ITrước Khi Đọc
Trên những bức tường đá mani ở các làng theo Bön vùng núi Himalaya, trên hạt đeo cổ, trên xà cửa nhà, người ta khắc cùng một chuỗi tám âm: Om Ma Tri Mu Ye Sa Le Du. Với người Bön, đây là câu quen miệng nhất, được lần trên chuỗi hạt mỗi ngày, được tụng khi đi nhiễu tháp và núi thiêng, được đọc bên người sắp mất. Trong đạo Bön nó giữ một chỗ đứng gần giống chỗ của câu Om Mani Padme Hum trong Phật Giáo Tây Tạng, nhưng là một câu khác hẳn, với tám vị khác hẳn đứng sau tám âm của nó.
Người Bön gọi câu này gọn là Ma Tri, lấy theo hai âm thứ hai và thứ ba. Chữ Tạng của nó là ཨཱོཾ་མ་ཏྲི་མུ་ཡེ་སལེ་འདུ།, đọc theo lối phổ thông là Om Ma Tri Mu Ye Sa Le Du. Nó là một trong ba chân ngôn tâm yếu của Yungdrung Bön, mà các trung tâm Bön ở phương Tây quen gọi là Three Heart Mantras hay Three Essence Mantras. Theo buổi truyền pháp của vị Menri Trizin đời thứ ba mươi bốn được trung tâm Olmo Ling ghi lại, ba câu ứng với ba thân của bậc giác ngộ: Sa Le Ö là chân ngôn của Bön ku, thân chân lý, Ma Tri là chân ngôn của Dzog ku, thân viên mãn, và Du Tri Su là chân ngôn của Tul ku, thân hóa hiện.
Trang này bày cả ba câu trong một bảng toàn văn. Ma Tri đứng đầu vì đó là câu được tụng nhiều nhất, còn thứ tự theo ba thân mà truyền thống quen xếp thì Sa Le Ö đứng trước. Mỗi câu được chia theo từng âm hay từng cụm âm, vì chính truyền thống Bön giảng các chân ngôn này theo lối ấy.
Cần nói thẳng ngay từ đầu: những câu chú này không dịch được theo nghĩa câu. Các âm ma, tri, mu, ye không phải những chữ thường của tiếng Tạng ghép lại thành một mệnh đề. Mỗi âm được hiểu là chủng tự, tức âm hạt giống, của một vị giác ngộ hay của một phẩm tính. Vì thế hai cột tiếng Việt và tiếng Anh trong bảng không phải bản dịch, mà là lời thư viện tả nghĩa từng âm theo lời giảng của các thầy Bön. Phần phiên Wylie, tức lối chuyển tự học thuật, được ghi riêng trong mục giải nghĩa.
Thư viện trình bày để quý vị biết câu chú này là gì, người Bön hiểu nó ra sao và tụng nó lúc nào. Thư viện không đứng ra xác nhận công hiệu của câu chú, cũng không khuyên quý vị tụng.
Theo lời giảng của Bön, ba chân ngôn tâm yếu là phần cốt tủy trong giáo pháp của Tonpa Shenrab Miwoche སྟོན་པ་གཤེན་རབ་མི་བོ་ཆེ་, vị Phật mà người Bön quy y. Bài The Great Mantra of Yungdrung Bön trên trang Nine Ways của Raven Cypress Wood gọi Ma Tri là tinh chất chưng cất của cả tám vạn bốn nghìn pháp môn của ngài, và kể câu chú nằm trong một bản văn mà tác giả dịch tên là Ngọn Đèn Quý Lay Động Tận Đáy Luân Hồi. Dòng truyền được kể đi từ Tonpa Shenrab qua Mucho Demdrug, Mutsa Trahe, Drenpa Namkha rồi tới Tulku Loden Nyingpo và các thầy về sau. Theo cùng nguồn ấy, khác với nhiều mật chú phải được thầy trao riêng, Ma Tri là câu ai cũng có thể nghe, đọc và tụng.
Về phía sử liệu, chưa có tài liệu độc lập nào ngoài văn bản Bön định được câu chú này có từ bao giờ. Tonpa Shenrab được truyền thống đặt vào năm 16017 trước Công nguyên, và như trang trụ Đạo Bön của thư viện đã ghi, giới sử học chưa xác nhận được ngài là nhân vật lịch sử ở niên đại nào. Cái mốc có thể nắm được là tên Tulku Loden Nyingpo trong dòng truyền: đây là vị thầy thế kỷ 14 đã chép lại bộ tiểu sử Zijid. Có một chỗ lệch nhỏ đáng ghi, cùng trang Nine Ways có bài gọi ngài là người thế kỷ 13, có bài ghi mốc từ năm 1360.
Giới nghiên cứu cũng ghi nhận cấu trúc của Ma Tri rất gần câu sáu âm Om Mani Padme Hum của Phật Giáo Tây Tạng, vốn cũng được giảng theo lối mỗi âm ứng với một trong sáu cõi luân hồi. Như ở nhiều chỗ khác của Bön, người đọc theo sử học nêu khả năng hai truyền thống đã học hỏi lẫn nhau, còn người Bön coi câu chú của mình là có trước. Thư viện ghi cả hai cách nhìn và không phân xử.
Về mặt chữ, hai âm om ở đầu và svaha cuối câu Du Tri Su là những âm quen thuộc của truyền thống chân ngôn Ấn Độ, dùng chung cho cả Phật Giáo lẫn Bön. Các âm còn lại không phải chữ thường của tiếng Tạng, và nguồn gốc ngữ học của chúng chưa được giới ngữ học xác định.
IIToàn Văn Ba Chân Ngôn Tâm Yếu
Bảng dưới gồm mười chín câu. Câu 1 tới 7 là chân ngôn Ma Tri. Câu 8 tới 12 là chân ngôn Sa Le Ö, người ta cũng hay gọi theo mấy âm đầu là A Kar. Câu 13 tới 19 là chân ngôn Du Tri Su. Cột nguyên văn giữ đúng mặt chữ của hai nguồn Bön đã đối chiếu. Cột lối đọc ghi cách đọc phổ thông mà các trung tâm Bön dùng khi dạy người học bằng chữ Latinh. Hai cột nghĩa là lời tả của thư viện.
| Câu | Nguyên văn Tạng | Lối đọc phổ thông | Thư viện tả nghĩa | Tiếng Anh |
|---|---|---|---|---|
| 1 | ཨཱོཾ་ | Om | Om: âm của Tonpa Shenrab, bậc thầy khai đạo, mang phẩm tính phương tiện và lòng từ bi. | Om: the sound of Tonpa Shenrab, the founding teacher, carrying the quality of skillful means and compassion. |
| 2 | མ་ | Ma | Ma: âm của vị mẹ trí tuệ Sherab Chamma, mang phẩm tính trí tuệ và khoảng không rộng mở. | Ma: the sound of the wisdom mother Sherab Chamma, carrying the quality of wisdom and open space. |
| 3 | ཏྲི་ | Tri | Tri: âm của vị dẫn dắt cõi địa ngục, chuyển lòng sân hận thành lòng thương. | Tri: the sound of the guide of the hell realms, turning hatred into loving kindness. |
| 4 | མུ་ | Mu | Mu: âm của vị dẫn dắt cõi ngạ quỷ, chuyển lòng tham thành lòng rộng rãi. | Mu: the sound of the guide of the hungry ghost realm, turning greed into generosity. |
| 5 | ཡེ་ | Ye | Ye: âm của vị dẫn dắt cõi súc sinh, chuyển mê muội thành sáng suốt. | Ye: the sound of the guide of the animal realm, turning dullness into clear understanding. |
| 6 | སལེ་ | Sa Le | Sa Le: hai âm viết liền một chữ. Sa là vị dẫn dắt cõi người, chuyển ganh tị thành cởi mở. Le là vị dẫn dắt cõi a tu la, chuyển kiêu mạn thành an hòa. | Sa Le: two sounds written as one syllable. Sa is the guide of the human realm, turning envy into openness. Le is the guide of the demigod realm, turning pride into peace. |
| 7 | འདུ། | Du | Du: âm của vị dẫn dắt cõi trời, chuyển lười biếng thành tinh tấn, khép lại câu chú. | Du: the sound of the guide of the god realm, turning laziness into diligence, and the close of the mantra. |
| 8 | ཨ་ཨཱོཾ་ཧཱུཾ། | A Om Hung | A, Om, Hung: ba chủng tự mở đầu chân ngôn Sa Le Ö, chân ngôn của thân chân lý. | A, Om, Hung: the three seed syllables that open the Sa Le Ö mantra, the mantra of the body of truth. |
| 9 | ཨཱ་ཨ་དཀར་ | A A Kar | A, A Kar: bản thể nguyên sơ không đổi, sự sáng không dứt, và chữ kar nghĩa là trắng, chỉ việc gột sạch. | A, A Kar: the unchanging primordial ground, unceasing clarity, and kar, meaning white, the sign of purification. |
| 10 | སལེ་འོད་ | Sa Le Ö | Sa Le Ö: cái sáng vượt ngoài lời và ý niệm, chữ ö nghĩa là ánh sáng. | Sa Le Ö: a clarity beyond words and concepts, with ö meaning light. |
| 11 | ཨ་ཡང་ | A Yang | A Yang: tâm giác ngộ, và luồng khí trí tuệ làm tan các che chướng. | A Yang: the awakened mind, and the wind of wisdom that dissolves obscurations. |
| 12 | ཨཱོཾ་འདུ། | Om Du | Om Du: năm dòng giác ngộ và năm trí, rồi thu hết về một giọt tròn duy nhất. | Om Du: the five awakened families and the five wisdoms, gathered into a single sphere. |
| 13 | ཨ་དཀར་ | A Kar | A Kar: bản tính thanh tịnh của tâm, mở đầu chân ngôn Du Tri Su, chân ngôn của thân hóa hiện. | A Kar: the pure nature of the mind, opening the Du Tri Su mantra, the mantra of the emanation body. |
| 14 | ཨ་རྨད་ | A Me | A Me: mặt sáng tỏ của trí tuệ nguyên sơ. | A Me: the luminous aspect of primordial wisdom. |
| 15 | དུ་ཏྲི་སུ་ | Du Tri Su | Du Tri Su: ba cõi thấp, hay theo lời giảng khác là ba độc tham, sân, si, được gột sạch. | Du Tri Su: the three lower realms, or in another reading the three poisons of ignorance, hatred and attachment, made pure. |
| 16 | ནག་པོ་ | Nag Po | Nag Po: chữ nag po nghĩa là màu đen, chỉ nghiệp xấu và các che chướng. | Nag Po: nag po means black, standing for negative karma and obscurations. |
| 17 | ཞི་ཞི་ | Zhi Zhi | Zhi Zhi: làm lắng dịu, lắng dịu nỗi khổ của vòng luân hồi. | Zhi Zhi: to pacify, calming the suffering of cyclic existence. |
| 18 | མལ་མལ་ | Mal Mal | Mal Mal: đem lại tâm an lạc. | Mal Mal: bringing a mind of bliss. |
| 19 | སྭཧཱ། | So Ha | So Ha: âm khép lại chân ngôn, theo lời giảng Bön là dứt những thấy biết sai lệch. | So Ha: the closing sound of the mantra, which Bön teachers explain as ending mistaken views. |
IIIGiải Nghĩa Từng Âm
Phần dưới giảng bảy chữ của Ma Tri lần lượt từng chữ, rồi giảng hai chân ngôn kia theo từng cụm. Mỗi mục ghi thêm Wylie, tức lối chuyển tự học thuật chữ Tạng sang chữ Latinh do Turrell Wylie đặt ra, để quý vị phân biệt mặt chữ với cách đọc. Lời giải tổng hợp từ các trung tâm Bön đã dẫn trong phần nguồn. Chỗ các nguồn giảng khác nhau thì ghi thẳng ra, không chọn thay quý vị.
Âm mở đầu quen thuộc của rất nhiều chân ngôn ở Ấn Độ và trên cao nguyên Tây Tạng. Trong Ma Tri, cả Gyalshen Institute lẫn Yeru Bön Center đều gán âm này cho Tonpa Shenrab, bậc thầy khai đạo, với phẩm tính phương tiện và từ bi. Bài Protecting the Mind with Mantra trên trang Nine Ways nói gọn: hai âm đầu là chủng tự của một vị Phật nam và một vị Phật nữ, sáu âm sau là tiếng của sáu vị Phật dẫn chúng sinh ra khỏi khổ.
Về mặt chữ, hai nguồn Bön mà thư viện đối chiếu viết âm này là ཨཱོཾ, tức chữ a mang thêm nét a chung bên dưới, rồi dấu nguyên âm o và dấu mũi. Lối viết thông thường ngoài Bön là ཨོཾ, không có nét a chung. Hai lối đọc như nhau. Thư viện giữ đúng lối viết của hai nguồn Bön.
Về màu, Yeru Bön Center ghi âm Om màu trắng, còn bài The Great Mantra of Yungdrung Bön ghi màu ngũ sắc.
Âm của vị mẹ, đứng cặp với âm Om của vị cha. Gyalshen Institute và Yeru Bön Center gọi vị này là Sherab Chamma ཤེས་རབ་བྱམས་མ་, tên nghĩa là mẹ trí tuệ và lòng thương, với phẩm tính trí tuệ và khoảng không rộng mở. Bài The Great Mantra of Yungdrung Bön trên trang Nine Ways thì gọi vị mẹ ở chỗ này là Tükjé Jamma, tên nghiêng về lòng từ bi, và gán cho âm Ma phẩm tính trí tuệ nền tảng. Đây là chỗ các nguồn gọi tên khác nhau, thư viện ghi cả hai.
Chính vì hai âm Om và Ma là cha và mẹ, cha là phương tiện, mẹ là trí tuệ, mà người Bön hiểu hai âm đầu này như cái nền cho sáu âm sau. Từ cặp cha mẹ ấy hóa ra sáu vị, mỗi vị đi vào một cõi.
Âm đầu tiên trong sáu âm của sáu cõi. Các nguồn đều gán âm này cho Mucho Demdrug, vị dẫn dắt chúng sinh ở cõi địa ngục, gồm cả địa ngục nóng lẫn địa ngục lạnh. Phiền não gắn với cõi ấy là sân hận, và việc của âm này là chuyển sân hận thành lòng thương. Yeru Bön Center ghi màu tím, trang Nine Ways ghi màu tím pha giữa đỏ và lam.
Mucho Demdrug cũng là tên đứng thứ hai trong dòng truyền của chính câu chú mà người Bön kể, ngay sau Tonpa Shenrab. Các nguồn tiếng Anh viết tên này hơi khác nhau, có nơi Mucho Demdug, có nơi Mucho Demdruk.
Âm của Sangwa Ngangring, vị dẫn dắt cõi ngạ quỷ, tức loài quỷ đói trong lối phân chia sáu cõi. Phiền não của cõi ấy là tham muốn, và âm này được giảng là chuyển lòng tham thành lòng rộng rãi, sẵn sàng cho đi. Cả hai nguồn ghi màu đỏ. Tên vị này trong bản của Yeru Bön Center viết là Sanga Ngang Ring.
Âm của Tisang Rangzhi, vị dẫn dắt cõi súc sinh. Phiền não của cõi ấy là mê muội, sự tối tăm không thấy rõ, và âm này được giảng là chuyển mê muội thành trí sáng. Cả hai nguồn ghi màu xanh lam. Yeru Bön Center viết tên vị này là Tisane Rangzhi.
Đây là chỗ mặt chữ và cách đọc không trùng nhau. Khi đọc, sa và le là hai âm, và lời giảng gán cho hai vị khác nhau. Nhưng trong cả hai nguồn Bön thư viện đối chiếu, hai âm ấy viết liền thành một chữ སལེ, không có dấu chấm tách âm ở giữa. Vì thế câu Ma Tri đọc thành tám âm mà viết thành bảy chữ. Bảng toàn văn giữ nguyên chữ viết liền ấy làm một câu, và giải cả hai âm ở đây.
Sa là âm của Drajin Pungpa, vị dẫn dắt cõi người. Phiền não được gán cho cõi người trong lời giảng này là ganh tị, và âm Sa chuyển ganh tị thành sự cởi mở. Màu vàng.
Le là âm của Chegyal Parti, vị dẫn dắt cõi a tu la, loài bán thần hay tranh chấp. Phiền não của cõi ấy là kiêu mạn, và âm Le chuyển kiêu mạn thành an hòa. Yeru Bön Center ghi màu xám, trang Nine Ways ghi màu lam nhạt.
Âm cuối, của Yeshen Tsugphud, vị dẫn dắt cõi trời. Phiền não được gán cho cõi trời trong lời giảng Bön là lười biếng, sự an hưởng khiến người ta thôi gắng sức, và âm Du chuyển lười biếng thành tinh tấn vui vẻ. Cả hai nguồn ghi màu trắng.
Chữ Tạng འདུ có chữ a chung đứng trước, nên Wylie ghi là 'du với dấu phẩy trên ở đầu. Trong tiếng Tạng thường, gốc chữ 'du mang nghĩa tụ họp, gom lại. Một số thầy giảng dựa vào nghĩa ấy mà nói âm cuối gom cả câu chú lại, nhưng các nguồn thư viện tra chủ yếu giảng âm này theo vị Phật của cõi trời, nên thư viện chỉ nêu cách hiểu gom lại như một lối liên tưởng, không coi là nghĩa gốc.
Đây là chân ngôn Sa Le Ö, chân ngôn của Bön ku, thân chân lý. Trang CyberSangha của Ligmincha International gọi nó là chân ngôn ánh sáng trong, và nói nó gắn riêng với cái thấy Dzogchen, dành cho người thiền cần sự nâng đỡ để nhận ra bản tính của tâm mình. Trang Nine Ways tóm ý câu này bằng một lời nguyện ngắn: mong tôi nhận ra tâm tự nhiên của chính mình.
Ba âm đầu A Om Hung là ba chủng tự mở đầu. Các nguồn thư viện tra không giảng riêng ba âm này trong phần giải câu chú. Trong các truyền thống trên cao nguyên, bộ ba âm kiểu này thường gắn với ba cửa thân, khẩu, ý, nhưng cách gán âm nào cho cửa nào thì mỗi truyền thống một khác, nên thư viện không gán thay.
Dòng sau có chín chữ, và Gyalshen Institute gọi nó là chín âm sáng của thân chân lý, giảng lần lượt như sau. A dài là bản thể nguyên sơ không đổi, khoảng trống. A là sự sáng không dứt. Kar là gột sạch phiền não và nghiệp. Sa Le là vượt ngoài giới hạn của lời và ý niệm. Ö là vượt ngoài những che chướng của ý niệm và tâm bám nắm. A thứ ba là tâm giác ngộ, cái biết trùm khắp. Yang là luồng khí trí tuệ khởi động trí tuệ và gỡ che chướng. Om là năm dòng giác ngộ, năm trí, năm thân. Du gom hết về một, tức giọt tròn duy nhất mà Dzogchen Bön gọi là thigle nyagchig.
Có hai chữ trong câu này là chữ tiếng Tạng thường, nghĩa rõ: དཀར, Wylie dkar, nghĩa là trắng, và འོད, Wylie 'od, nghĩa là ánh sáng. Chữ sa le ở đây cũng viết liền như trong Ma Tri.
Đây là bốn âm mở đầu chân ngôn Du Tri Su, chân ngôn của Tul ku, thân hóa hiện. Chữ thứ tư viết là རྨད, Wylie rmad, nhưng đọc là me, vì trong tiếng Tạng chữ r đứng trên không phát ra thành tiếng, còn chữ d đứng cuối không đọc mà làm nguyên âm a đổi thành e. Người học bằng chữ Latinh nên thấy nhiều nơi ghi A Me hay A Mé.
Chỗ này các nguồn giảng theo hai lối. Gyalshen Institute và Yeru Bön Center giảng theo phẩm tính: A Kar là bản tính thanh tịnh của tâm, A Me là trí tuệ, mặt sáng tỏ của trí tuệ nguyên sơ. Bài Reversing Negativity with the DU TRI SU Mantra trên trang Nine Ways thêm một lớp nữa: bốn âm A, Kar, A, Me ứng với bốn vị giác ngộ chủ chốt của Bön là Đại Mẫu Satrig Ersang, Shenlha Ökar, Sangpo Bumtri và Tonpa Shenrab. Hai lối giảng không loại trừ nhau, một lối nói phẩm tính, một lối nói vị mang phẩm tính ấy.
Cụm Du Tri Su là chỗ đặt tên cho cả câu chú, và cũng là chỗ các nguồn giảng khác nhau rõ nhất. Yeru Bön Center và trang Nine Ways giảng là ba cõi thấp, tức địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh, và việc của cụm này là gột sạch khổ của ba cõi ấy. Gyalshen Institute lại giảng là ba phiền não gốc, tức si, sân và tham. Hai cách hiểu gần nhau, vì trong lối nhìn chung của Bön và Phật Giáo, ba phiền não ấy chính là cái đẩy chúng sinh xuống ba cõi thấp.
Nag Po là chữ tiếng Tạng thường, ནག་པོ, nghĩa là màu đen. Trong câu chú nó chỉ nghiệp xấu, những tiềm năng nghiệp và các che chướng. Cái đen đối với cái trắng của chữ kar ở đầu câu, như một cặp đặt sẵn trong chính mặt chữ.
Zhi Zhi là chữ tiếng Tạng ཞི, nghĩa là lắng dịu, lặp hai lần. Các nguồn giảng là làm lắng dịu khổ của vòng luân hồi. Mal Mal được giảng là đem lại tâm an lạc, tâm hỷ lạc.
So Ha là cách người Tạng đọc chữ svaha của truyền thống chân ngôn Ấn Độ, âm khép lại rất nhiều câu chú. Trong Du Tri Su, lời giảng Bön cho nó một việc cụ thể: dứt những thấy biết sai lệch và lối nghĩ phân biệt. Về mặt chữ, hai nguồn Bön viết སྭཧཱ liền một khối, không có dấu chấm tách âm, trong khi lối viết thường gặp ở nơi khác là སྭཱ་ཧཱ tách hai chữ. Thư viện giữ lối viết của hai nguồn Bön.
Theo Gyalshen Institute, vị chủ của pháp tu gắn với Du Tri Su là Shenlha Ökar, và dòng truyền của pháp tu ấy được kể từ Nyame Sherab Gyaltsen, vị lập tu viện Menri, xuống tới Kudun Sonam Lodro, vị viện chủ đời thứ hai mươi hai của Menri.
IVTám Âm, Tám Vị Và Sáu Cõi
Muốn hiểu vì sao người Bön tụng Ma Tri nhiều như vậy, cần thấy cái khung mà câu chú đặt lên. Tám âm chia làm hai phần. Hai âm đầu là cha và mẹ, phương tiện và trí tuệ. Sáu âm sau là sáu vị Phật dẫn dắt, mỗi vị đi vào một trong sáu cõi luân hồi để đưa chúng sinh ở đó ra. Tụng câu chú, theo lời giảng, là gọi đủ cả tám vị trong một hơi, và là gửi lòng tới chúng sinh ở cả sáu cõi.
Bảng dưới gom lời giảng của hai nguồn chính. Chỗ hai nguồn ghi màu khác nhau thì ghi cả hai.
| Âm | Vị gắn với âm | Cõi | Phiền não được chuyển | Màu theo hai nguồn |
|---|---|---|---|---|
| Om | Tonpa Shenrab, vị cha | Không riêng cõi nào, là nền | Phẩm tính phương tiện và từ bi | Trắng, hay ngũ sắc |
| Ma | Sherab Chamma, vị mẹ, có nguồn gọi Tükjé Jamma | Không riêng cõi nào, là nền | Phẩm tính trí tuệ và khoảng rộng | Đỏ, hay đỏ san hô |
| Tri | Mucho Demdrug | Địa ngục | Sân hận thành lòng thương | Tím, hay tím pha đỏ lam |
| Mu | Sangwa Ngangring | Ngạ quỷ | Tham muốn thành rộng rãi | Đỏ |
| Ye | Tisang Rangzhi | Súc sinh | Mê muội thành trí sáng | Xanh lam |
| Sa | Drajin Pungpa | Người | Ganh tị thành cởi mở | Vàng |
| Le | Chegyal Parti | A tu la | Kiêu mạn thành an hòa | Xám, hay lam nhạt |
| Du | Yeshen Tsugphud | Trời | Lười biếng thành tinh tấn | Trắng |
Có một chỗ đáng để ý khi đặt bảng này cạnh lối giảng sáu cõi quen thuộc ở nơi khác. Trong lời giảng Bön mà thư viện tra được, ganh tị được gán cho cõi người, kiêu mạn cho cõi a tu la, và lười biếng cho cõi trời. Người đã quen lối giảng thường gặp trong sách Phật Giáo, nơi cõi a tu la hay gắn với ganh tị và cõi trời hay gắn với kiêu mạn, sẽ thấy lệch. Đó là chỗ khác thật giữa các lối giảng, không phải lỗi chép. Thư viện ghi đúng theo nguồn Bön.
Tên sáu vị ở đây ghi theo lối đọc mà các trung tâm Bön dùng bằng chữ Latinh. Vì mỗi nơi phiên một kiểu, cùng một vị có khi được viết ba bốn cách, như Tisang Rangzhi hay Tisane Rangzhi, Sangwa Ngangring hay Sanga Ngang Ring. Thư viện không ghi chữ Tạng cho sáu tên này vì chưa đối chiếu được hai nguồn chữ Tạng đáng tin.
Ba chân ngôn, ba thân
Ma Tri không đứng một mình. Người Bön học nó cùng hai câu kia thành một bộ, và bộ ấy xếp theo giáo lý ba thân của bậc giác ngộ, một khung giáo lý Bön dùng chung tên gọi với Phật Giáo Tây Tạng nhưng đặt vào hệ thống của riêng mình.
Chân ngôn của Bön ku. Theo trang của Olmo Ling, câu này giúp người tu có tâm sáng rõ và gỡ chướng ngại trên đường tới toàn tri. Ligmincha International gắn nó với cái thấy Dzogchen.
Chân ngôn của Dzog ku. Theo Olmo Ling, nó có sức gỡ những điều kiện nghiệp khiến chúng sinh tái sinh vào sáu cõi. Trang Nine Ways gắn nó với cái thấy của mật thừa.
Chân ngôn của Tul ku. Theo Olmo Ling, nó gỡ chướng ngại và điều kiện của các cõi thấp, nâng đỡ việc chữa lành, và dẫn hương linh người đã mất tìm được an ổn. Trang Nine Ways gắn nó với cái thấy của kinh thừa.
Cũng theo trang Olmo Ling, ba câu được coi là tinh yếu giáo pháp của Tonpa Shenrab, trao cho người tu một pháp có sức giải thoát chỉ bằng việc nghe hay tụng, thấy hay chạm, hoặc quán tưởng về nó. Lối nói giải thoát nhờ nghe, nhờ thấy, nhờ chạm này giải thích vì sao câu chú được khắc lên đá, treo trên cửa, đeo trên người: người Bön tin rằng chính âm và chính mặt chữ đã mang sức của nó, không chỉ việc hiểu nghĩa.
VYungdrung, Tonpa Shenrab Và Chiều Đi Nhiễu
Người đi qua một làng Bön sẽ gặp câu Ma Tri cùng lúc với hai dấu hiệu khác: hình yungdrung གཡུང་དྲུང་ trên tường và trên bệ thờ, và dòng người đi vòng quanh tháp theo chiều ngược kim đồng hồ. Ba thứ ấy đi với nhau, nên mục này nói luôn cả ba, chỉ bằng chữ, không in hình.
Theo lời giảng của Bön, chữ yungdrung nghĩa là vĩnh cửu, bất hoại, không đổi. Các thầy Bön hay giải từng âm của chữ này: yung chỉ cái không sinh, drung chỉ cái không diệt. Chữ ấy có mặt ngay trong tên đạo, Yungdrung Bön, Bön vĩnh cửu. Hình yungdrung là chữ vạn với bốn cánh gập về cùng một phía, xoay ngược chiều kim đồng hồ, và được coi là biểu tượng của sự bền vững tuyệt đối của chân lý.
Tonpa Shenrab là vị mà cả câu Ma Tri mở đầu bằng âm của ngài. Theo các bộ tiểu sử Bön, ngài sinh ở vùng đất Olmo Lungring, trong cung điện phía nam núi Yungdrung Gutseg, ngọn núi chín tầng mà tên cũng mang chữ yungdrung. Với người Bön, ngài giữ đúng vị trí mà Đức Phật Thích Ca giữ trong Phật Giáo: một bậc đã giác ngộ trọn vẹn, là Phật của thời đại này.
Chỗ khác hẳn dấu hiệu của Đức Quốc Xã
Người lớn lên với sách lịch sử châu Âu thế kỷ 20 thường giật mình khi thấy hình chữ vạn trên tường tu viện Bön. Cần phân biệt bằng cái nhìn bình tĩnh, và phân biệt được bằng những chỗ cụ thể.
Thứ nhất là chiều xoay. Yungdrung của Bön xoay ngược chiều kim đồng hồ, khớp với chiều người Bön đi nhiễu. Dấu hiệu của Đảng Quốc Xã Đức gập cánh theo chiều kim đồng hồ.
Thứ hai là thế đặt. Yungdrung đặt thẳng, bốn cạnh song song hay vuông góc với mặt đất. Dấu hiệu kia dựng nghiêng bốn mươi lăm độ, đứng trên một đỉnh nhọn.
Thứ ba là khung cảnh. Yungdrung nằm trên tường tu viện, trên bệ thờ, trên vải trang trí, bên cạnh những câu chú như Ma Tri. Dấu hiệu kia tô đen, đặt trong vòng tròn trắng trên nền cờ đỏ, là biểu tượng của một đảng phái.
Thứ tư, và quan trọng nhất, là nghĩa. Chữ yungdrung mang nghĩa vĩnh cửu, bất hoại, và theo khảo cứu của nhà Tạng học Sam van Schaik trên các văn bản Đôn Hoàng mà trang trụ Đạo Bön của thư viện đã dẫn, nó đã là một chữ tiếng Tạng từ trước khi Phật Giáo tới cao nguyên, tức hơn một nghìn năm trước khi có đảng phái kia. Tiếng Đức gọi dấu hiệu của đảng ấy là Hakenkreuz, chữ thập có móc, một cái tên không liên quan gì tới chữ yungdrung.
Chuỗi hạt và vòng nhiễu ngược chiều
Người Bön đi vòng quanh tháp, quanh tu viện, quanh núi thiêng và hồ thiêng theo chiều ngược kim đồng hồ, giữ vật thiêng ở bên tay trái mình. Người Phật Giáo Tây Tạng đi theo chiều kim đồng hồ, giữ vật thiêng bên tay phải. Cối kinh xoay tay của người Bön cũng quay ngược chiều với cối kinh của người Phật Giáo. Chiều xoay của yungdrung và chiều đi nhiễu là một, nên hình ấy như một dấu chỉ đường cho người đi biết mình đang ở trong truyền thống nào. Ở núi Kailash, nơi cả hai truyền thống cùng hành hương, người Bön và người Phật Giáo đi ngược chiều nhau trên cùng một vòng đường.
Trong lúc đi nhiễu, người Bön thường lần chuỗi hạt và tụng Ma Tri. Theo trang Nine Ways, người tại gia tụng mỗi chân ngôn tâm yếu tối thiểu một trăm lẻ tám lần mỗi ngày, tức một vòng chuỗi. Con số một trăm lẻ tám là số hạt quen thuộc của chuỗi tràng ở cả Bön lẫn Phật Giáo trên cao nguyên. Thư viện chưa tra được nguồn đáng tin nói người Bön lần hạt theo chiều nào, nên không ghi điều ấy.
Về cái tên, nhà Tạng học Sam van Schaik ghi nhận rằng vào thế kỷ 11, Bön lấy chữ yungdrung làm trung tâm bản sắc của mình, và cái tên Yungdrung Bön ra đời từ đó. Chữ này không thuộc riêng bên nào từ đầu. Các dịch giả Phật Giáo thời trước từng mượn nó để dịch những khái niệm như thường hằng. Còn chiều xoay ngược của yungdrung và chiều đi nhiễu ngược là những dấu hiệu nhận diện được ghi nhận rộng rãi trong các khảo cứu về Bön, như trang trụ Đạo Bön của thư viện đã tổng thuật.
VITín Đồ Đọc Khi Nào Và Ra Sao
Ma Tri không có giờ tụng cố định như một thời kinh. Nó là câu người Bön mang theo suốt ngày, khi đi, khi làm việc tay chân, khi ngồi yên. Bài Protecting the Mind with Mantra trên trang Nine Ways viết rằng chân ngôn có thể tụng bất cứ lúc nào, ở bất cứ đâu, tụng ra tiếng, hay tụng thầm khi cần. Dưới đây là những khung cảnh người ta hay gặp câu chú này.
Người tại gia lần chuỗi và tụng từng chân ngôn tâm yếu, theo trang Nine Ways tối thiểu một trăm lẻ tám lần một ngày. Cùng nguồn ấy ghi rằng khi tụng thì tránh nói chuyện, ăn uống hay thở mạnh xen vào giữa.
Trong phần tu dự bị, người học tụng mỗi chân ngôn tâm yếu một trăm nghìn lần, theo bài The Three Essence Mantras of Yungdrung Bön trên trang Nine Ways. Bài về Du Tri Su cũng ghi con số tối thiểu một trăm nghìn lượt cho câu ấy.
Câu chú được khắc lên đá mani, lên xà cửa, lên hạt đeo cổ. Trang Nine Ways kể câu chú đặt trên cửa để ban phước, đeo làm bùa theo lối giải thoát nhờ chạm, và đặt ở đỉnh đầu người mới mất. Hạt đeo chạm tay mang câu Ma Tri, làm ở vùng Dolpo thuộc Nepal, vẫn được bán tới nay.
Trang Nine Ways ghi một lợi ích được kể trong truyền thống: tụng câu chú thành tiếng để mọi chúng sinh nghe được, vì người Bön tin ai nghe câu ấy đều được giải thoát. Câu chú cũng có nhiều giai điệu tụng khác nhau, như trang của Yeshe Sal Ling ở Áo ghi khi giới thiệu một khóa giảng về Ma Tri.
Du Tri Su là câu gắn nhiều nhất với việc này. Theo Olmo Ling, nó dẫn hương linh người đã mất tìm được an ổn. Trang Nine Ways dẫn lời Drenpa Namkha về việc dùng Du Tri Su cho người sắp mất. Tang lễ vốn là mảng Bön có truyền thống sâu nhất, như trang trụ Đạo Bön của thư viện đã ghi.
Ở tu viện và ở các trung tâm xa cao nguyên
Tu viện Menri སྨན་རི་ là trung tâm học thuật lớn nhất của Yungdrung Bön. Tu viện đầu tiên mang tên này được Nyame Sherab Gyaltsen lập năm 1405 ở vùng Tsang, và tu viện Menri ở Dolanji, bang Himachal Pradesh, Ấn Độ, dựng năm 1967, là nơi đào tạo học vị geshe của Bön hiện nay, theo các mốc mà trang trụ Đạo Bön của thư viện đã ghi. Chính tăng sĩ của Menri ở Dolanji đã thu âm cả ba chân ngôn tâm yếu, và mặt chữ Tạng trong nhan đề các bản thu ấy là một trong hai nguồn mà trang này đối chiếu. Các bản thu ấy cho nghe lối tụng có giai điệu của chính tăng sĩ tu viện.
Ở các trung tâm Bön lập cho người học phương Tây, lối trình bày có khác. Ligmincha International của Tenzin Wangyal Rinpoche giới thiệu ba chân ngôn qua các buổi giảng và tụng chung trực tuyến trên trang CyberSangha, và nhấn rằng tuy chân ngôn có nghĩa, cái quan trọng nhất là độ rung và tiếng vang của nó. Gyalshen Institute nhấn vào Du Tri Su như một pháp chữa lành. Các trung tâm như Olmo Ling tổ chức những buổi truyền ba chân ngôn do chính vị Menri Trizin giảng. Lối nhấn mỗi nơi mỗi khác, nhưng mặt chữ và thứ tự âm thì như nhau.
Thư viện tả những việc này như người quan sát. Tụng câu nào, tụng bao nhiêu, theo giai điệu nào là việc của mỗi thầy mỗi dòng, và người muốn biết nên hỏi ngay ở nơi mình tới.
VIINhững Chỗ Hay Hiểu Lầm
Vì Bön ít được biết tới ngoài vùng Himalaya, câu Ma Tri thường bị đọc qua lăng kính của những thứ quen hơn. Năm chỗ dưới đây là những chỗ lệch hay gặp nhất.
Hai câu có vai trò giống nhau và đều được giảng theo lối mỗi âm ứng với một cõi, nhưng khác hẳn về âm, về số âm và về các vị đứng sau. Ma Tri có tám âm, hai âm đầu là cha và mẹ, sáu âm sau là sáu vị Phật riêng của Bön. Chuyện ai học ai là câu hỏi giới sử học còn để ngỏ, và người Bön coi câu của mình là có trước.
Các âm ma, tri, mu, ye, sa, le không ghép lại thành một mệnh đề tiếng Tạng. Truyền thống giải từng âm như chủng tự của một vị hay một phẩm tính. Hai cột nghĩa trên trang này là lời tả từng âm, không phải bản dịch câu, và người nói Om Ma Tri nghĩa là một câu nào đó là đã đặt thêm vào.
Yungdrung đặt thẳng, xoay ngược chiều kim đồng hồ, mang nghĩa vĩnh cửu, và đã là chữ tiếng Tạng từ trước khi Phật Giáo tới cao nguyên. Dấu hiệu của Đảng Quốc Xã Đức dựng nghiêng, gập cánh theo chiều kim đồng hồ, và thuộc một thời, một nơi khác hẳn.
Chiều đi nhiễu ngược kim đồng hồ khớp với chiều xoay của yungdrung và là dấu nhận diện của truyền thống, không phải một cử chỉ đối nghịch. Ở núi Kailash, người Bön và người Phật Giáo đi ngược chiều nhau trên cùng một vòng đường.
Lời giảng Bön mà thư viện tra được gán ganh tị cho cõi người, kiêu mạn cho cõi a tu la và lười biếng cho cõi trời. Lối giảng hay gặp trong sách Phật Giáo thì thường gán ganh tị cho a tu la và kiêu mạn cho cõi trời. Đọc Ma Tri theo khung quen của nơi khác sẽ lệch đúng ở chỗ ấy.
?Hỏi Đáp Nhanh
Om Ma Tri Mu Ye Sa Le Du nghĩa là gì
Đây là chân ngôn Ma Tri, câu được tụng nhiều nhất của đạo Bön. Câu này không dịch được theo nghĩa câu, vì các âm không phải chữ thường của tiếng Tạng. Truyền thống giải từng âm: Om là Tonpa Shenrab, vị cha, phương tiện và từ bi, Ma là vị mẹ trí tuệ Sherab Chamma, còn Tri, Mu, Ye, Sa, Le, Du là sáu vị Phật dẫn dắt sáu cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, a tu la và trời, mỗi vị chuyển một phiền não của cõi mình.
Chân ngôn Ma Tri khác Om Mani Padme Hum thế nào
Hai câu giữ vai trò giống nhau trong hai truyền thống, đều là câu quen miệng nhất, đều khắc lên đá mani và lần trên chuỗi hạt, đều được giảng theo lối mỗi âm ứng với một cõi. Nhưng Om Mani Padme Hum có sáu âm và thuộc Phật Giáo Tây Tạng, còn Ma Tri có tám âm, hai âm đầu là cặp cha mẹ Tonpa Shenrab và Sherab Chamma, sáu âm sau là sáu vị Phật riêng của Bön. Giới sử học chưa định được bên nào có trước.
Ba chân ngôn tâm yếu của Bön là những câu nào
Là Sa Le Ö, Ma Tri và Du Tri Su, ứng với ba thân của bậc giác ngộ theo buổi truyền pháp của vị Menri Trizin đời thứ ba mươi bốn được Olmo Ling ghi lại. Sa Le Ö, mở đầu bằng A Om Hung, A A Kar, là chân ngôn của thân chân lý và gắn với Dzogchen. Ma Tri là chân ngôn của thân viên mãn. Du Tri Su, mở đầu bằng A Kar A Me, là chân ngôn của thân hóa hiện, hay dùng để gột sạch, chữa lành và cho người đã mất.
Người Bön tụng Ma Tri khi nào
Gần như lúc nào cũng được. Người Bön lần chuỗi hạt tụng câu này khi đi nhiễu tháp và núi thiêng theo chiều ngược kim đồng hồ, khi làm việc, khi ngồi yên. Theo trang Nine Ways của Raven Cypress Wood, người tại gia tụng tối thiểu một trăm lẻ tám lần mỗi ngày, còn người tu phần dự bị tụng đủ một trăm nghìn lần. Câu chú cũng được khắc lên đá mani, treo trên cửa, đeo trên người, và đọc bên người sắp mất.
Chữ vạn của Bön có liên quan tới biểu tượng Đức Quốc Xã không
Không. Hình yungdrung của Bön đặt thẳng, xoay ngược chiều kim đồng hồ, mang nghĩa vĩnh cửu, bất hoại, và là một chữ tiếng Tạng có từ trước khi Phật Giáo tới cao nguyên, tức hơn một nghìn năm trước khi có Đảng Quốc Xã. Dấu hiệu của đảng ấy dựng nghiêng bốn mươi lăm độ, gập cánh theo chiều kim đồng hồ, tô đen trong vòng tròn trắng trên nền đỏ. Hai thứ khác nhau về hình, về chiều, về nghĩa và về khung cảnh.