ITrước Khi Đọc
Trong mỗi thời cúng Tứ Thời tại Tòa Thánh Tây Ninh, Thánh thất Đô Thành hay bất kỳ ngôi thánh thất nào của Đạo Cao Đài, ngay sau khi toàn thể đạo tràng vừa dứt bài Kinh Đại La Thiên Đế (Ngọc Hoàng Kinh) và thực hiện nghi thức lạy ba lạy mười hai gật kính lễ Đức Chí Tôn, tiếng đờn cò, đờn kìm và nhịp song lang của ban nhạc lễ lại khoan thai dẫn vào ba khúc tán tụng nối tiếp nhau theo giọng Nam Xuân trong sáng. Đó là bộ ba Kinh Phật Giáo, Kinh Tiên Giáo và Kinh Nho Giáo, kết tinh sống động nhất của tôn chỉ Tam Giáo Quy Nguyên, Ngũ Chi Phục Nhứt ngay trong đời sống phụng vụ hằng ngày.
Nhìn lên lá cờ Đạo ba màu treo trước mọi thánh thất Cao Đài hay nhìn lên bức họa Tam Thánh và các tầng thờ trên Thiên Bàn, bất kỳ ai cũng nhận ra ba sắc màu biểu trưng cho ba dòng giáo lý lớn của phương Đông: màu Vàng của Phật Giáo (tượng trưng cho Từ Bi và Giác Ngộ), màu Xanh thiên thanh của Tiên Giáo (tượng trưng cho Thanh Tịnh và Vô Vi), và màu Đỏ son của Nho Giáo (tượng trưng cho Nhơn Nghĩa và Lễ Nhạc). Khi bước vào thời cúng, cấu trúc các bài kinh đi theo một trật tự thần học hết sức chặt chẽ: mở đầu bằng Kinh Niệm Hương và Khai Kinh để dâng năm nén hương tâm, tiếp đến là Kinh Đại La Thiên Đế tôn vinh Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế ở ngôi Thái Cực, rồi ngay lập tức tụng liên hoàn ba bài Kinh Phật Giáo, Kinh Tiên Giáo, Kinh Nho Giáo trước khi bước sang lễ dâng Tam Bửu (Hoa, Rượu, Trà) và đọc bài Ngũ Nguyện.
Vì sao vừa lễ Đức Thượng Đế xong, người tín đồ Cao Đài lại lạy liền cả Phật, Tiên lẫn Thánh Nho trong cùng một thời cúng? Câu trả lời nằm gọn trong tám chữ vàng khắc trên cổng tam quan và ghi ở trang đầu các bộ kinh: Tam Giáo Quy Nguyên, Ngũ Chi Phục Nhứt. Hai chữ Quy Nguyên nghĩa là trở về cùng một cội nguồn Thái Cực; còn hai chữ Phục Nhứt nghĩa là hợp nhất năm nhánh tu hành của nhân loại (gồm Nhơn Đạo, Thần Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo, Phật Đạo) thành một con đường tiến hóa tâm linh liên tục từ thấp lên cao, không còn chia rẽ hay bài bác lẫn nhau.
Trang chuyên khảo này trình bày trọn vẹn bốn mươi câu kinh và kệ tán quốc ngữ đang được lưu truyền rộng rãi để giảng nghĩa và hành trì tôn chỉ ấy (gồm mười hai câu tán Phật Giáo, mười hai câu tán Tiên Giáo, mười hai câu tán Nho Giáo và bốn câu kệ Ngũ Chi Đại Đạo), đồng thời đặt đối chiếu song song từng câu với ba bản văn biền ngẫu âm Hán Việt (Tam Giáo Bửu Cáo) trong ấn bản Tứ Thời Nhựt Tụng Kinh năm 1928 và Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo năm 1936 để người đọc nắm trọn cả mạch chữ Hán Việt cổ lẫn mạch thơ quốc ngữ dễ nhớ.
Theo giáo nghĩa nội tại của Đạo Cao Đài được ghi chép trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Pháp Chánh Truyền và Tân Luật, trong hai thời kỳ Phổ Độ trước (Nhứt Kỳ Phổ Độ và Nhị Kỳ Phổ Độ), vì phương tiện giao thông cách trở và căn cơ của mỗi dân tộc mỗi khác, Đức Chí Tôn đã chiết linh quang cho các bậc Đại Giác giáng trần mở ra ba mối đạo lớn là Phật Giáo, Tiên Giáo (Đạo Giáo) và Nho Giáo, cùng với năm chi đạo là Nhơn Đạo, Thần Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo và Phật Đạo. Qua hàng ngàn năm lịch sử, người đời sau đôi khi quên mất gốc chung nơi Thượng Đế và biến phương tiện giáo hóa thành rào cản phân biệt môn phái.
Bước sang thời kỳ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (khai mở năm Bính Dần 1926 tại Tây Ninh), năm châu bốn biển đã giao thương liền một dải, Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế đích thân dùng huyền diệu cơ bút gom cả Tam Giáo và Ngũ Chi về lại một mối. Trong trật tự tu chứng của Cao Đài, năm chi đạo tạo thành năm nấc thang hoàn thiện con người: tu trọn bổn phận làm người hiếu đễ trung tín là đắc Nhơn Đạo; đem tài sức phụng sự đất nước, bảo hộ dân lành là bước lên Thần Đạo; giữ tròn công bình bác ái, lập ngôn lập đức giữa đời là chứng bậc Thánh Đạo; thanh tịnh vô vi, luyện Tinh hóa Khí, luyện Khí hóa Thần thoát vòng sinh tử là đạt Tiên Đạo; và từ bi vô lượng, giác ngộ viên mãn hòa nhập cùng bản thể vũ trụ là chứng quả Phật Đạo. Cũng vì thế, mỗi khi tụng ba bài kinh Tam Giáo và lạy mỗi bài ba lạy chín gật (con số chín của Cửu Phẩm Thần Tiên), người tín đồ tự nhắc mình phải học đồng thời cả lòng Từ Bi của Phật, sự Thanh Tịnh của Tiên và đức Trung Thứ của Nho.
Xét theo sử liệu văn bản học tôn giáo, ba bài kinh tán tụng Tam Giáo trong nghi thức Cúng Tứ Thời Cao Đài có lịch sử truyền thừa trực tiếp từ truyền thống Tam Giáo Đồng Nguyên của các thiện đường Minh Sư Đạo và Minh Lý Đạo tại Nam Kỳ đầu thế kỷ hai mươi. Khi hai vị Đầu Sư Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt ấn hành quyển Tứ Thời Nhựt Tụng Kinh vào năm Mậu Thìn (1928), tiếp nối bởi quyển Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Kinh của Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh và bản in chuẩn Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo của Hội Thánh Tây Ninh năm 1936, ba bài kinh này được ghi nhận dưới hai hình thức bổ sung cho nhau:
Hình thức thứ nhất là ba bài văn biền ngẫu âm Hán Việt thuộc thể loại Bửu Cáo (tán dương công đức các Đấng Giáo Tổ), mở đầu lần lượt bằng Thích Ca Mâu Ni Văn Phật, Từ Bi Giáo Chủ, Nhiên Đăng Cổ Phật (bài Phật Giáo), Thái Thượng Đạo Quân, Huyền Diệu Lão Quân, Vô Cực Thánh Tổ (bài Tiên Giáo), và Khổng Thánh Tiên Sư, Văn Tuyên Vương Đạo, Đại Thành Chí Thánh (bài Nho Giáo). Hình thức thứ hai là hệ thống thơ quốc ngữ diễn nghĩa theo thể lục bát và thất ngôn được chư vị Tiền Khai và các Hội Thánh biên soạn để tín đồ bình dân không thông Hán học vẫn hiểu thấu nghĩa lý của từng câu kinh khi tụng niệm và học giáo lý.
IIToàn Văn Bốn Mươi Câu Kinh Tam Giáo Quy Nguyên Và Đối Chiếu Tam Giáo Bửu Cáo (1928, 1936)
Bảng kinh dưới đây trình bày trọn vẹn bốn mươi câu kinh và kệ tán theo đúng thứ tự hành lễ trong một thời cúng Tứ Thời: mở đầu bằng mười hai câu Kinh Phật Giáo (từ câu 1 tới câu 12), tiếp nối bởi mười hai câu Kinh Tiên Giáo (từ câu 13 tới câu 24), chuyển sang mười hai câu Kinh Nho Giáo (từ câu 25 tới câu 36), và khép lại bằng bốn câu Kệ Tán Ngũ Chi Đại Đạo (từ câu 37 tới câu 40). Ngay phía dưới bảng kinh là phần đối chiếu nguyên văn ba bản Bửu Cáo âm Hán Việt trong ấn bản năm 1928 và năm 1936 của Tòa Thánh Tây Ninh.
| Câu | Lời kinh tụng đọc | Nghĩa bằng lời thường | Tiếng Anh |
|---|---|---|---|
| 1 | Từ Bi Đạo cả, Mở cửa từ bi, | Đạo Phật lấy lòng Từ Bi làm gốc lớn, mở rộng cánh cửa thương yêu cứu khổ, | Supreme is the Way of Compassion, throwing wide the gate of loving-kindness and mercy, |
| 2 | Giác ngộ quần sanh đặng quy y. | đánh thức hết thảy muôn loài chúng sinh biết quay về nương tựa ngôi lành. | awakening all living beings so that they may return and take refuge. |
| 3 | Phổ độ chúng sanh thoát chốn mê đồ, | Rộng cứu vớt khắp chúng sinh thoát khỏi con đường mê lầm tăm tối, | Universally delivering sentient beings from the dark paths of delusion, |
| 4 | Hướng về Cực Lạc cõi vô vi. | cùng hướng tâm về cõi Cực Lạc thanh tịnh vượt ngoài vòng tạo tác. | guiding their hearts toward the unconditioned realm of Ultimate Bliss. |
| 5 | Kim thân lưỡng túc phước huệ viên minh, | Mình vàng Phật tổ vẹn toàn cả hai mặt Phước đức và Trí huệ sáng ngời, | His golden body is two-fold complete, radiantly perfected in both Merit and Wisdom, |
| 6 | Thuyết pháp tam thừa độ vạn linh. | tùy căn cơ thuyết giảng giáo pháp Ba Thừa để tế độ muôn loài linh giác. | expounding the Dharma of the Three Vehicles to liberate myriad conscious souls. |
| 7 | Bát chánh con đường đưa bến giác, | Tám nhánh đường chánh (Bát Chánh Đạo) là con thuyền đưa người sang bờ giác ngộ, | The Noble Eightfold Path is the vessel that ferries travelers to the shore of enlightenment, |
| 8 | Tứ đế chơn truyền giải nghiệp sinh. | bốn chân lý cao quý (Tứ Diệu Đế) trao truyền phép màu cởi mở nghiệp luân hồi. | and the true transmission of the Four Noble Truths unties the karmic bonds of birth and death. |
| 9 | Linh Sơn hội thượng diệu pháp liên hoa, | Trên hội Linh Sơn rạng ngời cành sen Diệu Pháp truyền trao chánh pháp nhãn tạng, | Upon the Vulture Peak assembly shone the Wondrous Lotus of the True Dharma, |
| 10 | Cứu khổ ban vui khắp gần xa. | trải lòng từ bi cứu nỗi khổ, ban niềm vui an lạc khắp chốn gần xa. | relieving suffering and bestowing peace across all realms near and far. |
| 11 | Quy mạng Thế Tôn Vô Thượng Giác, | Chúng con chí thành đem trọn tính mạng quy y Đấng Thế Tôn Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, | With our whole life we take refuge in the World-Honored One of Unsurpassed Awakening, |
| 12 | Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật Đà. | kính lễ Đức Thích Ca Mâu Ni Văn Phật cùng Đức Nhiên Đăng Cổ Phật. | homage to Śākyamuni Văn Phật and Ancient Buddha Dīpaṃkara. |
| 13 | Đạo cả vô vi, Thanh tịnh chơn truyền, | Đạo Tiên cao cả lấy phép Vô Vi và sự Thanh Tịnh tự nhiên làm mạch truyền chân chính, | Great is the Way of Non-Action, transmitting the true lineage of serene Purity, |
| 14 | Độ dẫn quần linh phản bổn nguyên. | dẫn dắt muôn loài linh giác quay trở về với bản thể gốc ban đầu. | guiding myriad souls to return to their primordial source. |
| 15 | Huyền Diệu Lão Quân khai đạo đức, | Đức Huyền Diệu Lão Quân (Thái Thượng Đạo Tổ) khai mở nền tảng Đạo và Đức, | The Mysterious Lord Laojun revealed the foundation of the Way and Its Virtue, |
| 16 | Năm ngàn lời ngọc để nhơn thiên. | để lại năm ngàn lời vàng ngọc trong Đạo Đức Kinh soi sáng cho cả người lẫn trời. | leaving behind five thousand jade words to illuminate both humankind and heaven. |
| 17 | Tinh Khí Thần hiệp luyện đơn thơ, | Hợp nhất ba báu Tinh, Khí, Thần trong thân tâm để kết luyện linh đơn bất tử, | Uniting Essence, Vital Breath and Spirit to refine the immortal elixir within, |
| 18 | Cỡi hạc xe mây dạo cõi bờ. | thoát xác phàm cưỡi hạc trắng, nương xe mây thong dong dạo khắp cõi trời. | transcending the mortal frame to ride white cranes and cloud-chariots across the cosmos. |
| 19 | Thượng thiện nhược thủy nuôi muôn loại, | Đức thiện cao nhất ví như dòng nước mềm mại âm thầm nuôi sống muôn loài, | Highest good is like water, quietly nourishing all ten thousand beings, |
| 20 | Không tranh không chấp giữ tâm sơ. | chẳng tranh giành, chẳng chấp trước để giữ trọn tấm lòng trong trẻo thuở ban đầu. | dwelling without contention or attachment to preserve the original childlike heart. |
| 21 | Hàm Cốc trao truyền kinh vạn đại, | Nơi cửa ải Hàm Cốc năm xưa Ngài trao lại bộ kinh báu lưu truyền muôn đời, | At Hangu Pass of old He entrusted the precious scripture for ten thousand generations, |
| 22 | Đâu Suất cung vàng rạng huyền cơ. | trên tầng trời Đâu Suất cung vàng vẫn chiếu rọi máy huyền vi hóa độ thế gian. | and from the golden Tuṣita Palace on high He directs the mysterious pivot of Heaven. |
| 23 | Quy mạng Đạo Tổ Vô Cực Chí, | Chúng con chí thành đem trọn lòng tin quy y Đức Đạo Tổ ngự cõi Vô Cực tối cao, | With our whole life we take refuge in the Supreme Patriarch of the Boundless Ultimate, |
| 24 | Nam mô Thái Thượng Đạo Quân Tôn. | kính lễ Đức Thái Thượng Đạo Quân, bậc Thánh Tổ của Tiên Giáo. | homage to the Most High Lord of the Way, Holy Ancestor of Taoism. |
| 25 | Văn Tuyên Vương Đạo, Đại Thành Chí Thánh, | Đạo lớn của Đức Văn Tuyên Vương, bậc Chí Thánh tập hợp trọn vẹn muôn đức lành, | The Kingly Way of Exalted Culture, the Supreme Sage of Great Completeness, |
| 26 | Khai hóa nhơn luân định kỷ cương. | mở mang giáo hóa đạo làm người và dựng lập kỷ cương trật tự cho xã hội. | illuminating human relationships and establishing moral order for society. |
| 27 | Tam Cương Ngũ Thường nền chánh giáo, | Lấy Ba Giềng (Tam Cương) và Năm Đức Thường Hằng (Nhơn, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín) làm nền móng chánh giáo, | Taking the Three Bonds and Five Constant Virtues as the foundation of orthodox teaching, |
| 28 | Tam Tùng Tứ Đức rạng gia đường. | lấy nếp lễ nghĩa và Bốn Đức (Công, Dung, Ngôn, Hạnh) làm rạng rỡ đạo nhà. | and moral harmony and the Four Virtues as the radiance of the family household. |
| 29 | Xuân Thu bút sắt phân tà chánh, | Ngòi bút chép sử Xuân Thu nghiêm minh phân định rõ ràng điều ngay lẽ phải với sự gian tà, | His iron brush in the Spring and Autumn Annals strictly distinguished uprightness from deceit, |
| 30 | Đại Học Trung Dung mở mối giềng. | hai sách Đại Học và Trung Dung vạch mở giềng mối tu dưỡng từ gốc tới ngọn. | while the Great Learning and Doctrine of the Mean opened the cardinal threads of cultivation. |
| 31 | Tu thân tề gia bình thiên hạ, | Khởi đầu từ sửa mình ngay chính, chăm lo gia đình hòa thuận rồi đem đạo trị nước giúp thiên hạ thái bình, | Beginning with self-cultivation and family harmony to bring peace to the whole world, |
| 32 | Trung thứ nhơn từ giữ đạo thiêng. | lấy lòng tận tụy hết mình (Trung) và sự bao dung suy bụng ta ra bụng người (Thứ) để giữ đạo trời. | upholding conscientiousness, reciprocity and benevolence to guard the sacred Way. |
| 33 | Muôn đời vạn thế tôn Sư biểu, | Trải qua muôn đời vạn kiếp nhân gian đều tôn kính Ngài làm bậc Thầy khuôn mẫu, | Honored across ten thousand generations as the Exemplary Teacher of All Ages, |
| 34 | Giúp nước an dân hưởng thái bình. | dẫn dắt người đời biết giúp nước yên dân để muôn nhà cùng hưởng cảnh thái bình. | guiding humanity to serve the nation and bring tranquil peace to the people. |
| 35 | Quy mạng Tiên Sư Hưng Nho Đạo, | Chúng con chí thành cúi đầu quy hướng về Đức Tiên Sư chấn hưng mối đạo Nho, | With our whole life we take refuge in the Foremost Teacher who revitalizes the Confucian Way, |
| 36 | Nam mô Khổng Thánh Chí Tôn Linh. | kính lễ Đức Khổng Thánh Tiên Sư, bậc Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn. | homage to the Supreme Sage Confucius, Celestial Worthy who Causes Confucianism to Flourish. |
| 37 | Tam Giáo từ xưa vốn một nhà, | Ba mối đạo lớn Phật, Tiên, Nho từ thuở xa xưa vốn sinh ra từ cùng một ngôi nhà Thái Cực, | From antiquity the Three Teachings of Buddha, Immortal and Sage have belonged to one family, |
| 38 | Ngũ Chi hiệp nhứt độ quần sanh. | năm nhánh đạo lớn hợp nhất lại làm một để rộng khắp tế độ muôn loài chúng sinh. | and the Five Branches reunite as one to save all living beings. |
| 39 | Nhơn Thần Thánh Đạo cùng Tiên Phật, | Từ bậc Nhơn Đạo, Thần Đạo, Thánh Đạo cho tới bậc Tiên Đạo và Phật Đạo, | From the Human, Deity and Saintly Ways up to the Ways of Immortals and Buddhas, |
| 40 | Vạn pháp quy nguyên dưới Ngọc Kinh. | muôn pháp môn đều quay về cùng một cội nguồn dưới tòa Bạch Ngọc Kinh của Đức Chí Tôn. | all ten thousand dharmas return to their single source beneath the White Jade Capital. |
Bảng đối chiếu nguyên văn ba bài Tam Giáo Bửu Cáo âm Hán Việt trong Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo (1936)
Trong quyển Tứ Thời Nhựt Tụng Kinh (1928) và Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo (1936) của Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh, ba bài kinh tán tụng Tam Giáo được in bằng thể biền văn âm Hán Việt (gọi là Tam Giáo Bửu Cáo) để tụng nối tiếp ngay sau bài Kinh Đại La Thiên Đế theo giọng Nam Xuân. Bảng dưới đây ghi lại nguyên văn âm Hán Việt của ấn bản năm 1936, đối chiếu với bản chữ Hán năm 1928 và phần diễn nghĩa trong bảng kinh trên.
| Tên bài và Nghi thức lạy | Nguyên văn âm Hán Việt (Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, 1936) | Đối chiếu dị bản năm 1928 và Chú giải từ vựng Hán Việt | Sự tương ứng với bốn mươi câu kinh diễn nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1. Kinh Phật Giáo (Bài Khen Ngợi Đức Nhiên Đăng Cổ Phật và Thích Ca Mâu Ni Văn Phật, tụng xong lạy 3 lạy 9 gật, niệm Nam mô Nhiên Đăng Cổ Phật hoặc Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật) | Thích Ca Mâu Ni Văn Phật, Từ Bi Giáo Chủ, Nhiên Đăng Cổ Phật, Vạn Thánh Chí Tôn, Tứ sanh chi Từ Phụ, Vạn loại chi Đạo Sư. Kim thân lưỡng túc, thuyết pháp tam thừa, tứ ân phổ báo, cửu hữu đồng quy. Đại Bi, Đại Nguyện, Đại Thánh, Đại Từ, Kim Liên Bảo Điện, Nhứt Thừa Chơn Giáo, Quy Mạng Nhiên Đăng Cổ Phật Vô Lượng Thọ Thế Tôn. | Bản năm 1928 ghi rõ hai tôn hiệu song hành: Thích Ca Mâu Ni Văn Phật (Giáo chủ cõi Ta Bà thời Nhị Kỳ) và Nhiên Đăng Cổ Phật (vị Cổ Phật thời Nhứt Kỳ thọ ký cho Đức Thích Ca). Cụm chữ Tứ sanh chi Từ Phụ chỉ người Cha lành của bốn loài sinh hóa (noãn, thai, thấp, hóa); Kim thân lưỡng túc chỉ bậc Phật viên mãn cả Phước lẫn Huệ. | Ứng trực tiếp với các câu 1 tới 12 trong bảng kinh: Từ Bi Đạo cả, Mở cửa từ bi... Kim thân lưỡng túc phước huệ viên minh, Thuyết pháp tam thừa độ vạn linh... Quy mạng Thế Tôn Vô Thượng Giác. |
| 2. Kinh Tiên Giáo (Bài Khen Ngợi Đức Thái Thượng Đạo Tổ, tụng xong lạy 3 lạy 9 gật, niệm Nam mô Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn) | Thái Thượng Đạo Quân, Huyền Diệu Lão Quân, Vô Cực Thánh Tổ, Đại Từ Đại Bi, Cứu khổ cứu nạn, Tam giới Thánh Sư, Quảng độ trầm luân. Đạo Đức Ngũ Thiên Ngôn, Thanh Tịnh Vô Vi Giáo, Xuất hàm quan nhi độ Tây Vực, Ngự Đâu Suất nhi chưởng Thiên Cơ, Đại Thánh, Đại Từ, Đại Bi, Đại Nguyện, Quy Mạng Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn. | Trong một số ấn bản Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, phần tán tụng Tiên Giáo còn lưu truyền câu mở đầu hệ Bửu Cáo Đạo Tạng: Đạo cả vô vi, Thanh tịnh chơn truyền, Thái Thượng Đạo Quân, Huyền Diệu Lão Quân. Cụm chữ Đạo Đức Ngũ Thiên Ngôn chỉ bộ Đạo Đức Kinh năm ngàn chữ trao lại ở ải Hàm Cốc (hàm quan). | Ứng trực tiếp với các câu 13 tới 24 trong bảng kinh: Đạo cả vô vi, Thanh tịnh chơn truyền... Huyền Diệu Lão Quân khai đạo đức, Năm ngàn lời ngọc để nhơn thiên... Hàm Cốc trao truyền kinh vạn đại, Đâu Suất cung vàng rạng huyền cơ. |
| 3. Kinh Nho Giáo (Bài Khen Ngợi Đức Khổng Thánh Tiên Sư, tụng xong lạy 3 lạy 9 gật, niệm Nam mô Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn) | Khổng Thánh Tiên Sư, Văn Tuyên Vương Đạo, Đại Thành Chí Thánh, Vạn Thế Sư Biểu, Đạo thống Thiên Địa, Đức phối Cổ Kim, San Thi Thơ nhi định Lễ Nhạc, Tác Xuân Thu nhi chánh Cương Thường, Tổ thuật Nghiêu Thuấn, Hiến chương Văn Võ, Đại Thánh, Đại Từ, Chí Công, Chí Chánh, Quy Mạng Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn. | Danh hiệu Văn Tuyên Vương là tước vương truy phong cho Đức Khổng Tử từ đời Đường Huyền Tông (năm 739), còn Đại Thành Chí Thánh Tiên Sư và Vạn Thế Sư Biểu là tôn hiệu thời Minh, Thanh và Việt Nam dùng tại Văn Miếu. Cụm Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn là tôn hiệu riêng của thiện đường Minh Sư và Cao Đài. | Ứng trực tiếp với các câu 25 tới 36 trong bảng kinh: Văn Tuyên Vương Đạo, Đại Thành Chí Thánh, Khai hóa nhơn luân định kỷ cương... Xuân Thu bút sắt phân tà chánh... Muôn đời vạn thế tôn Sư biểu, Quy mạng Tiên Sư Hưng Nho Đạo. |
| 4. Kệ Tán Ngũ Chi Đại Đạo (Tổng kết tôn chỉ Tam Giáo Quy Nguyên, Ngũ Chi Phục Nhứt) | Tam Giáo quy nguyên vạn cổ truyền, Ngũ Chi phục nhứt dưới cơ thiên: Nhơn, Thần, Thánh Đạo cùng Tiên, Phật, Hiệp một nhà chung hưởng phước hiền. | Được trích dẫn trong các bài Thánh Ngôn cơ bút năm 1926, 1927 và giáo trình Chú Giải Kinh Cúng Tứ Thời để giải thích trật tự năm chi đạo từ Nhơn Đạo, Thần Đạo, Thánh Đạo lên Tiên Đạo và Phật Đạo. | Ứng trực tiếp với bốn câu kết (câu 37 tới 40) trong bảng kinh: Tam Giáo từ xưa vốn một nhà, Ngũ Chi hiệp nhứt độ quần sanh, Nhơn Thần Thánh Đạo cùng Tiên Phật, Vạn pháp quy nguyên dưới Ngọc Kinh. |
IIIGiải Nghĩa Chi Tiết Mười Đoạn Kinh Và Hệ Thống Giáo Lý Tam Giáo, Ngũ Chi
Bốn mươi câu kinh trong bảng chính chia thành mười đoạn bốn câu (ba đoạn thuộc Kinh Phật Giáo, ba đoạn thuộc Kinh Tiên Giáo, ba đoạn thuộc Kinh Nho Giáo và một đoạn kết thuộc Kệ Ngũ Chi Đại Đạo). Mười mục giải nghĩa dưới đây phân tích từng thuật ngữ triết học, điển tích kinh điển và ý nghĩa tu học thực tiễn trong Đạo Cao Đài.
Bốn câu mở đầu của Kinh Phật Giáo xác lập ngay bản chất cốt lõi của nhà Phật trong lăng kính Tam Giáo Cao Đài: lấy Từ Bi làm tôn chỉ tối thượng (Phật giáo chủ Từ Bi). Hai chữ Từ Bi gồm Từ là năng dữ lạc (đem lại niềm vui và sự an lành cho muôn loài) và Bi là năng bạt khổ (nhổ tận gốc nỗi đau khổ của chúng sinh). Khi cánh cửa từ bi mở rộng, mục đích không dừng ở sự cứu giúp vật chất tạm thời mà là giác ngộ quần sanh đặng quy y, tức đánh thức tâm linh đang ngủ mê của muôn loài để họ quay về nương tựa nơi Tam Bảo và ánh sáng lương tâm.
Ở câu 3 và 4, hai chữ mê đồ chỉ con đường lầm lạc trong vòng luân hồi sinh tử do vô minh và tham dục dẫn dắt; đối lập với mê đồ là Cực Lạc cõi vô vi, tức cảnh giới giải thoát hoàn toàn thanh tịnh, tương ứng với tầng trời Niết Bàn và Cực Lạc Thế Giới trong vũ trụ quan Cao Đài.
Khổ thứ hai giải thích các thuật ngữ Phật học trọng yếu xuất hiện trong bản văn Hán Việt của Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo. Cụm từ Kim thân lưỡng túc lấy trực tiếp từ câu Kim thân lưỡng túc, thuyết pháp tam thừa của bài Kinh Phật Giáo năm 1936: Kim thân là thân sắc vàng ròng bất hoại với ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp của Đức Phật; còn lưỡng túc (nhiều người hay hiểu lầm là hai bàn chân) thực ra là thuật ngữ dịch nghĩa chữ Phạn Dvipadottama (Lưỡng Túc Tôn), nghĩa là đấng tôn quý đã viên mãn đầy đủ cả hai phần Phước đức và Trí huệ (phước huệ viên minh).
Ba chữ thuyết pháp tam thừa chỉ phương pháp giáo hóa uyển chuyển của Đức Phật qua ba cỗ xe (Thanh Văn Thừa, Duyên Giác Thừa và Bồ Tát Thừa) để cuối cùng hội nhập vào Nhứt Phật Thừa. Hai câu 7 và 8 tóm lược cốt tủy giáo lý nguyên thủy: Tứ Đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo) chỉ rõ nguyên nhân tạo nghiệp sinh tử, và Bát Chánh Đạo (Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định) là con thuyền thực hành đưa người tu sang bờ giác.
Khổ thứ ba khép lại phần Kinh Phật Giáo bằng điển tích Linh Sơn hội thượng (hội thuyết kinh trên núi Linh Thứu ở vương quốc Ma Kiệt Đà), nơi Đức Phật Thích Ca thuyết giảng kinh Diệu Pháp Liên Hoa khẳng định mọi chúng sinh đều sẵn có Phật tánh và đều sẽ thành Phật, đồng thời đưa nhành hoa sen vàng (niêm hoa vi tiếu) truyền tâm ấn cho tôn giả Ca Diếp.
Hai chữ Quy mạng ở câu 11 giữ nguyên thuật ngữ kết bài của các thiên Bửu Cáo trong Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo: Quy là quay về nương tựa, mạng là sinh mạng và huệ mạng; quy mạng là đem trọn cả cuộc đời và tâm linh phó thác theo chánh pháp. Trong nghi thức Cao Đài, khi tụng dứt bài Kinh Phật Giáo, người tín đồ hướng lên tầng cao nhất của hội thánh thiêng liêng nơi Đức Nhiên Đăng Cổ Phật và Đức Thích Ca Mâu Ni Văn Phật ngự trị, lạy ba lạy chín gật để ghi lòng tạc dạ hạnh từ bi hỷ xả.
Từ câu 13 tới câu 16, mạch kinh chuyển sang Kinh Tiên Giáo (ứng với sắc cờ màu Xanh thiên thanh) để tán dương Đức Thái Thượng Đạo Tổ (Thái Thượng Lão Quân, Lão Tử). Nếu Phật Giáo lấy Từ Bi làm cửa vào, thì Tiên Giáo lấy bốn chữ Thanh Tịnh Vô Vi làm chơn truyền cốt tủy. Trong triết lý Đạo học và giáo lý Cao Đài, Vô vi hoàn toàn không phải là ngồi yên không làm gì, mà là hành động thuận theo quy luật tự nhiên của Trời Đất, làm mọi việc thiện lành mà không xen lòng tư kỷ, không cưỡng cầu danh lợi để đưa linh hồn phản bổn hoàn nguyên (quay về bản thể thuần khiết ban đầu nơi Thái Cực).
Danh hiệu Huyền Diệu Lão Quân lấy nguyên văn từ bản in năm 1928 và 1936 (Thái Thượng Đạo Quân, Huyền Diệu Lão Quân, Vô Cực Thánh Tổ), tôn vinh ngôi vị hóa thân của Đạo từ trước khi có trời đất, đấng đã giáng sinh làm Lão Tử và viết lại năm ngàn lời ngọc (bộ Đạo Đức Kinh gồm tám mươi mốt chương, khoảng năm ngàn chữ) làm kim chỉ nam cho cả người và trời.
Khổ thứ năm nối kết phương pháp tu luyện nội đơn của Tiên Giáo với nghi thức phụng vụ hằng ngày của Đạo Cao Đài. Câu 17 Tinh Khí Thần hiệp luyện đơn thơ giải thích trực tiếp ý nghĩa của lễ dâng Tam Bửu trên Thiên Bàn: bông hoa tươi biểu trưng cho Tinh (thể xác trong sạch), chung rượu trắng biểu trưng cho Khí (hơi thở và nghị lực thanh cao), chén trà thơm biểu trưng cho Thần (tâm trí sáng suốt). Người tu Tiên Giáo trong cửa Cao Đài đem cả Tinh, Khí, Thần hợp nhất lại làm một (Tam Bửu quy nguyên) để kết thành thánh thai bất tử, thoát cảnh nặng nề của xác phàm như người tiên cưỡi hạc trắng, nương xe mây.
Hai câu 19 và 20 chuyển hóa câu danh ngôn nổi tiếng ở chương 8 Đạo Đức Kinh: Thượng thiện nhược thủy (Đức thiện bậc nhất giống như nước; nước khéo nuôi dưỡng vạn vật mà không tranh giành với ai, chịu ở chỗ thấp mà người đời không ưa, cho nên gần với Đạo). Nhờ giữ đức khiêm nhường không tranh không chấp ấy, người hành đạo giữ trọn được tâm sơ (tấm lòng xích tử hồn nhiên như trẻ thơ).
Khổ thứ sáu nhắc lại hai không gian lịch sử và siêu hình gắn liền với Đức Thái Thượng Đạo Tổ. Dưới cõi trần gian, đó là cửa ải Hàm Cốc (Hàm Cốc Quan), nơi Lão Tử khi cưỡi trâu xanh đi về phương Tây đã nhận lời thỉnh cầu của quan lệnh Doãn Hỷ mà dừng lại viết bộ Đạo Đức Kinh trao truyền cho muôn đời sau. Trên cõi siêu hình, đó là tầng trời Đâu Suất Cung (cung Đâu Suất trên tầng trời thứ ba mươi ba theo vũ trụ quan Đạo Giáo), nơi Thái Thượng Lão Quân ngự bên lò bát quái nắm giữ máy huyền vi chuyển hóa âm dương.
Câu 23 và 24 khép lại bài Kinh Tiên Giáo bằng lời quy mạng Đạo Tổ Vô Cực Chí và hồng danh Thái Thượng Đạo Quân. Khi tụng dứt bài này, đạo tràng lạy ba lạy chín gật kính lễ Đức Thái Thượng cùng Đức Lý Thái Bạch Đại Tiên (vị Giáo Tông Vô Vi của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ).
Từ câu 25 tới câu 28 mở đầu bài Kinh Nho Giáo (ứng với sắc cờ màu Đỏ son) bằng đúng tám chữ mở đầu đầy uy lực của bản Kinh Nho Giáo trong Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo (1936): Văn Tuyên Vương Đạo, Đại Thành Chí Thánh. Văn Tuyên Vương là tước vương tôn vinh vị vua không ngai lấy văn hóa và đạo đức để giáo hóa thiên hạ; còn Đại Thành Chí Thánh (rút từ câu tán của Mạnh Tử: Khổng Tử chi vị tập đại thành) ca ngợi bậc Chí Thánh đã gom góp và hoàn thiện trọn vẹn trí tuệ của các bậc thánh vương đời trước.
Trong phân công của Tam Giáo Cao Đài, nếu Phật Giáo lo phần giải thoát tâm linh và Tiên Giáo lo phần luyện tánh hàm dưỡng khí chất, thì Nho Giáo gánh vác trọng trách khai hóa nhơn luân định kỷ cương, tức xây dựng nền tảng đạo làm người (Nhơn Đạo và Thế Đạo) thông qua giềng mối xã hội và năm đức tính thường hằng là Nhơn, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín cùng bốn đức tính tốt đẹp trong gia đình là Công, Dung, Ngôn, Hạnh.
Khổ thứ tám điểm qua di sản kinh điển của Đức Khổng Tử và học phái Nho Gia được Đạo Cao Đài tiếp nhận vào Tân Luật và Thế Luật. Câu 29 Xuân Thu bút sắt phân tà chánh nhắc tới bộ kinh Xuân Thu do chính tay Khổng Tử biên soạn: mỗi chữ khen hay chê trong sách đều nghiêm cẩn như ngòi bút sắt để thưởng người trung nghĩa và răn kẻ loạn thần tặc tử. Câu 30 và 31 nhắc tới hai bộ sách Đại Học và Trung Dung trong bộ Tứ Thư, đặc biệt là lộ trình tám bước (Bát điều mục) lấy việc tu thân (sửa mình) làm gốc cho tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.
Câu 32 Trung thứ nhơn từ giữ đạo thiêng đúc kết câu nói nổi tiếng của Tăng Tử trong sách Luận Ngữ (thiên Lý Nhân): Phu Tử chi đạo, trung thứ nhi dĩ hỹ (Đạo của thầy ta chỉ gói gọn trong hai chữ Trung và Thứ mà thôi). Trung là hết lòng hết dạ không chút giả dối; Thứ là lấy lòng mình suy ra lòng người, điều gì mình không muốn thì chớ làm cho người khác.
Khổ thứ chín khép lại bài Kinh Nho Giáo bằng danh hiệu Vạn thế Sư biểu (bậc Thầy gương mẫu của muôn đời) và tôn hiệu đặc trưng của nghi thức Cao Đài: Quy mạng Tiên Sư Hưng Nho Đạo (trong bản Bửu Cáo năm 1936 là Quy mạng Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn). Bốn chữ Hưng Nho Thạnh Thế mang thông điệp thực tiễn sâu sắc: chấn hưng đạo lý Nho gia (lòng hiếu thảo, sự trung thực, lễ nghĩa và trách nhiệm công dân) chính là phương thuốc thiết thực nhất để làm cho thế gian trở nên hưng thạnh và thái bình.
Khi tụng dứt bài Kinh Nho Giáo, người tín đồ lạy ba lạy chín gật kính lễ Đức Khổng Thánh Tiên Sư cùng Đức Quan Thánh Đế Quân (vị Tam Trấn Oai Nghiêm đại diện cho Nho Giáo trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ).
Bốn câu thất ngôn cuối cùng (câu 37 tới 40) là bài Kệ Tán Ngũ Chi Đại Đạo, đóng vai trò chiếc chìa khóa tổng kết toàn bộ ba bài kinh trước đó. Câu 37 khẳng định Tam Giáo từ xưa vốn một nhà (Phật, Tiên, Nho đều do một Đấng Thượng Đế khai hóa như ba cành của một gốc cây đại thụ). Câu 38 và 39 mở rộng từ Tam Giáo sang Ngũ Chi Đại Đạo: Nhơn Đạo (đạo làm người lương thiện, đại diện bởi các bậc hiền triết), Thần Đạo (đạo trung nghĩa hộ quốc cứu dân, đại diện bởi Đức Khương Thái Công), Thánh Đạo (đạo bác ái hy sinh vì nhân loại, đại diện bởi Đức Chúa Giê-su và Đức Quan Thánh), Tiên Đạo (đạo thanh tịnh siêu thoát, đại diện bởi Đức Thái Thượng và Đức Lý Thái Bạch) và Phật Đạo (đạo từ bi giác ngộ viên mãn, đại diện bởi Đức Thích Ca và Đức Quan Âm).
Câu kết Vạn pháp quy nguyên dưới Ngọc Kinh đưa toàn thể người tụng trở về dưới ánh sáng Thiên Nhãn nơi Bạch Ngọc Kinh: khi ba mối đạo và năm chi đạo đã hợp nhất, người tu không còn thấy mình cao hơn hay tách biệt với người khác tôn giáo, mà nhận ra mọi con đường hướng thiện đều hội tụ về cùng một Đấng Cha Lành.
IVBiểu Tượng Tam Giáo Và Ngũ Chi Trong Kiến Trúc, Cờ Đạo Và Nghi Lễ Cao Đài
Trong Đạo Cao Đài, giáo lý Tam Giáo Quy Nguyên, Ngũ Chi Phục Nhứt không chỉ nằm trên trang giấy của ba bài kinh tụng hằng ngày, mà được mã hóa trực tiếp vào lá cờ Đạo, phẩm phục chức sắc, cách bài trí Thiên Bàn và kiến trúc của Tòa Thánh Tây Ninh cũng như mọi thánh thất trên khắp cả nước. Hiểu rõ hệ thống biểu tượng đối ứng này sẽ giúp người đọc thấy ngay vì sao ba bài Kinh Phật Giáo, Kinh Tiên Giáo, Kinh Nho Giáo luôn đi liền nhau như một chỉnh thể không thể tách rời.
| Mối đạo / Chi đạo | Giáo Tổ tối cao & Vị Tam Trấn Oai Nghiêm | Màu cờ Đạo, Phẩm phục & Lễ phẩm Tam Bửu | Tôn chỉ cốt lõi & Bài kinh tương ứng trong Cúng Tứ Thời |
|---|---|---|---|
| 1. Phật Giáo (tương ứng nhánh cao nhất là Phật Đạo trong Ngũ Chi) | Giáo Tổ: Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Đức Nhiên Đăng Cổ Phật. Vị Tam Trấn: Đức Quan Âm Như Lai (Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai). | Sắc màu: Màu Vàng (tượng trưng cho hành Thổ trung tâm và đức Từ Bi). Trong Cửu Trùng Đài ứng với Phái Thái (đạo phục màu Vàng đại diện Phật Giáo). Lễ phẩm đối ứng trên Thiên Bàn: Hoa tươi (Tinh). | Tôn chỉ: Từ Bi, Giác Ngộ, Phổ Độ. Tụng bài Kinh Phật Giáo (câu 1 tới 12), lạy 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm Nam mô Nhiên Đăng Cổ Phật. |
| 2. Tiên Giáo (tương ứng Tiên Đạo trong Ngũ Chi) | Giáo Tổ: Đức Thái Thượng Đạo Tổ (Lão Tử). Vị Tam Trấn kiêm Giáo Tông Vô Vi: Đức Lý Thái Bạch Đại Tiên (Trường Canh Lý Đại Tiên Trưởng). | Sắc màu: Màu Xanh thiên thanh (tượng trưng cho bầu trời thanh tịnh và đức Hòa Bình, Vô Vi). Trong Cửu Trùng Đài ứng với Phái Thượng (đạo phục màu Xanh). Lễ phẩm đối ứng: Trà thơm (Thần) và Rượu trắng (Khí). | Tôn chỉ: Thanh Tịnh, Vô Vi, Phản Bổn Hoàn Nguyên. Tụng bài Kinh Tiên Giáo (câu 13 tới 24), lạy 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm Nam mô Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn. |
| 3. Nho Giáo (bao hàm nền tảng Nhơn Đạo, Thần Đạo, Thánh Đạo) | Giáo Tổ: Đức Khổng Thánh Tiên Sư (Khổng Tử). Vị Tam Trấn: Đức Quan Thánh Đế Quân (Hiệp Thiên Đại Đế). Đại diện Thánh Đạo phương Tây: Đức Chúa Giê-su; đại diện Thần Đạo: Đức Khương Thái Công. | Sắc màu: Màu Đỏ son (tượng trưng cho nhiệt huyết nhập thế, Nhơn Nghĩa và Trung Thứ). Trong Cửu Trùng Đài ứng với Phái Ngọc (đạo phục màu Đỏ). Trên lá cờ Đạo ba màu Vàng, Xanh, Đỏ, ba sắc này nối liền nhau thành một dải. | Tôn chỉ: Nhơn Luân, Cương Thường, Trung Thứ, Tu Tề Trị Bình. Tụng bài Kinh Nho Giáo (câu 25 tới 36) và Kệ Ngũ Chi (câu 37 tới 40), lạy 3 lạy 9 gật. |
Trong cả bốn thời cúng Tý (23h tới 01h), Mẹo (05h tới 07h), Ngọ (11h tới 13h) và Dậu (17h tới 19h), sau khi đọc Kinh Niệm Hương, Khai Kinh và Kinh Đại La Thiên Đế (Ngọc Hoàng Kinh), đạo tràng tụng lần lượt Kinh Phật Giáo, Kinh Tiên Giáo và Kinh Nho Giáo trước khi dâng Tam Bửu.
Nếu Đức Chí Tôn được lạy ba lạy mười hai gật (con số 12 của Trời), thì khi tụng xong mỗi bài Kinh Phật Giáo, Kinh Tiên Giáo và Kinh Nho Giáo, người tín đồ hai tay bắt Ấn Tý lạy ba lạy, mỗi lạy ba gật cộng thành chín lạy (con số 9 của Cửu Phẩm Thần Tiên), mỗi gật niệm hồng danh vị Giáo Tổ của mối đạo đó.
Cùng với Kinh Đại La Thiên Đế, cả ba bài kinh Tam Giáo đều được tụng theo giọng Nam Xuân (thuộc hệ thống nhạc lễ cổ truyền Nam Bộ), với nhịp điệu khoan thai, sáng sủa và tôn nghiêm, tạo sự nâng đỡ hài hòa giữa lời văn biền ngẫu hoặc lục bát với tiếng đờn cò, đờn kìm và chuông trống Bát Âm.
Trên Thiên Bàn tại Tòa Thánh và các thánh thất, ngay dưới ngôi Thiên Nhãn của Đức Chí Tôn là hàng thờ Tam Giáo Đạo Tổ (Đức Phật Thích Ca ở giữa, Đức Lão Tử bên tả, Đức Khổng Tử bên hữu), hàng dưới là Tam Trấn Oai Nghiêm (Đức Lý Thái Bạch, Đức Quan Âm, Đức Quan Thánh) cùng Đức Chúa Giê-su và Đức Khương Thái Công đại diện trọn vẹn cho Ngũ Chi.
VNhững Chỗ Hay Hiểu Lầm
Khi đọc hoặc nghe tụng ba bài kinh Tam Giáo và tìm hiểu giáo lý Ngũ Chi Đại Đạo, người ngoài đạo hoặc người mới nghiên cứu thường gặp năm điểm dễ nhầm lẫn dưới đây.
Chữ túc trong Kim thân lưỡng túc không phải là bàn chân theo nghĩa đen, mà là chữ Túc mang nghĩa đầy đủ, viên mãn (dịch từ thuật ngữ Phạn ngữ Dvipadottama, tức Lưỡng Túc Tôn). Cả cụm từ ca ngợi bậc Phật có thân sắc vàng ròng và đã viên mãn trọn vẹn cả hai phần Phước đức lẫn Trí huệ.
Trong giáo lý Cao Đài phân chia ba thời kỳ Phổ Độ, Đức Nhiên Đăng Cổ Phật là vị Giáo Chủ Phật Đạo ở thời Nhứt Kỳ Phổ Độ (và là vị Cổ Phật đã thọ ký cho tiền thân Đức Thích Ca trong kinh điển Phật giáo), còn Đức Thích Ca Mâu Ni Văn Phật là vị Giáo Chủ Phật Đạo ở thời Nhị Kỳ Phổ Độ. Bài kinh tôn vinh cả hai Đấng để nối liền mạch truyền thừa của Phật Đạo từ thuở hồng hoang tới hiện tại.
Theo Pháp Chánh Truyền của Đạo Cao Đài, chữ Thái lấy từ hồng danh Thái Bạch Kim Tinh và Phật giáo nhưng chức sắc Phái Thái mặc đạo phục màu Vàng đại diện cho Phật Giáo; chữ Thượng lấy từ Thái Thượng Đạo Tổ, chức sắc Phái Thượng mặc đạo phục màu Xanh thiên thanh đại diện cho Tiên Giáo; còn chữ Ngọc lấy từ Ngọc Hoàng và Khổng Thánh, chức sắc Phái Ngọc mặc đạo phục màu Đỏ đại diện cho Nho Giáo.
Trong câu Đạo cả vô vi, Thanh tịnh chơn truyền, chữ Vô vi của Lão Tử và giáo lý Cao Đài nghĩa là hành động thuận theo đạo lý tự nhiên, làm việc thiện và phụng sự nhân sinh bằng cái tâm thanh tịnh không vụ lợi, không tranh quyền đoạt lợi, hoàn toàn không phải là ngồi không hay trốn tránh trách nhiệm xã hội.
Giáo lý Cao Đài phân biệt rất rõ: mỗi mối đạo trong Tam Giáo và mỗi nhánh trong Ngũ Chi đều có pháp môn và sứ mệnh lịch sử riêng biệt được tôn trọng nguyên vẹn (Phật dạy Từ Bi, Tiên dạy Thanh Tịnh, Nho dạy Trung Thứ). Quy nguyên là nhận ra cả ba dòng suối lớn ấy đều bắt nguồn từ một Đấng Tạo Hóa tối cao và cùng hướng con người về cái Thiện, từ đó xóa bỏ tâm lý kỳ thị tôn giáo để chung sống hòa bình.
?Hỏi Đáp Nhanh
Ba bài Kinh Phật Giáo, Kinh Tiên Giáo và Kinh Nho Giáo được tụng vào lúc nào trong nghi thức Cao Đài
Ba bài kinh tán tụng Tam Giáo được tụng nối tiếp nhau theo giọng Nam Xuân trong cả bốn thời cúng hằng ngày (Tý, Mẹo, Ngọ, Dậu) cũng như các kỳ lễ Sóc Vọng và Đại Đàn, đặt ngay sau bài Kinh Đại La Thiên Đế (Ngọc Hoàng Kinh) và ngay trước nghi thức dâng Tam Bửu (Hoa, Rượu, Trà) cùng bài Ngũ Nguyện.
Tam Giáo Quy Nguyên và Ngũ Chi Phục Nhứt trong Đạo Cao Đài có ý nghĩa là gì
Tam Giáo Quy Nguyên nghĩa là ba mối đạo lớn gồm Phật Giáo, Tiên Giáo (Đạo Giáo) và Nho Giáo đều quay về cùng một cội nguồn Thái Cực nơi Đức Chí Tôn. Ngũ Chi Phục Nhứt nghĩa là năm nhánh đạo gồm Nhơn Đạo, Thần Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo và Phật Đạo hợp nhất thành một lộ trình tu tiến liên tục từ đạo làm người hiếu nghĩa lên tới bậc giải thoát viên mãn.
Vì sao khi tụng xong mỗi bài kinh Tam Giáo, tín đồ Cao Đài lại lạy 3 lạy 9 gật
Trong lễ nghi Đạo Cao Đài, số gật đầu khi lạy tương ứng với ngôi vị thiêng liêng: Đức Chí Tôn được lạy 3 lạy 12 gật (con số 12 của Thập Nhị Khai Thiên, số riêng của Trời); còn Tam Giáo Đạo Tổ và chư Phật, Tiên, Thánh được lạy 3 lạy, mỗi lạy 3 gật cộng thành 9 lạy (con số 9 biểu trưng cho Cửu Phẩm Thần Tiên của Cửu Trùng Đài).
Cụm từ Kim thân lưỡng túc trong bài Kinh Phật Giáo có nghĩa là gì
Kim thân là thân Phật sắc vàng ròng thanh tịnh; còn lưỡng túc là thuật ngữ Hán Việt dịch từ chữ Phạn Dvipadottama (Lưỡng Túc Tôn), nghĩa là bậc tôn quý đã viên mãn trọn vẹn cả hai phần Phước đức và Trí huệ, chứ không phải là hai bàn chân theo nghĩa thông thường.
Ba màu Vàng, Xanh, Đỏ trên lá cờ Đạo Cao Đài liên hệ thế nào với ba bài kinh này
Ba dải màu trên lá cờ Đạo Cao Đài là biểu tượng trực quan của ba bài kinh Tam Giáo: màu Vàng ở trên cùng biểu trưng cho Phật Giáo (Từ Bi, Giác Ngộ, ứng với Phái Thái); màu Xanh thiên thanh ở giữa biểu trưng cho Tiên Giáo (Thanh Tịnh, Vô Vi, ứng với Phái Thượng); và màu Đỏ son ở dưới biểu trưng cho Nho Giáo (Nhơn Nghĩa, Cương Thường, ứng với Phái Ngọc).
Giữa bản Bửu Cáo năm 1936 và bản thơ quốc ngữ trong trang này có mối quan hệ gì
Bản in trong Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo năm 1936 của Tòa Thánh Tây Ninh giữ thể biền văn âm Hán Việt cổ (Tam Giáo Bửu Cáo: Thích Ca Mâu Ni Văn Phật... Thái Thượng Đạo Quân... Khổng Thánh Tiên Sư...), trong khi bản bốn mươi câu thơ lục bát và thất ngôn quốc ngữ chuyển tải trọn vẹn các danh hiệu và giáo nghĩa ấy sang vần điệu tiếng Việt để người đọc dễ thuộc, dễ hiểu khi học đạo.