VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Nhà thờ Tin Lành Đà Nẵng

Nhà thờ Tin Lành Ông Ích Khiêm, Chi hội Tin Lành Đà Nẵng

Nơi đặt chân đầu tiên của đạo Tin Lành trên đất Việt Nam năm 1911, được cả hai hội thánh Tin Lành Việt Nam coi là hội thánh mẹ.

Hội Thánh lập
1911
hội thánh Tin Lành đầu tiên ở Việt Nam
Người Việt đầu tiên chịu báp têm
tháng 1 năm 1912
ông Nguyễn Văn Phúc, tại Đà Nẵng
Ngôi nhà thờ hiện nay
chưa tra được năm dựng
thư viện không đặt bừa một con số

Đường Ông Ích Khiêm chạy dài trong lòng Đà Nẵng, hai bên là nhà phố và hàng quán, không có gì báo trước rằng ở số 190 có một cái mốc. Ngôi nhà thờ đứng đó không lớn, không cầu kỳ, một khối nhà quay ra phố với cây thánh giá trên cao. Người đi đường phần đông lướt qua mà không dừng lại.

Nhưng đây là chỗ mà mọi ngôi nhà thờ Tin Lành khác ở Việt Nam đều tính ngược về. Năm 1911, các giáo sĩ của Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp đặt được cơ sở đầu tiên trên đất Việt Nam tại Đà Nẵng, và từ chỗ ấy đạo Tin Lành đi ra Bắc, vào Nam, rồi lên cao nguyên. Trong cách nói của người trong đạo, đây là hội thánh mẹ. Bài này viết về cái mốc ấy, và nhân đó giải thích mấy chữ mà người ngoài đạo hay nghe mà chưa rõ nghĩa.

IHội Thánh, Chi Hội, Và Ba Chữ Tự

Trước khi kể chuyện, phải gỡ mấy chữ. Người ngoài đạo hay dùng lẫn lộn hội thánh, chi hộinhà thờ, trong khi người trong đạo phân biệt rất rạch ròi, và chính cách phân biệt ấy nói lên cách đạo Tin Lành tự tổ chức.

Theo giáo nghĩa

Hội thánh là cộng đoàn những người tin, không phải ngôi nhà. Một nhóm tín hữu nhóm lại trong nhà riêng vẫn là một hội thánh, còn một ngôi nhà thờ đẹp mà không có người nhóm thì không phải. Nhà thờ hoặc đền thờ là cách gọi ngôi nhà. Chi hội là một hội thánh địa phương đã đủ điều kiện đứng riêng, có ban trị sự do tín hữu bầu ra và có mục sư quản nhiệm. Một nhóm chưa đủ điều kiện thì gọi là hội nhánh hoặc điểm nhóm, chịu sự chăm sóc của một chi hội mẹ.

Đứng sau cách chia ấy là ba chữ mà Hội Thánh Tin Lành Việt Nam giữ từ buổi đầu: tự trị, tự dưỡng, tự truyền.

  • Tự trị là chi hội tự quản lấy công việc của mình. Tín hữu bầu ban trị sự, ban trị sự cùng mục sư quyết định việc của chi hội. Không có một tòa giám mục nào ở trên bổ nhiệm và điều hành trực tiếp như trong cơ cấu Công Giáo.
  • Tự dưỡng là chi hội tự lo lấy tiền. Lương mục sư, tiền điện nước, tiền sửa nhà thờ đều lấy từ dâng hiến của chính tín hữu trong chi hội, không trông vào trợ cấp của hội truyền giáo nước ngoài. Một hội nhánh khi nào tự nuôi được mình thì mới được nâng lên thành chi hội.
  • Tự truyền là chi hội tự đi giảng đạo, tự mở điểm nhóm mới, không đợi giáo sĩ nước ngoài làm thay.

Ba chữ ấy giải thích vì sao các nhà thờ Tin Lành ở Việt Nam thường nhỏ và giản dị: mỗi ngôi được dựng bằng đúng sức của cộng đoàn dựng ra nó.

Theo sử liệu

Về mặt khảo được, Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp là một hội truyền giáo Tin Lành lập năm 1897 ở Bắc Mỹ, do mục sư Albert Benjamin Simpson khởi xướng. Từ năm 1887 ông đã kêu gọi cầu nguyện cho việc truyền giáo tại Việt Nam, và năm 1893 mục sư David LeLacheur được cử đi khảo sát. Phải tới năm 1911 hội mới đặt được cơ sở tại Đà Nẵng. Kỳ đại hội đồng đầu tiên của các hội thánh Tin Lành ở Việt Nam cũng họp tại Đà Nẵng, năm 1924. Tới năm 1927 tổ chức chung mang tên Hội Tin Lành Đông Pháp, và năm 1936 đổi thành Hội Tin Lành Việt Nam Đông Pháp.

Chỗ hay hiểu lầm

Hai chỗ hay hiểu lầm. Thứ nhất, năm 1911 là năm đạo Tin Lành đặt được cơ sở truyền giáo cho người Việt, không phải năm ngôi nhà thờ Tin Lành đầu tiên trên đất Việt Nam được dựng. Ngôi nhà thờ Tin Lành xưa nhất được biết là một ngôi ở Hải Phòng dựng năm 1894, nhưng ngôi ấy dựng cho tín hữu người Âu chứ không phải cho người Việt, và nay không còn. Hai mốc ấy khác nhau về bản chất nên không mâu thuẫn nhau. Thứ hai, ngôi nhà thờ quý vị thấy ở số 190 Ông Ích Khiêm hôm nay không phải ngôi nhà năm 1911. Cơ sở của hội thánh đã thay đổi qua hơn một thế kỷ. Thư viện chưa tra được nguồn chắc chắn về năm dựng ngôi hiện nay nên không ghi một con số nào, và ghi thẳng ra như vậy.

IIMốc Năm 1911 Và Người Chịu Báp Têm Đầu Tiên

Cái mốc 1911 không bắt đầu bằng một ngôi nhà thờ mà bằng một chỗ ở. Các giáo sĩ tới Đà Nẵng, tìm được chỗ đặt cơ sở, học tiếng, rồi mới nói được với người bản xứ. Người Việt đầu tiên chịu báp têm ở đây không phải một người mới nghe lần đầu, mà là một người đã đi bán Kinh Thánh nhiều năm trước đó.

  • 1887Lời kêu gọi đầu tiên
    Mục sư Albert Benjamin Simpson kêu gọi cầu nguyện cho việc truyền giáo tại Việt Nam. Mười năm sau, năm 1897, Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp được lập.
  • 1893Chuyến khảo sát
    Mục sư David LeLacheur được cử đi khảo sát vùng Sài Gòn. Việc lập cơ sở chưa thực hiện được ngay.
  • 1911Lập hội thánh tại Đà Nẵng
    Giáo sĩ của Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp đặt được cơ sở đầu tiên trên đất Việt Nam tại Đà Nẵng. Đây là mốc khởi đầu mà cả hai hội thánh Tin Lành Việt Nam cùng tính.
  • 1912Người Việt đầu tiên chịu báp têm
    Tháng 1 năm 1912, ông Nguyễn Văn Phúc nhận lễ báp têm tại Đà Nẵng do giáo sĩ Paul Hosler làm lễ. Trước đó, từ năm 1904 tới 1911, ông đi bán Kinh Thánh khắp Bắc Kỳ, An Nam, Nam Kỳ và Campuchia. Về sau ông đi giảng đạo và làm việc tại Hải Phòng.
  • 1921Lập Trường Kinh Thánh Đà Nẵng
    Trường đào tạo người hầu việc Chúa đầu tiên của Tin Lành Việt Nam, buổi đầu nhóm trong một ngôi nhà riêng. Đà Nẵng vì thế vừa là nơi khởi đầu vừa là nơi đào tạo lớp truyền đạo đầu tiên.
  • 1924Kỳ đại hội đồng đầu tiên
    Các hội thánh Tin Lành ở Việt Nam họp kỳ đại hội đồng đầu tiên tại Đà Nẵng, buổi đầu mang tính chất bồi linh và cầu nguyện chung.
  • 1927Lập tổ chức chung
    Kỳ đại hội đồng thứ tư lập tổ chức chung mang tên Hội Tin Lành Đông Pháp. Năm 1936 tên gọi đổi thành Hội Tin Lành Việt Nam Đông Pháp.
  • 2026Lễ kỷ niệm một trăm mười lăm năm
    Hội Thánh Đà Nẵng tổ chức lễ kỷ niệm một trăm mười lăm năm thành lập vào Chúa nhật ngày 24 tháng 5 năm 2026.

Chuyện ông Nguyễn Văn Phúc đáng được kể thêm, vì nó cho thấy đạo đi bằng chân người chứ không đi bằng công trình. Trước khi tin đạo, ông làm nghề bán sách cho Thánh Thơ Công Hội, mang Kinh Thánh đi khắp ba kỳ và sang cả Campuchia trong bảy năm liền. Một người chịu báp têm ở Đà Nẵng tháng 1 năm 1912 rồi đi giảng đạo ở cảng biển Hải Phòng, tức đầu kia của đất nước: đó là hình ảnh gọn nhất của cách đạo Tin Lành lan ra ở Việt Nam trong ba chục năm đầu.

IIIMột Ngôi Nhà Thờ Cốt Để Ngồi Nghe

Nhà thờ Tin Lành ở Việt Nam hiếm khi là công trình gây choáng. Ở Đà Nẵng cũng vậy: một khối nhà quay ra đường Ông Ích Khiêm, tường phẳng, cửa sổ chia ô, mái dốc, một tháp vươn thẳng gắn thánh giá. Cái đáng đọc không nằm ở mặt tiền mà nằm ở cách sắp xếp bên trong, vì cách sắp xếp ấy nói ra đúng điều đạo này coi trọng.

Gian nhóm một khối

Lòng nhà thờ là một gian không chia lớp, không có cung thánh riêng, không có chỗ nào cấm tín hữu bước vào. Hàng ghế xếp thẳng, lối đi ở giữa, tất cả cùng quay về một hướng.

Bục giảng ở trung tâm

Đặt trên bệ cao ở đầu gian. Buổi thờ phượng dài chừng một tiếng rưỡi, trong đó phần giảng giải Kinh Thánh chiếm khoảng một nửa. Vị trí của bục giảng là hệ quả trực tiếp của tỷ lệ ấy.

Thánh giá để trơn

Gắn trên tường sau bục giảng hoặc trên đỉnh tháp, không có tượng Chúa chịu nạn, không có tượng thánh đi kèm. Đây là hình tượng duy nhất trong cả ngôi nhà.

Bàn Tiệc Thánh

Bàn dài kê dưới bục giảng, để trống ngoài kỳ lễ. Không ai dâng lễ vật lên bàn này và không có nhà tạm giữ bánh thánh, vì Tin Lành hiểu bánh và chén là dấu hiệu tưởng niệm.

Chỗ ban hát và đàn

Thánh ca chiếm một phần lớn buổi nhóm, và hội chúng hát chung chứ không chỉ nghe. Vì vậy chỗ cho ban hát và cây đàn là một hạng mục có tính toán, không phải chỗ kê thêm.

Phòng học và phòng nhóm nhỏ

Cơ sở Tin Lành thường có thêm phòng cho trường Chúa nhật của thiếu nhi và cho các ban ngành nhóm trong tuần, vì việc dạy dỗ được coi ngang với việc thờ phượng.

Cần nói thẳng một điều về niên đại. Thư viện chưa tra được nguồn chắc chắn về năm dựng ngôi nhà thờ hiện nay ở số 190 Ông Ích Khiêm. Tư liệu công khai của hội thánh nhấn vào mốc thành lập năm 1911 chứ không ghi niên đại công trình. Thư viện để trống chỗ ấy thay vì đặt bừa một con số. Giá trị của nơi đây nằm ở cái mốc chứ không nằm ở tuổi của những viên gạch.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này cần rào trước. Đạo Tin Lành không dạy phong thủy và không có quy tắc nào về hướng công trình, khác với nhà thờ Công Giáo theo nếp cổ quay cung thánh về hướng đông, và khác hẳn thánh đường Hồi Giáo bắt buộc quay về Mecca. Vị trí và hướng của ngôi nhà thờ này do thửa đất trong phố quy định. Những dòng dưới đây là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền của người Việt, viết để quý vị quen lối ấy có chỗ đối chiếu, không phải điều chép trong tư liệu của hội thánh và cũng không phải ý của người dựng.

Thế đất và hướng

Muốn đọc nơi này thì phải đọc rộng ra cả thành phố, vì cái mốc 1911 vốn là một mốc của cửa biển chứ không phải của một con phố. Đà Nẵng nằm trong vụng biển lớn, lưng dựa dãy Trường Sơn, mặt mở ra vịnh, bên trái có bán đảo Sơn Trà chắn gió đông bắc, bên phải có dãy núi Hải Vân chắn phía bắc, trong lòng có sông Hàn chảy ra biển. Sách địa lý gọi thế ấy là tả long hữu hổ đủ đôi, lưng tựa sơn mà mặt hướng thủy. Một cửa biển như vậy là chỗ mà mọi đường đi tới đều dừng lại, và trong lịch sử thì các luồng người, luồng hàng, luồng chữ nghĩa đều vào nước Việt qua những cửa như thế. Đạo Tin Lành vào bằng đúng cửa ấy.

Xét riêng mảnh đất, ngôi nhà thờ nằm trên một trục phố dài trong lòng thành phố, cách bờ sông Hàn không xa. Theo lối đọc cổ truyền, nhà trên trục đường dài thẳng nhận luồng khí mạnh và nhanh, sách gọi là trực lộ, tốt cho việc mở mang và giao tiếp nhưng kém về giữ. Với một cơ sở mà việc chính là đón người lạ vào nghe giảng thì cái mạnh của thế này hợp hơn là hại. Về hướng, mặt nhà thờ quay ra phố, lưng dựa vào khối nhà phía sau theo lối nhân tạo hậu chẩm, còn cái tựa thật sự thì ở xa là dãy Trường Sơn phía tây, thứ mà cả thành phố cùng dựa vào.

Cuối cùng, thư viện xin ghi lại một ý để quý vị khỏi hiểu nhầm phần này. Theo phép xem đất cổ truyền, một nơi khởi đầu cho cả một đạo thì phải là huyệt, tức chỗ tụ khí bậc nhất. Người Tin Lành đọc chuyện này khác hẳn: với họ, Đà Nẵng là nơi khởi đầu vì đó là chỗ các giáo sĩ được phép đặt chân, chứ không vì đất ở đó tốt. Hai cách đọc ấy không hòa được vào nhau, và chúng tôi ghi cả hai.

VNếp Nhóm Lại Và Các Kỳ Lễ

Nếp tu của một chi hội Tin Lành xoay quanh buổi thờ phượng Chúa nhật. Mọi lễ tính theo dương lịch, không có lễ kính thánh, không có bổn mạng, không có kỳ chay bắt buộc. Riêng ở Đà Nẵng, các kỳ kỷ niệm thành lập có sức nặng khác thường, vì mỗi lần kỷ niệm ở đây là một lần cả hai hội thánh Tin Lành Việt Nam cùng nhìn lại gốc của mình.

Các dịp chính trong nếp tu của chi hội. Bài không ghi giờ giấc, vì giờ nhóm là việc của hội thánh chứ không phải thời khóa biểu cho khách. Nguồn: Nếp thờ phượng chung của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam và bản tin về lễ kỷ niệm của chi hội..
Thời điểmLễNội dung
Mỗi Chúa nhậtThờ phượng chungBuổi nhóm chính trong tuần, gồm hát thánh ca, cầu nguyện, đọc và giảng Kinh Thánh, dâng hiến. Thiếu nhi có trường Chúa nhật riêng.
Theo kỳ trong nămLễ Tiệc ThánhBánh được bẻ và chén được chuyền quanh để tưởng niệm sự chết của Chúa Giêsu. Chỉ người đã chịu báp têm dự phần.
Theo kỳ trong nămLễ Báp TêmNgười mới tin công khai nhận đức tin trước hội chúng, theo lối dìm mình trong nước. Chỉ làm cho người tự mình xin.
Thứ Sáu trước Phục Sinh và Chúa nhật kế đóLễ Thương Khó và lễ Phục SinhHai ngày trọng nhất của năm. Ngày thay đổi theo từng năm vì tính theo lịch Phục Sinh.
Ngày 25 tháng 12Lễ Giáng SinhDịp đông người nhất, có chương trình thánh nhạc, thường mời cả người ngoài đạo tới dự.
Năm chẵn của ngày thành lậpLễ kỷ niệm thành lậpLễ cảm tạ nhìn lại chặng đường của chi hội. Lễ một trăm mười lăm năm tổ chức ngày 24 tháng 5 năm 2026.

Ngoài các dịp ấy, chi hội còn có lễ Cảm Tạ cuối năm, các buổi nhóm ban ngành trong tuần, và những đợt bồi linh. Một nếp riêng của Tin Lành mà người ngoài đạo hay để ý là dâng hiến: giỏ hoặc hộp dâng được chuyền trong buổi nhóm, tiền dâng do tín hữu tự định, không có mức bắt buộc và không xướng tên người dâng. Đó chính là nguồn nuôi chi hội theo nguyên tắc tự dưỡng đã nói ở trên, và là lý do mà một hội thánh nhỏ vẫn đứng được mà không cần ai cấp dưỡng.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 190 đường Ông Ích Khiêm, phường Thanh Khê, Đà Nẵng
Đường tới
Nhà thờ ở số 190 đường Ông Ích Khiêm, phường Thanh Khê, Đà Nẵng. Đường Ông Ích Khiêm chạy dọc phía tây trung tâm, đi từ khu chợ Cồn hoặc từ bờ tây sông Hàn đều thuận.
Toạ độ
16.0711, 108.2132
Khi tới nơi

Đây là cơ sở thờ phượng đang hoạt động chứ không phải điểm tham quan, nên lệ của nhà thờ là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trong, tắt chuông điện thoại, và nếu đang có buổi nhóm thì ngồi hàng ghế cuối, giữ im lặng, không đi lại và không chụp ảnh. Khách không lên bục giảng. Người ngoài đạo được mời ngồi dự cả buổi, nhưng phần Tiệc Thánh thì chỉ tín hữu đã chịu báp têm dự phần, xin quý vị để khay bánh và khay chén đi qua.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Nhà thờ Tin Lành Đà Nẵng

Contribute photos, information or video for Da Nang Protestant Church

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

đạo tin lành vào việt nam năm nào và ở đâu

Năm 1911, tại Đà Nẵng, khi các giáo sĩ của Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp đặt được cơ sở đầu tiên trên đất Việt Nam. Chi hội Đà Nẵng vì thế được cả hai hội thánh Tin Lành Việt Nam coi là hội thánh mẹ.

người việt đầu tiên theo đạo tin lành là ai

Ông Nguyễn Văn Phúc, chịu báp têm tại Đà Nẵng tháng 1 năm 1912 do giáo sĩ Paul Hosler làm lễ. Trước đó ông đi bán Kinh Thánh khắp Bắc Kỳ, An Nam, Nam Kỳ và Campuchia trong bảy năm, về sau ông đi giảng đạo và làm việc tại Hải Phòng.

hội thánh tự trị tự dưỡng nghĩa là gì

Tự trị là chi hội tự quản lấy công việc, tín hữu bầu ban trị sự và cùng mục sư quyết định. Tự dưỡng là chi hội tự lo lấy tiền nuôi mục sư và lo cơ sở bằng dâng hiến của chính tín hữu, không trông vào trợ cấp nước ngoài. Thêm chữ tự truyền là tự đi giảng đạo và tự mở điểm nhóm mới.

chi hội và hội thánh khác nhau thế nào

Hội thánh là cộng đoàn những người tin, không phải ngôi nhà. Chi hội là một hội thánh địa phương đã đủ điều kiện đứng riêng, có ban trị sự và mục sư quản nhiệm. Nhóm chưa đủ điều kiện thì gọi là hội nhánh hoặc điểm nhóm, chịu sự chăm sóc của một chi hội mẹ.

nhà thờ tin lành đà nẵng xây năm nào

Hội Thánh lập năm 1911, nhưng thư viện chưa tra được nguồn chắc chắn về năm dựng ngôi nhà thờ hiện nay ở số 190 Ông Ích Khiêm, nên không ghi một con số nào. Tư liệu công khai của hội thánh nhấn vào mốc thành lập chứ không ghi niên đại công trình.

Đọc Tiếp