Đứng trước số 100C đường Trương Định, quý vị thấy một mặt tiền hai ngọn tháp vươn lên khỏi hàng cây, phía dưới là một khối nhà dài sơn màu nhạt, cửa mở rộng, sân lát gạch chạy thẳng vào lòng đền. Trên bàn thờ cao nhất bên trong không có tượng, chỉ có một con mắt vẽ trên nền hình tròn. Đó là Thiên Nhãn, và đây là một ngôi đền của đạo Cao Đài.
Nhưng đây không phải Tòa Thánh Tây Ninh, cũng không trực thuộc Tòa Thánh Tây Ninh. Đạo Cao Đài từ những năm 1930 chia thành nhiều chi phái, mỗi chi phái có hội thánh riêng và tòa thánh riêng. Nơi này là trung ương của Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo, chi phái đông thánh sở vào hàng thứ nhì của đạo. Muốn đọc đúng ngôi đền thì trước hết phải đọc đúng cái tên ấy.
IĐấng Được Thờ Và Đường Tu Của Ban Chỉnh Đạo
Về đấng được thờ, Ban Chỉnh Đạo giữ nguyên nền chung của đạo Cao Đài. Ngôi cao nhất là Đức Chí Tôn, không tạc tượng, chỉ biểu thị bằng Thiên Nhãn. Danh xưng đầy đủ của đạo vẫn là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, chủ trương vẫn là quy nguyên Tam giáo và hiệp nhất Ngũ chi. Người từ Tây Ninh về đây dự lễ sẽ thấy phần lớn nghi thức là quen thuộc.
Cái khác nằm ở đường tu và ở cách hội thánh dạy người tu. Chữ chỉnh trong tên chi phái mang nghĩa sửa lại cho ngay, và ba điểm dưới đây là chỗ chữ ấy thành việc làm cụ thể.
Thứ nhất, Bát Quái Đài ở đây không đặt quả Càn Khôn. Ở Tây Ninh, Thiên Nhãn được vẽ trên một khối cầu lớn đặt giữa Bát Quái Đài. Ở Tòa Thánh Bến Tre, Thiên Nhãn được thờ trên thánh tượng chứ không đặt trên quả cầu. Đây là một khác biệt về bài trí ngôi thờ, không phải khác biệt về đấng được thờ.
Thứ hai, hội thánh không dùng cơ bút để truyền lệnh hành đạo. Từ khi lập chi phái, Đức Giáo Tông tự tay biên chép lời dạy thành văn bản rồi ban xuống cho tín đồ thi hành. Lý do mà chi phái tự trình bày là để lời dạy có văn bản gốc, có người chịu trách nhiệm, và không ai mượn đàn cơ mà nói thay. Đây là điểm khiến nếp hành chính đạo ở đây gọn và chặt hơn nhiều nơi khác.
Thứ ba, hội thánh mở tịnh trường. Tịnh trường là nơi người tu vào ở trong một kỳ hạn để giữ trai giới và công phu, tách khỏi việc nhà. Hội thánh chia người tu thành bậc trung và bậc thượng, và kỳ trai giới dài ngắn theo phẩm vị, từ ba mươi sáu ngày cho tới một trăm lẻ tám ngày. Con số một trăm lẻ tám là bội của chín, con số vốn nặng nghĩa trong hệ thống của đạo Cao Đài.
Về mặt khảo được, Ban Chỉnh Đạo được lập ngày 20 tháng 11 năm 1934 tại chính ngôi thánh thất An Hội này. Theo tư liệu của chi phái, đại hội lập đạo khi ấy quy tụ khoảng một nghìn ba trăm người, đại diện cho tám mươi lăm họ đạo trải mười tám tỉnh. Tháng 2 năm 1935, ngài Nguyễn Ngọc Tương, đạo hiệu Thượng Tương Thanh, được tôn lên ngôi Giáo Tông. Trong hai năm sau đó, ngôi thánh thất lá cũ được thay bằng công trình bê tông cốt thép mà quý vị thấy hôm nay. Đầu năm 1938, hội thánh tổ chức một kỳ lễ hợp nhất kéo dài hơn một tuần, sau đó danh xưng chính thức trở lại là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
Chỗ hay hiểu lầm thứ nhất là nghĩ rằng nói đạo Cao Đài tức là nói Tòa Thánh Tây Ninh. Thực tế, đạo Cao Đài hiện có nhiều hội thánh độc lập với nhau, mỗi hội thánh một tòa thánh, một hiến chương và một hệ thống thánh sở riêng. Ban Chỉnh Đạo là một trong số đó, với hệ thống thánh sở trải rất rộng ở Nam Bộ.
Chỗ hay hiểu lầm thứ hai là coi việc chia chi phái như một chuyện hơn thua. Thư viện không đứng về bên nào và không xếp bên nào cao hơn bên nào. Điều có thể ghi bằng giọng sử liệu chỉ là: các chi phái khác nhau ở cách bài trí ngôi thờ, ở cách truyền lệnh hành đạo, ở tổ chức tu học, và mỗi bên đều tự coi mình giữ đúng nền của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
Chỗ thứ ba nhỏ hơn: bốn chữ Hán ở đầu trang này là phiên chữ của danh xưng chi phái do thư viện dựng lại cho bạn đọc quen mặt chữ, không phải chép từ một tấm hoành phi trong đền.
IITừ Ngôi Thánh Thất Lá Tới Tòa Thánh
Ngôi đền hôm nay là lớp thứ hai dựng trên cùng một mảnh đất. Lớp thứ nhất là một ngôi thánh thất lợp lá, dựng khi vùng An Hội mới có người nhập môn. Lớp thứ hai là công trình bê tông cốt thép, dựng khi nơi này đã thành trung ương của một hội thánh.
- 1928Dựng thánh thất An HộiNgôi thánh thất đầu tiên trên mảnh đất này được dựng bằng vật liệu nhẹ, mái lá, do bổn đạo trong vùng góp công góp của.
- 1934Lập Ban Chỉnh ĐạoNgày 20 tháng 11, đại hội lập đạo được tổ chức tại chính ngôi thánh thất này, theo tư liệu của chi phái có khoảng một nghìn ba trăm người của tám mươi lăm họ đạo thuộc mười tám tỉnh về dự.
- 1935Tôn ngôi Giáo Tông và xây lại đềnTháng 2, ngài Nguyễn Ngọc Tương được tôn lên ngôi Giáo Tông. Cùng năm, ngôi thánh thất lá được dỡ để xây lại bằng bê tông cốt thép, thành ngôi Tòa Thánh mà quý vị thấy hôm nay.
- 1938Kỳ lễ hợp nhấtĐầu tháng 1, hội thánh tổ chức một kỳ lễ hợp nhất kéo dài hơn một tuần, sau đó dùng lại danh xưng Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ cho toàn chi phái.
- 2017Xếp hạng di tích cấp tỉnhTháng 6, công trình được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Hồ sơ ghi diện tích khuôn viên là 7.015,1 mét vuông.
Một điều đáng ghi về cách dựng đền: theo tư liệu của chi phái, phần lớn nhân công là tín đồ tới làm công quả, tức làm không lấy tiền công, và vật liệu phần nhiều do bổn đạo các họ đạo trong vùng góp lại. Đây là lối dựng đền quen của đạo Cao Đài thời kỳ đầu, và nó giải thích vì sao nhiều ngôi tòa thánh của các chi phái phải xây trong nhiều năm chứ không dựng một mạch.
IIIHai Ngọn Tháp Và Thiên Phong Đường
Khuôn viên hơn bảy nghìn mét vuông nằm gọn giữa khu phố, không có núi non hay đồng ruộng làm nền, nên toàn bộ ấn tượng của công trình dồn vào mặt tiền. Mặt tiền ấy dựng theo lối quen của đền thờ Cao Đài: một khối giữa nhô cao, hai bên là hai ngọn tháp vuông.
Tháp bên trái gọi là ngọc cổ, tức lầu trống. Tháp bên phải gọi là kim chung, tức lầu chuông. Trống và chuông là hai nhạc khí mở đầu và khép lại thời cúng, nên hai ngọn tháp không chỉ là trang trí mà là một phần của nghi thức.
Gian dài chạy từ cửa vào tới ngôi thờ trong cùng, nền nâng dần từng cấp theo lối chia ba đài của đạo Cao Đài. Tín đồ hành lễ xếp chỗ theo phẩm vị và theo giới, nam một bên nữ một bên.
Đặt ở phần trong cùng, thờ Thiên Nhãn. Bàn thờ và các bao lam chung quanh chạm trổ rồi sơn son thếp vàng, theo lối chạm gỗ truyền thống của thợ Nam Bộ.
Dãy nhà phía sau Đền Thánh, là nơi làm việc và hội họp của hàng chức sắc. Chữ thiên phong chỉ người đã thọ phong phẩm vị trong đạo, nên tên gọi cho biết đúng công năng của dãy nhà này.
Sân lát gạch chạy dài trước mặt đền, hai bên là các dãy nhà dùng cho việc tiếp bổn đạo các nơi về dự lễ và cho các ban trong đạo.
Chi tiết đáng nhìn kỹ nhất trong lòng đền là phần chạm gỗ sơn son thếp vàng ở các bàn thờ. Hồ sơ di tích nhắc riêng phần này, và nó cho thấy một điều về lịch sử nghề: khi đạo Cao Đài dựng đền ở Nam Bộ những năm 1930, thợ chạm được mời tới là thợ đang làm đình chùa, nên vốn nghề đình chùa đi thẳng vào một ngôi đền của một tôn giáo vừa ra đời chưa đầy mười năm. Cái mới của giáo lý và cái cũ của tay nghề gặp nhau ngay trên một tấm bao lam.
Nhiều người lần đầu tới đây tìm quả Càn Khôn vì đã quen hình ảnh ở Tây Ninh, rồi không thấy nên tưởng ngôi đền còn thiếu. Không phải thiếu. Việc Bát Quái Đài không đặt quả Càn Khôn là một chọn lựa về bài trí ngôi thờ của chi phái này, có từ khi lập đạo chứ không phải do chưa làm kịp.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong hồ sơ di tích hay trong kinh sách của đạo. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải. Người dựng ngôi đền này làm theo giáo lý của đạo mình, không theo sách địa lý.
Điều đầu tiên một con mắt phong thủy sẽ đọc ở đây là thế đất giữa phố. Khuôn viên hơn bảy nghìn mét vuông nằm lọt trong khu dân cư của một thành phố ven sông, bốn bề là nhà cửa và đường sá. Sách địa lý gọi thế này là thị tỉnh chi địa, tức đất giữa chợ búa. Đất ấy vốn bị coi là khí động, không tĩnh. Nhưng chính vì thế mà cách bố trí ở đây trở nên có lý: sân rộng lát gạch trải trước mặt đền, tường bao khép quanh khuôn viên, hai lớp ấy làm thành một vùng lặng, tách nhịp phố ra khỏi nhịp thờ tự. Trong phép xem đất, khoảng sân này giữ vai trò minh đường, chỗ tụ khí trước mặt công trình.
Thứ hai là trục dọc. Từ cổng vào tới ngôi thờ trong cùng là một đường thẳng, nền nâng dần từng cấp. Đây là bố cục chung của đền thờ Cao Đài, và đọc theo lối cổ truyền thì gọi là tiến khí thăng cấp: khí đi vào theo một lối duy nhất, mỗi lần qua một lớp lại được nâng lên một bậc, thay vì tản ra bốn phía. Hai ngọn tháp hai bên mặt tiền, xét theo hình thể, đóng vai tả phụ hữu bật, tức hai tay đỡ hai bên cho khối giữa không trơ trọi.
Thứ ba là vùng nước. Bến Tre là đất cù lao giữa các nhánh sông Cửu Long, nước bao bốn phía ở tầm rộng. Trong phép xem đất, nước là thứ tụ khí và giữ khí. Một ngôi đền dựng trên đất cù lao thì không cần tìm minh đường xa, vì cả vùng đã là minh đường. Đổi lại, đất trũng và nền yếu buộc người xây phải lo phần móng trước phần mái, và đó là một trong những lý do khiến việc thay ngôi thánh thất lá bằng công trình bê tông cốt thép năm 1935 là một việc lớn chứ không phải một lần sửa chữa nhỏ.
Cuối cùng là quan hệ giữa Đền Thánh và Thiên Phong Đường. Nhà làm việc của chức sắc đặt phía sau ngôi thờ chứ không đặt trước hay đặt ngang. Đọc theo lối cổ truyền, phần thiêng đứng trước, phần việc đứng sau, thì gọi là tôn ty phân minh, tức trên dưới rõ ràng. Cách sắp ấy hợp với chính điều mà chi phái này coi trọng: lời dạy có văn bản, việc đạo có người chịu trách nhiệm, và không phần nào lấn lên phần thờ tự.
VLễ Và Nếp Tu
Nếp thường ngày ở đây là cúng tứ thời, tức bốn thời cúng trong một ngày đêm theo lối chung của đạo Cao Đài. Trong năm có mấy kỳ đại lễ mà bổn đạo các họ đạo cùng về Tòa Thánh, và có kỳ tịnh trường dành cho người tu bậc trung bậc thượng.
| Ngày âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 9 tháng Giêng | Vía Đức Chí Tôn | Đại lễ đầu năm, kỳ lễ lớn nhất trong năm của đạo. Bổn đạo nhiều nơi về Tòa Thánh hành lễ. |
| Rằm tháng Giêng | Lễ Thượng Nguơn | Kỳ nguơn đầu trong ba kỳ nguơn của một năm hành đạo. |
| Rằm tháng Bảy | Lễ Trung Nguơn | Kỳ nguơn giữa năm, gắn với việc cầu siêu và báo hiếu. |
| Rằm tháng Tám | Vía Đức Phật Mẫu | Lễ dâng lên Đức Phật Mẫu, tức ngôi Mẹ trong hệ thống thờ tự của đạo Cao Đài. |
| Rằm tháng Mười | Lễ Hạ Nguơn | Kỳ nguơn cuối, khép lại vòng lễ tiết của một năm hành đạo. |
| Theo kỳ hạn | Nhập tịnh trường | Kỳ trai giới và công phu trong tịnh trường, dài từ ba mươi sáu tới một trăm lẻ tám ngày tùy phẩm vị của người tu. |
Về ăn chay, tín đồ Cao Đài giữ chay theo kỳ, thấp nhất là sáu ngày trong tháng, lên dần tới mười ngày, rồi trường chay đối với người thọ phẩm vị và người vào tịnh trường. Ở Ban Chỉnh Đạo, việc giữ chay gắn chặt với bậc tu: muốn vào tịnh trường bậc nào thì phải giữ được kỳ trai giới của bậc ấy.
Trong các kỳ lễ, chức sắc mặc lễ phục theo phẩm vị và theo phái, còn tín đồ mặc áo dài trắng. Ba màu vàng, xanh và đỏ của phẩm phục ứng với ba phái trong hàng chức sắc, theo lối chung của đạo Cao Đài.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Số 100C đường Trương Định, phường 6 thành phố Bến Tre cũ, tỉnh Vĩnh Long
- Đường tới
- Nằm ở số 100C đường Trương Định, thuộc khu vực phường 6 thành phố Bến Tre cũ, nay thuộc tỉnh Vĩnh Long. Vị trí ở trong nội thị, đi bộ được từ khu trung tâm.
- Toạ độ
- 10.2411, 106.3687
Đây là nơi hành đạo đang hoạt động chứ không phải công trình bảo tàng, nên lệ của nơi ấy là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc: bỏ giày dép trước khi vào lòng đền, ăn mặc kín đáo, nam đi cửa bên này và nữ đi cửa bên kia theo chỉ dẫn tại chỗ, đi nhẹ và không nói chuyện trong lúc đang cúng. Người không phải tín đồ vẫn được vào xem, nhưng đứng ở khu vực dành cho khách chứ không đứng lẫn vào hàng người đang hành lễ. Việc chụp ảnh trong lòng đền xin hỏi người trực ở cửa trước khi giơ máy.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tòa Thánh Bến Tre
Contribute photos, information or video for Ben Tre Holy See of Cao Dai Ban Chinh DaoThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Tòa Thánh Bến Tre thờ ai
Thờ Đức Chí Tôn, tức Đấng Tối Cao theo giáo lý đạo Cao Đài, biểu thị bằng Thiên Nhãn chứ không tạc tượng. Trong đền còn có các bàn thờ dành cho những đấng thuộc nhiều truyền thống, xếp theo thứ bậc do giáo lý của đạo quy định. Đây là trung ương của Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo.
Cao Đài Ban Chỉnh Đạo khác Cao Đài Tây Ninh chỗ nào
Khác ở ba điểm rõ. Bát Quái Đài ở đây không đặt quả Càn Khôn. Hội thánh không dùng cơ bút để truyền lệnh hành đạo mà biên chép lời dạy thành văn bản rồi ban xuống. Hội thánh mở tịnh trường cho người tu bậc trung bậc thượng, với kỳ trai giới từ ba mươi sáu tới một trăm lẻ tám ngày tùy phẩm vị.
Ban Chỉnh Đạo lập năm nào và ai lập
Lập ngày 20 tháng 11 năm 1934 tại chính ngôi thánh thất An Hội ở Bến Tre. Ngài Nguyễn Ngọc Tương, đạo hiệu Thượng Tương Thanh, được tôn lên ngôi Giáo Tông vào tháng 2 năm 1935.
Tịnh trường trong đạo Cao Đài là gì
Là nơi người tu vào ở trong một kỳ hạn để giữ trai giới và công phu, tách khỏi việc nhà. Ở Ban Chỉnh Đạo, tịnh trường dành cho người tu bậc trung và bậc thượng, kỳ trai giới dài ngắn theo phẩm vị, từ ba mươi sáu ngày cho tới một trăm lẻ tám ngày.
Đạo Cao Đài có mấy tòa thánh
Đạo Cao Đài hiện có nhiều hội thánh độc lập với nhau, mỗi hội thánh một tòa thánh riêng, một hiến chương riêng và một hệ thống thánh sở riêng. Ngoài Tòa Thánh Tây Ninh còn có Tòa Thánh Bến Tre của Ban Chỉnh Đạo, Tòa Thánh Châu Minh của Tiên Thiên, Tòa Thánh Định Tường của Chơn Lý, Tòa Thánh Ngọc Sắc của Minh Chơn Đạo và Trung Hưng Bửu Tòa của Hội Thánh Truyền Giáo.