động từ chỉ việc bắn trúng đích, khớp đúng nhịp độ và chừng mực. Do đó phát nhi giai trúng tiết nghĩa là tình cảm phát ra đều khớp đúng tiết độ.
Quân tử thận kỳ độc khác gì với việc giữ phép lịch sự trước mặt người khác
Giữ lễ độ khi có người nhìn thấy mới chỉ là sự kiềm chế từ ánh mắt xã hội bên ngoài. Còn thận kỳ độc là giữ lòng ngay thẳng, kính cẩn ngay tại chỗ ẩn vi thầm kín nhất, nơi người ngoài chưa ai hay biết nhưng chính lương tâm mình đã biết rõ ý niệm thiện hay ác vừa chớm động. Cả sách Đại Học lẫn sách Trung Dung đều xem đây là thước đo phân biệt người tu dưỡng chân thật với kẻ đạo đức giả.
Chu Hy khuyên đọc Trung Dung ở vị trí nào trong bốn cuốn Tứ Thư
Trong Chu Tử Ngữ Loại quyển 14, Chu Hy xếp Trung Dung ở vị trí thứ tư, đọc sau cùng trong bộ Tứ Thư: đọc Đại Học trước tiên để thấy khung sườn toàn cục, đọc Luận Ngữ thứ hai để nắm nền tảng thực hành, đọc Mạnh Tử thứ ba để nuôi dưỡng chí khí, và cuối cùng mới đọc Trung Dung vì sách này bàn tới tầng bản thể Tính Mệnh và Trung Hòa tinh vi nhất.
Sách Trung Dung có vai trò gì trong giáo dục và khoa cử Việt Nam xưa
Suốt gần năm thế kỷ khoa cử Nho học từ triều Lê Thánh Tông (1462) qua triều Nguyễn tới khoa thi cuối cùng năm 1919, Trung Dung Chương Cú của Chu Hy là một trong bốn cuốn sách giáo khoa bắt buộc của mọi nho sinh từ trường làng tới Quốc Tử Giám, dùng làm đề thi văn Kinh nghĩa ở kỳ đệ nhất các khoa thi Hương và thi Hội.