VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Nhà thờ Tin Lành Đà Lạt

Nhà thờ Hội Thánh Tin Lành Đà Lạt, nhà thờ Tin Lành Nguyễn Văn Trỗi

Ngôi nhà thờ Tin Lành cổ nhất Tây Nguyên, dựng trên một sườn đồi thông giữa lòng Đà Lạt, nay có hai ngôi nhà thờ của hai thời đứng cạnh nhau.

Giáo sĩ lên Đà Lạt
1926
năm mở đầu công việc truyền giảng ở cao nguyên
Nhà thờ đá
1942
khánh thành, có tháp chuông và kính màu
Đền thờ mới
10 tháng 2 năm 2012
cung hiến sau chưa đầy một năm xây dựng

Từ khu Hòa Bình đi xuống đường Nguyễn Văn Trỗi chừng một cây số, quý vị sẽ gặp một sườn đồi thông và trên đó là hai ngôi nhà thờ đứng cạnh nhau. Ngôi cũ xây bằng đá, tường dày, hai mái nhọn, một tháp chuông vuông, cửa kính ghép màu. Ngôi mới lớn hơn, đường nét gọn và thẳng, dựng để đủ chỗ cho một hội chúng đã đông lên nhiều lần so với ngày đầu.

Nhìn ngôi nhà thờ đá ấy, nhiều người tưởng đây là một nhà thờ Công Giáo, vì Đà Lạt vốn có nhiều nhà thờ theo lối châu Âu cổ điển với tháp chuông và kính màu. Nhưng bước vào bên trong thì khác hẳn: không có tượng thánh trong hốc tường, không có bàn thờ, không có tòa giải tội. Chỉ có hàng ghế cùng quay về một cái bục và một cây thập tự để trơn. Đây là một ngôi nhà thờ Tin Lành mặc chiếc áo kiến trúc của nhà thờ Pháp, và chính chỗ ấy làm nên cái riêng của nó.

IVỏ Ngoài Châu Âu Và Lối Thờ Phượng Tin Lành

Ở Đà Lạt, thứ dễ gây nhầm nhất là kiến trúc. Thành phố này được dựng trong nửa đầu thế kỷ 20 theo gu châu Âu, và nhà thờ nào dựng thời ấy cũng mang tháp chuông, mái dốc và kính màu. Cho nên cái vỏ không nói được đạo. Muốn biết một ngôi nhà thờ thuộc đạo nào thì phải nhìn vào trong.

Theo giáo nghĩa

Trong lòng nhà thờ Tin Lành không có tượng và không có ảnh thờ. Người Tin Lành dẫn điều răn cấm tạc hình tượng mà quỳ lạy trong Mười Điều Răn, và tin rằng người ta đến thẳng với Thiên Chúa qua Chúa Giêsu chứ không qua Đức Mẹ hay các thánh. Vì vậy cũng không có tràng hạt, không có hài cốt thánh, không có tòa giải tội.

Cũng không có bàn thờ. Với Công Giáo, bàn thờ là nơi cử hành thánh lễ, nơi hy tế của Chúa Giêsu được tái diễn. Người Tin Lành tin rằng hy tế ấy đã hoàn tất một lần đủ cả, không dâng lại, nên chỗ trang trọng nhất trong gian nhà dành cho bục giảng. Cả hội chúng ngồi quay về bục giảng, và phần giảng giải Kinh Thánh chiếm khoảng một nửa buổi thờ phượng.

Cây thánh giá để trơn là hình tượng duy nhất. Không có tượng Chúa chịu nạn trên đó, vì người Tin Lành để thập tự trống với nghĩa Chúa đã sống lại. Nghi thức của đạo chỉ có hai, là lễ báp têm cho người mới tin và lễ Tiệc Thánh với bánh và chén. Người đứng đầu chi hội gọi là mục sư quản nhiệm, có gia đình, không giữ luật độc thân, và không gọi là cha.

Theo sử liệu

Về mặt khảo được, công việc truyền giảng của Tin Lành ở Đà Lạt bắt đầu từ năm 1926, khi mục sư A. H. Jackson và mục sư Lê Văn Quế lên cao nguyên. Ngôi nhà thờ đá được ghi là khánh thành năm 1942. Bản tin của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam về lễ cung hiến năm 2012 cho biết chi hội đã trải qua mười ba đời quản nhiệm tính từ năm 1929, và ngôi nhà nguyện đầu được cung hiến năm 1942.

Chỗ hay hiểu lầm

Ba chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu. Thứ nhất, tháp chuông và kính màu không phải dấu hiệu của nhà thờ Công Giáo. Đó là ngôn ngữ kiến trúc của thời và của vùng, còn đạo nào thì phải nhìn cách bài trí bên trong mới biết. Thứ hai, ngôi nhà thờ đá năm 1942 thường bị gọi là nhà thờ Gothic. Nói cho đúng thì nó theo lối châu Âu cổ điển có mượn vài đường nét Gothic như mái nhọn và cửa vòm. Thứ ba, ngôi mới không thay thế ngôi cũ. Người Tin Lành không coi ngôi nhà là vật thánh, nên việc dựng thêm một đền thờ rộng hơn để đủ chỗ ngồi không đặt ra vấn đề gì về đạo lý.

IITừ Sườn Đồi Thông Tới Mạng Lưới Nhà Thờ Núi

Có một chỗ nguồn vênh nhau mà thư viện ghi thẳng ra chứ không chọn bừa. Về năm lập chi hội Đà Lạt, một nguồn ghi năm 1929, dựa vào việc danh sách quản nhiệm của chi hội bắt đầu từ năm ấy. Một nguồn khác ghi năm 1936. Có thể một bên tính từ lúc có người quản nhiệm thường trực, bên kia tính từ lúc chi hội được tổ chức chính thức và tự dưỡng được. Thư viện không chọn một con số nào, và chỉ giữ chắc mốc năm 1926 là năm các giáo sĩ lên Đà Lạt truyền giảng.

  • 1926Giáo sĩ lên Đà Lạt
    Mục sư A. H. Jackson và mục sư Lê Văn Quế bắt đầu công việc truyền giảng trên cao nguyên. Đây là mốc chắc chắn nhất của buổi đầu.
  • 1929Mốc lập chi hội theo một nguồn
    Danh sách quản nhiệm của chi hội Đà Lạt tính từ năm này, với mười ba đời quản nhiệm tới năm 2012. Một nguồn khác ghi năm lập là 1936. Thư viện ghi cả hai và không chọn.
  • 1942Khánh thành ngôi nhà thờ đá
    Ngôi nhà nguyện xây bằng đá với hai mái nhọn, tháp chuông vuông và cửa kính ghép màu, dựng trên sườn đồi thông. Đây là ngôi nhà thờ Tin Lành cổ nhất còn lại ở Tây Nguyên.
  • Giữa thế kỷ 20Kinh Thánh và thánh ca tiếng bản địa
    Công việc dịch Kinh Thánh và soạn thánh ca sang tiếng Kơ Ho được tiến hành trong những thập niên giữa thế kỷ 20. Các nguồn công khai không thống nhất về năm, nên thư viện để mốc theo giai đoạn chứ không đặt bừa một con số.
  • 2011Khởi công ngôi đền thờ mới
    Hội thánh khởi công một ngôi đền thờ rộng hơn trong cùng khuôn viên, để đủ chỗ cho hội chúng đã đông lên nhiều lần. Thời gian xây chưa đầy một năm.
  • 2012Cung hiến ngôi đền thờ mới
    Lễ cung hiến tổ chức sáng ngày 10 tháng 2 năm 2012, có khoảng hai nghìn năm trăm mục sư và tín hữu từ Đà Lạt cùng các vùng lân cận về dự. Ngôi nhà thờ đá năm 1942 vẫn được giữ trong khuôn viên.

Điều làm cho chi hội Đà Lạt có sức nặng riêng không nằm ở ngôi nhà mà nằm ở cái mà nó sinh ra. Từ một hội thánh phố thị trên sườn đồi thông, đạo Tin Lành đi vào các buôn làng người Kơ Ho, ChilMạ trên khắp cao nguyên Lâm Viên và Di Linh, và tới nay các nhà thờ Tin Lành trong buôn làng ở vùng này nhiều hơn hẳn các nhà thờ Tin Lành trong phố. Cách nói của người trong đạo là một ngôi nhà thờ phố đã kéo theo hàng trăm ngôi nhà thờ núi.

Việc ấy làm được phần lớn nhờ tiếng nói. Kinh Thánh và sách thánh ca được dịch sang tiếng Kơ Ho, và các buổi nhóm trong buôn hát bằng tiếng bản địa chứ không hát bằng tiếng Kinh. Đạo Tin Lành coi việc mỗi dân tộc được đọc Kinh Thánh bằng tiếng mẹ đẻ của mình là điều cốt lõi chứ không phải điều tùy nghi, và chính nguyên tắc ấy đã đưa chữ viết tới nhiều tiếng nói ở Tây Nguyên.

IIINgôi Nhà Thờ Đá Và Ngôi Đền Thờ Mới

Khuôn viên có hai công trình của hai thời, và đọc chúng cạnh nhau thì thấy được cả cách một hội thánh lớn lên. Ngôi cũ nói bằng tiếng của Đà Lạt những năm 1940, ngôi mới nói bằng tiếng của một chi hội đã đông.

Ngôi nhà thờ đá năm 1942

Xây bằng đá, tường dày, hai mái dốc gặp nhau thành đỉnh nhọn, cửa sổ vòm cuốn lắp kính ghép màu. Lối châu Âu cổ điển có mượn vài nét Gothic, hợp với khí hậu lạnh và mưa của cao nguyên.

Tháp chuông

Khối vuông vươn thẳng ở đầu công trình, gắn thánh giá trên đỉnh. Trong nhà thờ Tin Lành, tháp chuông làm đúng một việc là gọi người tới nhóm lại, không mang tượng thánh và không có phù điêu.

Kính ghép màu

Điểm dễ gây nhầm nhất. Kính màu ở đây chủ yếu là hoa văn hình học và mảng màu, không kể tích thánh bằng hình người như kính màu nhà thờ Công Giáo, vì Tin Lành không đặt hình thánh trong nơi thờ phượng.

Gian nhóm và bục giảng

Lòng nhà thờ là một gian dài không chia lớp, hàng ghế cùng quay về bục giảng đặt trên bệ cao ở đầu gian. Không có cung thánh riêng và không có chỗ nào cấm tín hữu bước vào.

Ngôi đền thờ mới năm 2012

Dựng trong cùng khuôn viên, quy mô lớn hơn nhiều, có hàng ghế mới và nhà ở cho mục sư. Kinh phí do tín hữu dâng góp cùng với sự tiếp trợ của các hội thánh bạn, đúng theo lối tự dưỡng của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam.

Rừng thông quanh khuôn viên

Công trình đứng trên sườn đồi, thông vây ba mặt. Cảnh quan ấy là một phần của kiến trúc chứ không phải phông nền, vì nó quy định cả cao độ lẫn lối lên.

Hai công trình của hai thời trong cùng một khuôn viên. Cái vỏ đổi, còn cách bài trí bên trong thì không đổi. Nguồn: Bản tin lễ cung hiến của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam và tư liệu mô tả công trình..
Hạng mụcNgôi nhà thờ đá 1942Ngôi đền thờ 2012
Vật liệu chínhĐá xây tường dàyBê tông và vật liệu hiện đại
Đường nétMái nhọn, cửa vòm cuốn, lối châu Âu cổ điểnKhối gọn, đường thẳng, lối hiện đại
Cửa sổKính ghép màu hoa văn hình họcCửa kính lớn lấy sáng
Công dụng hôm nayGiữ lại trong khuôn viên như lớp cũ của hội thánhNơi nhóm lại chính của chi hội
Điểm chungBục giảng ở trung tâm, thập tự để trơn, không tượngBục giảng ở trung tâm, thập tự để trơn, không tượng

IVThế Đất Và Hướng

Phần này cần rào trước cho rõ. Đạo Tin Lành không dạy phong thủy, không kén ngày kén hướng, và không có quy tắc nào buộc nhà thờ phải quay về phương nào, khác với nhà thờ Công Giáo theo nếp cổ quay cung thánh về hướng đông. Vị trí của ngôi nhà thờ này do thửa đất trên sườn đồi quy định. Những dòng dưới đây là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền của người Việt, viết để quý vị quen lối ấy có chỗ đối chiếu, chứ không phải điều chép trong tư liệu của hội thánh và cũng không phải ý của người dựng.

Thế đất và hướng

Điều đáng đọc trước nhất là thế cao. Công trình đặt trên một sườn đồi chứ không đặt dưới lòng chảo. Sách địa lý coi việc đặt nơi thờ tự lên chỗ cao là lẽ thường, vì chỗ cao thì khí thanh, tầm nhìn mở, và người đi lễ phải bước lên chứ không bước xuống. Cả Đà Lạt vốn là một vùng đồi bát úp nối nhau, nên ở đây việc chọn đồi không phải chuyện hiếm, nhưng chọn được một sườn đồi vừa gần trung tâm vừa giữ được rừng thông thì không phải chỗ nào cũng có.

Thứ hai là thông. Trong lối đọc cổ truyền, cây cao vây quanh nơi thờ tự đóng vai long chầu hổ phục thay cho núi khi núi ở xa, và thông được coi trọng riêng vì thuộc loài sống lâu, thân thẳng, hình thể thuộc hành Mộc đứng. Một khuôn viên có thông vây ba mặt là thế kín gió mà không bí, giữ được cái tĩnh.

Thứ ba là thủy. Đà Lạt không có sông lớn chảy qua trung tâm mà có hồ Xuân Hương nằm ở lòng chảo giữa thành phố. Theo phép xem đất, hồ là thủy tụ, và một công trình đặt trên sườn đồi nhìn về phía lòng chảo có nước là thế cao mà không cô, đứng cao nhưng vẫn có nước ở dưới để khí không tán. Đây là kiến giải dựa trên địa hình chung của thành phố, không phải một phép đo cho thửa đất này.

Cuối cùng, xin ghi lại chỗ mà hai cách nhìn không gặp nhau. Theo lối cổ truyền, một sườn đồi thông cao ráo kín gió là thế đất quý, và từ thế đất quý mà ra nhiều nhánh là chuyện hợp lẽ. Người Tin Lành ở đây đọc chuyện hoàn toàn khác: hàng trăm ngôi nhà thờ trong buôn làng mọc ra từ chi hội này không phải vì đất, mà vì có người chịu đi bộ vào rừng và vì Kinh Thánh đã được dịch ra tiếng của người trong rừng. Thư viện ghi cả hai cách đọc và để quý vị tự cân.

VNếp Nhóm Lại Và Lễ Trong Năm

Năm lễ của một chi hội Tin Lành gọn, tính theo dương lịch, không có lễ kính thánh và không có bổn mạng. Ở Đà Lạt có một nét riêng: nhiều buổi nhóm và nhiều kỳ lễ có mặt tín hữu người Kơ Ho, Chil và Mạ từ các buôn làng quanh vùng về dự, và thánh ca khi ấy được hát bằng cả hai thứ tiếng.

Các dịp chính trong nếp tu của chi hội. Bài không ghi giờ giấc, vì giờ nhóm là việc của hội thánh chứ không phải thời khóa biểu cho khách. Nguồn: Nếp thờ phượng chung của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam..
Thời điểmLễNội dung
Mỗi Chúa nhậtThờ phượng chungBuổi nhóm chính trong tuần, gồm hát thánh ca, cầu nguyện, đọc và giảng Kinh Thánh, dâng hiến. Thiếu nhi có trường Chúa nhật riêng.
Theo kỳ trong nămLễ Tiệc ThánhBánh được bẻ và chén được chuyền quanh để tưởng niệm sự chết của Chúa Giêsu. Chỉ người đã chịu báp têm dự phần.
Theo kỳ trong nămLễ Báp TêmNgười mới tin công khai nhận đức tin trước hội chúng, theo lối dìm mình trong nước. Chỉ làm cho người tự mình xin.
Thứ Sáu trước Phục Sinh và Chúa nhật kế đóLễ Thương Khó và lễ Phục SinhHai ngày trọng nhất của năm. Ngày thay đổi theo từng năm vì tính theo lịch Phục Sinh.
Ngày 25 tháng 12Lễ Giáng SinhDịp đông người nhất trong năm ở Đà Lạt, có chương trình thánh nhạc và thường mời cả người ngoài đạo tới dự.
Ngày 31 tháng 10Ngày Cải ChánhKỷ niệm ngày Martin Luther công bố chín mươi lăm luận đề năm 1517, mốc khai sinh của đạo Tin Lành.

Ngoài các dịp ấy, chi hội có lễ Cảm Tạ cuối năm và các buổi nhóm ban ngành trong tuần. Với người Đà Lạt không theo đạo, ngôi nhà thờ này quen thuộc nhất vào mùa Giáng Sinh, khi ánh đèn hắt qua cửa kính màu của ngôi nhà thờ đá và tiếng thánh ca vọng ra giữa rừng thông. Nhiều gia đình trong phố giữ lệ đi ngang qua đây vào đêm 24 tháng 12, dù không phải tín hữu.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 72 đường Nguyễn Văn Trỗi, phường 1, thành phố Đà Lạt cũ, tỉnh Lâm Đồng
Đường tới
Nhà thờ ở số 72 đường Nguyễn Văn Trỗi, phường 1, thành phố Đà Lạt cũ, tỉnh Lâm Đồng. Từ khu Hòa Bình đi xuống theo đường Nguyễn Văn Trỗi chừng một cây số là tới, đi bộ được từ chợ Đà Lạt.
Toạ độ
11.9468, 108.4363
Khi tới nơi

Đây là cơ sở thờ phượng đang hoạt động chứ không phải điểm tham quan, nên lệ của nhà thờ là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trong, tắt chuông điện thoại, và nếu đang có buổi nhóm thì ngồi hàng ghế cuối, giữ im lặng, không đi lại và không chụp ảnh. Khách không lên bục giảng. Nếu quý vị tới để xem kiến trúc thì xin để ý hai chỗ: mặt đá và cửa vòm của ngôi nhà thờ năm 1942, và cách bài trí bên trong của cả hai ngôi, vì chính chỗ ấy cho thấy vỏ đổi mà ruột không đổi.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Nhà thờ Tin Lành Đà Lạt

Contribute photos, information or video for Da Lat Protestant Church

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

nhà thờ tin lành đà lạt ở đâu

Ở số 72 đường Nguyễn Văn Trỗi, phường 1, thành phố Đà Lạt cũ, tỉnh Lâm Đồng, trên một sườn đồi thông cách khu Hòa Bình chừng một cây số. Trong khuôn viên có hai ngôi nhà thờ, ngôi đá năm 1942 và ngôi đền thờ mới cung hiến năm 2012.

nhà thờ tin lành đà lạt xây năm nào

Ngôi nhà thờ đá khánh thành năm 1942. Ngôi đền thờ mới cung hiến ngày 10 tháng 2 năm 2012. Về năm lập chi hội thì nguồn vênh nhau, một nguồn ghi 1929 và một nguồn ghi 1936, nên thư viện chỉ giữ chắc mốc năm 1926 là năm giáo sĩ lên Đà Lạt truyền giảng.

nhà thờ tin lành và nhà thờ công giáo ở đà lạt khác nhau chỗ nào

Bên ngoài có thể giống nhau vì cùng theo lối kiến trúc châu Âu của thời ấy. Khác nhau ở bên trong: nhà thờ Tin Lành không đặt tượng và ảnh thờ, không có bàn thờ mà lấy bục giảng làm trung tâm, thánh giá để trơn, không có tòa giải tội và không có nhà tạm.

vì sao có tới hai ngôi nhà thờ trong cùng khuôn viên

Vì hội chúng đã đông lên nhiều lần so với ngày đầu nên hội thánh dựng thêm một ngôi đền thờ rộng hơn, cung hiến năm 2012, mà vẫn giữ lại ngôi nhà thờ đá năm 1942. Người Tin Lành không coi ngôi nhà là vật thánh nên việc này không đặt ra vấn đề gì về đạo lý.

tin lành ở tây nguyên bắt đầu từ đâu

Từ Đà Lạt. Các giáo sĩ lên cao nguyên từ năm 1926, và chi hội Đà Lạt về sau thành cái gốc cho mạng lưới nhà thờ Tin Lành trong các buôn làng người Kơ Ho, Chil và Mạ. Việc dịch Kinh Thánh và soạn thánh ca sang tiếng bản địa là điều đã làm cho đạo bén rễ được trong buôn làng.

Đọc Tiếp