Giữa phố Hải Phòng ở trung tâm Đà Nẵng, quý vị đi qua một mặt tiền ba cửa, phía trên là mái cong nhiều lớp và một khối tháp vươn lên khỏi hàng nhà phố. Bước vào trong, lòng đền chia ba phần nối nhau trên một trục, nền nâng dần, và trên bàn thờ có hai bức tranh lớn: một bức vẽ ba vị đang viết chữ, một bức vẽ bốn vị giáo chủ của bốn truyền thống gặp nhau.
Đây là Trung Hưng Bửu Tòa, giáo sở trung ương của Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài. Sáu ngôi tòa thánh Cao Đài khác đều nằm ở Nam Bộ. Đây là ngôi duy nhất ở miền Trung, và cũng là ngôi duy nhất được dựng theo một chỉ dẫn có ghi ngày tháng hẳn hoi, đòi công trình phải mang chữ Việt, nét Việt và màu Việt.
IĐấng Được Thờ Và Đường Đi Của Hội Thánh Truyền Giáo
Về đấng được thờ, Hội Thánh Truyền Giáo giữ nguyên nền chung của đạo Cao Đài. Ngôi cao nhất là Đức Chí Tôn, không tạc tượng, chỉ biểu thị bằng Thiên Nhãn. Công trình chia ba phần theo lối chung là Hiệp Thiên Đài, Cửu Trùng Đài và Bát Quái Đài. Danh xưng đầy đủ của đạo vẫn là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
Cái riêng của chi phái này nằm ở hai chỗ: ở địa bàn và ở cách ghép hai đường tu.
Hội Thánh Truyền Giáo chủ trương đi cả hai mặt cùng lúc: công truyền phổ độ, tức mở rộng ra để độ người, và tâm pháp vô vi, tức phép tu thân bên trong. Trong đạo Cao Đài, hai mặt này ở nhiều nơi được tách ra, có nơi chỉ lo phổ độ, có dòng chỉ lo vô vi. Ở đây chúng được đặt cạnh nhau trong cùng một hệ thống, và chi phái coi việc giữ được cả hai là đường đi chính của mình.
Điều thứ hai đáng nói là quy nguyên Tam giáo và hiệp nhất Ngũ chi, tôn chỉ chung của đạo Cao Đài, được đưa thẳng lên bàn thờ ở đây dưới dạng một bức tranh. Bức ấy vẽ các đấng giáo chủ Lão Tử, Phật Thích Ca, Chúa Giê Su và Thánh Muhammad gặp nhau. Bốn truyền thống, bốn hình dáng, một khung tranh. Với người lần đầu tới, bức tranh ấy nói ngắn gọn hơn bất kỳ đoạn giảng nào về chủ trương của đạo.
Bên cạnh đó là bức Tam Thánh, bức tranh quen thuộc trong các đền thờ Cao Đài, vẽ ba vị đang viết chữ ký kết giao ước. Hai bức đặt cạnh nhau cho thấy một điều: ở đây phần hình ảnh không phải trang trí mà là phần trình bày giáo lý bằng mắt.
Về mặt khảo được, đạo Cao Đài truyền ra miền Trung từ cuối thập niên 1920. Các nhóm truyền giáo ở dải đất từ Quảng Nam trở ra hoạt động riêng lẻ trong nhiều năm, tới năm 1934 thì có tổ chức truyền giáo đầu tiên đứng chung một mối. Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài chính thức hình thành ngày 1 tháng 6 năm 1956, đúng ngày khánh thành Trung Hưng Bửu Tòa. Nói cách khác, ngôi đền và hội thánh ra đời cùng một ngày, điều không thường gặp.
Về quy mô, tư liệu công bố của hội thánh ghi hơn sáu mươi thánh sở trải mười bảy tỉnh. Cần nói thẳng rằng các nguồn ghi vênh nhau ở con số tỉnh: có nguồn cũ hơn ghi địa bàn trải khoảng mười hai tỉnh thành, từ Thanh Hóa vào tới Thành phố Hồ Chí Minh. Chênh lệch này đến từ thời điểm thống kê khác nhau và từ việc địa giới hành chính đã thay đổi, nên bài này ghi cả hai con số và không chọn bừa một con số.
Chỗ hay hiểu lầm ở đây là thấy công trình học theo dáng Tòa Thánh Tây Ninh rồi tưởng đây là một cơ sở trực thuộc Tây Ninh. Không phải. Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài là một hội thánh độc lập, có hiến chương riêng, hệ thống thánh sở riêng và giáo sở trung ương riêng là chính ngôi này. Việc dáng dấp công trình có chỗ giống là vì bố cục ba đài vốn là bố cục chung của đền thờ Cao Đài, không phải dấu hiệu trực thuộc.
Thư viện ghi các chi phái Cao Đài bằng giọng sử liệu và không xếp chi phái nào cao hơn chi phái nào. Điều có thể nói là mỗi hội thánh tự định lấy cách bài trí, bộ luật đạo và tổ chức tu học của mình, và mỗi bên đều tự coi mình giữ đúng nền của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
IIBảy Tháng Dựng Một Ngôi Bửu Tòa
Điều đáng chú ý về lịch sử xây dựng ở đây là tốc độ. Các ngôi tòa thánh Cao Đài ở Nam Bộ phần lớn dựng trong nhiều năm, có nơi gần hai mươi năm. Trung Hưng Bửu Tòa khởi công cuối tháng 11 năm 1955 và khánh thành đầu tháng 6 năm 1956, tức chỉ hơn sáu tháng.
- Cuối 1920Đạo Cao Đài truyền ra miền TrungCác nhóm truyền giáo Cao Đài bắt đầu hoạt động ở dải đất miền Trung, ban đầu riêng lẻ, chưa có một mối chung.
- 1934Tổ chức truyền giáo đầu tiênCác nhóm truyền giáo ở miền Trung đứng chung một mối lần đầu, đặt nền cho hội thánh về sau.
- 1955Khởi công Trung Hưng Bửu TòaNgày 28 tháng 11, nhằm rằm tháng mười năm Ất Mùi, công trình được khởi công trên khu đất ở trung tâm Đà Nẵng. Cùng năm, chỉ dẫn dựng đền được ban ra, đòi công trình mang chữ Việt, nét Việt và màu Việt.
- 1956Khánh thành và lập hội thánhNgày 1 tháng 6, đại lễ khánh thành được cử hành, đồng thời Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài chính thức hình thành, lấy ngôi đền này làm giáo sở trung ương.
- Các thập niên sauTu bổ và mở rộng hệ thốngCông trình được tu bổ qua nhiều đợt, hệ thống thánh sở mở rộng ra các tỉnh miền Trung và một số tỉnh khác.
- 2023Hiến chương mớiHội thánh thông qua bản hiến chương mới thay cho bộ Đạo Quy dùng trước đó, định lại cơ cấu và nếp hành đạo.
Chỉ dẫn dựng đền năm 1955 là tư liệu đáng chú ý nhất của nơi này, và nó hiếm ở chỗ có ngày tháng hẳn hoi. Nội dung chỉ dẫn đòi công trình phải mang chữ Việt, nét Việt và màu Việt, hòa lối kiến trúc Đông và Tây cùng lối trang trí đương thời, nhưng giữ cho được hồn thuần Việt. Đây gần như một tuyên ngôn kiến trúc, và nó được ghi lại trước khi công trình khởi công chứ không phải giải thích thêm về sau.
Điều đáng suy nghĩ là chỉ dẫn ấy ra đời vào giữa những năm 1950, đúng lúc kiến trúc ở các đô thị Việt Nam đang chịu nhiều ảnh hưởng ngoại lai. Một tôn giáo chủ trương quy hợp các nền giáo lý lớn của thế giới lại yêu cầu ngôi đền của mình giữ hồn thuần Việt: hai điều ấy thoạt nghe như trái nhau, nhưng đặt cạnh nhau thì lại thành một cách nói rõ ràng rằng quy hợp không có nghĩa là hòa tan.
IIIBa Đài Thu Nhỏ Và Ba Cửa Chia Lối
Công trình học theo dáng Tòa Thánh Tây Ninh nhưng thu nhỏ lại cho vừa một khu đất giữa phố. Bố cục vẫn là ba đài xếp trên một trục, nền nâng dần từ ngoài vào trong, nhưng chiều dài và chiều cao đều rút gọn.
Mặt tiền mở ba cửa. Cửa giữa dành cho chức sắc, hai cửa nhỏ hai bên dành cho nam và cho nữ. Cách chia lối đi này là một phần của nghi thức, không phải chuyện tiện dụng.
Phần đầu công trình, theo giáo lý của đạo là phần lo việc giao tiếp giữa hữu hình với vô hình và giữ luật đạo. Đây là nơi đặt lầu chuông lầu trống.
Gian giữa, nền chia cấp nâng dần theo chín bậc chức sắc. Đây là nơi chức sắc và tín đồ đứng hành lễ, xếp chỗ theo phẩm vị và theo giới.
Phần trong cùng, nơi đặt ngôi thờ Đức Chí Tôn dưới hình Thiên Nhãn. Đây là phần thiêng nhất của công trình.
Hai bức tranh lớn trên bàn thờ. Bức Tam Thánh vẽ ba vị đang viết chữ ký kết giao ước. Bức kia vẽ các đấng giáo chủ Lão Tử, Phật Thích Ca, Chúa Giê Su và Thánh Muhammad gặp nhau.
Chỉ dẫn năm 1955 để lại dấu rõ nhất ở phần trang trí và màu. Công trình dùng mái cong nhiều lớp và hoa văn theo lối Việt, chữ trên các hoành phi câu đối viết bằng quốc ngữ chứ không dùng chữ vuông, và bảng màu nghiêng về những sắc quen của đền miếu Việt Nam. Ở một công trình dựng giữa những năm 1950, việc đưa quốc ngữ lên vị trí của chữ trên hoành phi là một chọn lựa có ý thức, và nó khớp đúng với ba chữ chữ Việt trong chỉ dẫn.
Nhiều người thấy ba cửa mặt tiền rồi nghĩ đó là tam quan như ở chùa. Hai thứ khác nhau. Tam quan của chùa là một cổng đứng riêng ngoài sân, mang nghĩa ba cách nhìn trong giáo lý Phật Giáo. Ba cửa ở đây là ba lối vào mở ngay trên thân công trình, và chúng chia người vào theo phẩm vị và theo giới: chức sắc đi cửa giữa, nam đi một cửa bên, nữ đi cửa bên kia. Đây là quy định về hành lễ chứ không phải biểu tượng.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong chỉ dẫn dựng đền hay trong hiến chương của hội thánh. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải. Người dựng ngôi đền này làm theo giáo lý của đạo mình, không theo sách địa lý.
Điều đáng đọc trước nhất là đất phố. Công trình đứng trên một khu đất giữa trung tâm một đô thị lớn, bốn bề là nhà phố và đường sá. Sách địa lý gọi thế này là thị tỉnh chi địa, đất giữa chợ búa, và vốn coi là khí động chứ không tĩnh. Cách hóa giải quen của người xưa với thế đất ấy là dựng một lớp ngăn: ở đây lớp ngăn chính là mặt tiền ba cửa. Ba cửa hẹp thay cho một cửa mở toang, kèm bậc thềm nâng lên khỏi mặt đường, làm cho nhịp phố không tràn thẳng vào lòng đền. Người xem đất sẽ gọi đây là thúc khẩu tụ khí, tức thắt miệng lại để giữ khí.
Thứ hai là trục dọc thu ngắn. Ba đài vẫn xếp thẳng hàng và nền vẫn nâng dần, nhưng cả trục được rút gọn cho vừa khu đất. Đọc theo lối cổ truyền, điều quan trọng của bố cục tiến khí thăng cấp không nằm ở độ dài mà nằm ở số lần chuyển bậc: khí đi vào theo một lối duy nhất, qua mỗi lớp lại được nâng lên một bậc. Một trục ngắn mà vẫn đủ ba lần chuyển thì vẫn giữ được cái lý của bố cục. Đây là chỗ cho thấy người dựng đền hiểu rằng phần cốt là nhịp chứ không phải kích thước.
Thứ ba là vùng đất Đà Nẵng. Thành phố nằm giữa một bên là biển và một bên là dãy núi, sông Hàn chảy qua giữa. Trong phép xem đất, một vùng có sơn thủy giao hội, tức núi và nước gặp nhau, được coi là vùng đất tụ khí bậc cao. Một công trình đặt trong vùng ấy không cần tự tìm thế núi cho riêng mình, vì thế lớn của cả vùng đã đủ. Điều nó cần lo chỉ là giữ cho khoảnh đất của mình đừng bị nhịp phố cuốn đi, và đó chính là việc mà mặt tiền ba cửa làm.
Cuối cùng là một điều nên nói cho công bằng. Chỉ dẫn dựng đền năm 1955 bàn về chữ, nét và màu, tức về ngôn ngữ tạo hình, chứ không bàn một chữ nào về đất đai hay phương hướng theo lối địa lý. Những gì ghi ở đây chỉ là cách một con mắt phong thủy sẽ nhìn khi đứng trước công trình, và thư viện đọc như vậy để người Việt quen lối cổ truyền dễ hình dung, không phải để nói thay cho hội thánh.
VLễ Và Nếp Tu
Nếp thường ngày ở đây là cúng tứ thời, tức bốn thời cúng trong một ngày đêm theo lối chung của đạo Cao Đài. Đơn vị cơ sở của hội thánh gọi là họ đạo, và trong năm có mấy kỳ đại lễ mà bổn đạo các họ đạo cùng về giáo sở trung ương.
| Ngày âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 9 tháng Giêng | Vía Đức Chí Tôn | Đại lễ đầu năm, kỳ lễ lớn nhất trong năm của đạo. Bổn đạo các họ đạo miền Trung về Trung Hưng Bửu Tòa hành lễ. |
| Rằm tháng Giêng | Lễ Thượng Nguơn | Kỳ nguơn đầu trong ba kỳ nguơn của một năm hành đạo. |
| Rằm tháng Bảy | Lễ Trung Nguơn | Kỳ nguơn giữa năm, gắn với việc cầu siêu và báo hiếu. |
| Rằm tháng Tám | Vía Đức Phật Mẫu | Lễ dâng lên Đức Phật Mẫu, tức ngôi Mẹ trong hệ thống thờ tự của đạo Cao Đài. |
| Rằm tháng Mười | Lễ Hạ Nguơn | Kỳ nguơn cuối, khép lại vòng lễ tiết của một năm hành đạo. |
| Mùng 1 tháng 6 dương lịch | Kỷ niệm khánh thành và lập hội thánh | Ngày khánh thành Trung Hưng Bửu Tòa năm 1956, cũng là ngày Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài hình thành. |
Về ăn chay, tín đồ giữ chay theo kỳ, thấp nhất là sáu ngày trong tháng, lên dần tới mười ngày, rồi trường chay đối với người thọ phẩm vị và người theo phần tâm pháp. Vì hội thánh đi cả hai mặt công truyền và vô vi, người tu ở đây có thể vừa dự phần phổ độ của họ đạo vừa giữ phần công phu riêng.
Về phẩm phục, chức sắc mặc lễ phục theo phẩm vị và theo phái, ba màu vàng, xanh và đỏ ứng với ba phái Thái, Thượng và Ngọc. Tín đồ mặc áo dài trắng. Cách xếp chỗ trong Cửu Trùng Đài theo phẩm vị và theo giới, nam một bên, nữ một bên, đúng với cách chia ba cửa ở mặt tiền.
Một ghi chú về vùng: khu vực này của Đà Nẵng có nhiều cơ sở thờ tự của các tôn giáo khác nhau nằm gần nhau trong bán kính vài trăm mét, trong đó có nhà thờ Tin Lành. Với người muốn tìm hiểu đời sống tôn giáo của thành phố, đó là một điều đáng để ý.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Số 63 đường Hải Phòng, phường Thạch Thang, quận Hải Châu cũ, Đà Nẵng
- Đường tới
- Nằm ở số 63 đường Hải Phòng, phường Thạch Thang, thuộc quận Hải Châu cũ, Đà Nẵng. Vị trí ngay trung tâm thành phố, đi bộ được từ khu vực ga và từ bờ tây sông Hàn.
- Toạ độ
- 16.0721, 108.2171
Đây là nơi hành đạo đang hoạt động chứ không phải công trình tham quan, nên lệ của nơi ấy là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc: bỏ giày dép trước khi vào lòng đền, ăn mặc kín đáo, đi đúng cửa dành cho nam hoặc cho nữ theo chỉ dẫn tại chỗ và không đi cửa giữa vì cửa ấy dành cho chức sắc, đi nhẹ và không nói chuyện trong lúc đang cúng. Người không phải tín đồ vẫn được vào xem, nhưng đứng ở khu vực dành cho khách chứ không đứng lẫn vào hàng người đang hành lễ. Việc chụp ảnh trong lòng đền xin hỏi người trực ở cửa trước khi giơ máy.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Trung Hưng Bửu Tòa
Contribute photos, information or video for Trung Hung Buu Toa, Holy See of the Cao Dai Missionary ChurchThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Trung Hưng Bửu Tòa thờ ai
Thờ Đức Chí Tôn, tức Đấng Tối Cao theo giáo lý đạo Cao Đài, biểu thị bằng Thiên Nhãn chứ không tạc tượng. Công trình chia ba phần là Hiệp Thiên Đài, Cửu Trùng Đài và Bát Quái Đài. Đây là giáo sở trung ương của Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài.
Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài khác các chi phái khác chỗ nào
Khác ở địa bàn và ở cách ghép hai đường tu. Đây là hội thánh Cao Đài duy nhất có giáo sở trung ương ở miền Trung, trong khi sáu chi phái kia đều ở Nam Bộ. Về đường tu, hội thánh chủ trương đi cả hai mặt cùng lúc: công truyền phổ độ và tâm pháp vô vi.
Trung Hưng Bửu Tòa xây năm nào
Khởi công ngày 28 tháng 11 năm 1955, nhằm rằm tháng mười năm Ất Mùi, và khánh thành ngày 1 tháng 6 năm 1956. Ngày khánh thành cũng là ngày Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài chính thức hình thành, nên ngôi đền và hội thánh ra đời cùng một ngày.
Chữ Việt nét Việt màu Việt nghĩa là gì
Đó là nội dung chỉ dẫn dựng đền được ban ra năm 1955, đòi công trình phải mang chữ Việt, nét Việt và màu Việt, hòa lối kiến trúc Đông và Tây cùng lối trang trí đương thời nhưng giữ cho được hồn thuần Việt. Dấu rõ nhất là chữ trên hoành phi câu đối viết bằng quốc ngữ chứ không dùng chữ vuông.
Ba cửa ở mặt tiền dùng để làm gì
Ba cửa chia lối đi theo phẩm vị và theo giới: cửa giữa dành cho chức sắc, hai cửa nhỏ hai bên dành cho nam và cho nữ. Đây là quy định về hành lễ, khác với tam quan của chùa vốn là một cổng đứng riêng ngoài sân và mang nghĩa biểu tượng trong giáo lý Phật Giáo.