ITrước Khi Đọc
Trong thế giới nghi lễ của Thần Đạo Nhật Bản, bên cạnh những bài khấn trang trọng do thần chức đọc bên trong điện thờ gỗ bách như Haraekotoba hay Ōharae no Kotoba, còn có một dòng chảy tâm linh thứ hai mãnh liệt không kém: dòng chảy của những người mặc áo trắng bước vào dòng thác băng giá giữa mùa đông để làm lễ Misogi (tẩy mình bằng nước) và những đoàn người chống gậy gỗ băng qua sương mù leo lên đỉnh núi Phú Sĩ hay núi Ontake. Hai văn bản vang lên thường xuyên nhất trong những cuộc rèn luyện thân tâm giữa thiên nhiên hùng vĩ ấy chính là Amatsu Norito (Thiên Chúc Từ) và Rokkon Shōjō (Lục Căn Thanh Tịnh).
Tên gọi Amatsu Norito nghĩa đen là Lời Chúc Từ Của Cõi Trời (Amatsu là thuộc về cõi trời cao, Norito là lời chúc tụng, tấu thỉnh dâng lên chư thần kami). Cụm từ Amatsu Norito no futo-norito-goto (Lời đại chúc từ của cõi trời) vốn xuất hiện ngay ở giữa bài Đại Phất cổ đại (Ōharae no Kotoba) như một danh hiệu bí nhiệm mà suốt nhiều thế kỷ các học giả từng tranh luận xem nội dung cụ thể của lời chúc từ ấy là gì. Đến cuối thời kỳ Edo, học giả lớn của trường phái Quốc học (Kokugaku) là Hirata Atsutane (1776 tới 1843) đã công bố văn bản Amatsu Norito mở đầu bằng câu Takama-no-hara ni kamu-tsumarimasu, kết hợp vòm trời khởi nguyên của Đại Phất với cuộc tắm gội của thần Izanagi tại cửa sông Awagi-hara và lời thỉnh mời tám trăm vạn chư thần thiên địa cùng vểnh tai ngựa trời lắng nghe. Đi liền với Amatsu Norito trong các dòng Cổ Thần Đạo (Koshintō) là bài đếm số cổ Hifumi Norito gắn với mười pháp bảo thiêng liêng (Tokusa no Kandakara) dùng để đánh thức sinh lực và trấn định tâm hồn (Chinkon).
Nếu Amatsu Norito hướng lên cánh đồng trời cao Takama-no-hara để thanh tẩy vũ trụ bên ngoài, thì Rokkon Shōjō lại quay mũi nhọn thanh lọc vào ngay sáu cửa ngõ giác quan bên trong cơ thể con người: mắt (nhãn căn), tai (nhĩ căn), mũi (tỷ căn), lưỡi (thiệt căn), thân xác (thân căn) và ý thức (ý căn). Vốn bắt nguồn từ thuật ngữ Phật giáo Đại Thừa (trong kinh Pháp Hoa) rồi hội nhập sâu vào truyền thống tu núi Shugendō và Thần Đạo hành hương núi thiêng, câu niệm Rokkon shōjō, oyama wa seiten (Sáu căn trong sạch, cầu cho trên núi trời quang mây tạnh) đã trở thành tiếng hô nhịp bước chân quen thuộc nhất trên mọi cung đường leo núi Nhật Bản suốt nhiều thế kỷ qua.
Chuyên khảo này trình bày trọn vẹn 18 câu của ba văn bản liên hoàn bằng hệ phiên tự Latinh Hepburn chuẩn quốc tế, kèm cột chỉ dẫn nhịp ngân Norito và phân tích từ nguyên tiếng Nhật cổ (Yamato kotoba), đặt cạnh bản dịch tiếng Việt và tiếng Anh của thư viện.
Khảo cứu lịch sử văn bản cho thấy mối quan hệ cực kỳ thú vị giữa ba bài khấn tẩy uế của Thần Đạo là Ōharae no Kotoba, Haraekotoba và Amatsu Norito. Trong bộ luật lễ Engishiki (Diên Hỷ Thức, hoàn thành năm 927), quyển thứ 8 chép bài Minazuki no Tsugomori no Ōharae (Đại Phất cuối tháng Sáu), mở đầu bằng cảnh chư thần hội họp trên cánh đồng trời cao Takama-no-hara dưới mệnh lệnh của hai vị thần tổ nam nữ là Kamu-rogi và Kamu-romi. Trong khi đó, bài Haraekotoba tám dòng dùng phổ biến tại các thần xã thuộc hệ thống Thần xã Bản sảnh (Jinja Honchō) ngày nay lại mở đầu thẳng bằng tên thần Izanagi no Ōkami tẩy mình ở đất Tsukushi (theo tích trong bộ Kojiki năm 712). Văn bản Amatsu Norito do Hirata Atsutane khảo đính trong tác phẩm Amatsu Norito Kō chính là chiếc gạch nối hợp nhất cả hai truyền thống ấy: bài mở bằng Takama-no-hara ni kamu-tsumarimasu, Kamu-rogi Kamu-romi no mikoto mochite của Engishiki, rồi nối thẳng vào sumemioya kamu Izanagi no mikoto đi tẩy mình ở Awagi-hara, và ở phần kết giữ nguyên hình ảnh cổ kính của Engishiki là chư thần trên trời dưới đất cùng dựng đứng đôi tai tuấn mã thiên giới (ame noabikoma hoặc ame no fuchikoma no mimi furitate-te) để lắng nghe lời khấn.
Về phần Hifumi Norito và phép Tokusa no Kandakara (Mười Pháp Bảo Thiêng), nguồn sử liệu cổ nhất ghi chép công thức này là bộ Sendai Kuji Hongi (Tiên Đại Cựu Sự Bản Kỷ, biên soạn vào khoảng thế kỷ thứ 9, gắn với dòng họ vật tế cổ đại Mononobe thờ tại đại xã Isonokami Jingū ở tỉnh Nara). Sách chép rằng khi thần tổ Nigihayahi no Mikoto từ trời giáng xuống đã được trao mười báu vật thần linh (gồm một tấm gương biển khơi, một tấm gương bờ gần, một thanh kiếm tám nắm, một viên ngọc sinh sự sống, một viên ngọc hồi sinh sau cái chết, một viên ngọc vẹn toàn, một viên ngọc hóa giải chiều ngược, một dải khăn xua loài rắn, một dải khăn xua loài ong và một dải khăn xua muôn vật dữ), kèm lời dặn: nếu có ai đau yếu tổn thương, hãy đọc mười tiếng đếm Hito, futa, mi, yo, itsu, mu, nana, ya, kokono, tari rồi lắc nhẹ pháp bảo mà đọc Furube yura yura to furube, ngay cả người sắp tắt hơi cũng được hồi sinh khí lực.
Về phần Rokkon Shōjō no Ōharae, công trình nghiên cứu của Carmen Blacker và Allan G. Grapard chỉ ra rằng văn bản này kết tinh từ nền văn hóa hành hương núi thiêng thời Trung cổ và cận đại Nhật Bản. Khi các hành giả yamabushi và các hội hành hương dân gian (kō) như Fujikō (leo núi Phú Sĩ) hay Ontake-kyō (leo núi Ontake cao hơn ba nghìn mét ở tỉnh Nagano) vượt qua sáu chặng đường núi hiểm trở, họ coi mỗi trạm dừng trên sườn núi là bước cởi bỏ một lớp bụi trần của sáu giác quan, để khi đặt chân lên đỉnh núi đón ánh mặt trời mọc (goraikō), năm tạng trong thân thể hòa làm một với nguyên khí của trời đất.
IIToàn Văn Amatsu Norito, Hifumi Norito Và Rokkon Shōjō
Bảng bốn cột dưới đây trình bày trọn vẹn 18 câu theo đúng chuẩn quốc tế không dùng ký tự chữ Hán: cột thứ nhất là nguyên văn tiếng Nhật cổ điển phiên tự Hepburn có dấu trường âm; cột thứ hai hướng dẫn cách ngắt hơi, ngân giọng theo lối tụng Norito cổ truyền và giải thích cấu trúc ngữ pháp của từng cụm từ gốc; hai cột tiếp theo là bản dịch tiếng Việt và tiếng Anh của thư viện.
| Câu | Nguyên văn tiếng Nhật cổ (Hepburn) | Nhịp đọc Norito và cấu trúc từ nguyên | Tiếng Việt | Tiếng Anh |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Takama-no-hara ni kamu-tsumarimasu, Kamu-rogi Kamu-romi no mikoto mochite, | Ta-ka-ma-no-ha-ra ni / ka-mu-tsu-ma-ri-ma-su // Ka-mu-ro-gi / Ka-mu-ro-mi no mi-ko-to mo-chi-te (Mở giọng cao và trang nghiêm; kamu-tsumarimasu = chư thần ngự trị quy tụ; mikoto mochite = vâng theo thánh mệnh). | [Amatsu Norito - Câu 1] Trên Cánh Đồng Trời Cao (Takama-no-hara) nơi chư thần ngự trị và tề tựu, vâng theo thánh mệnh cao cả của Nhị Vị Thần Tổ Nam Nữ nguyên thủy là Đức Kamu-rogi và Đức Kamu-romi, | [Amatsu Norito - Line 1] On the High Plain of Heaven (Takama-no-hara) where the kami dwell and assemble, by the august command of the Primordial Male and Female Ancestral Deities, Kamu-rogi and Kamu-romi, |
| 2 | sumemioya kamu Izanagi no mikoto, Tsukushi no Himuka no Tachibana no Odo no Awagi-hara ni, | su-me-mi-o-ya / ka-mu I-za-na-gi no mi-ko-to // Tsu-ku-shi no Hi-mu-ka no / Ta-chi-ba-na no O-do no / A-wa-gi-ha-ra ni (Đọc liền một hơi qua chuỗi năm địa danh lồng nhau nối bằng trợ từ no; sumemioya = bậc Thánh Tổ chí tôn). | [Amatsu Norito - Câu 2] bậc Hoàng Tổ Thần Linh là Đức Izanagi no Mikoto, tại cánh đồng Awagi-hara bên cửa nước nhỏ Odo vùng Tachibana thuộc xứ Himuka đảo Tsukushi, | [Amatsu Norito - Line 2] the Sovereign Ancestral Deity, the august Izanagi no Mikoto, at the plain of Awagi-hara by the small river mouth of Odo in Tachibana of Himuka in Tsukushi, |
| 3 | misogi harae tamaishi toki ni aremaseru Harai-do no Ōkami-tachi, | mi-so-gi ha-ra-e ta-ma-i-shi to-ki ni / a-re-ma-se-ru // Ha-ra-i-do no Ō-ka-mi-ta-chi (Ngân dài âm chi ở cuối câu để chuyển từ mệnh đề kể tích sang lời hô gọi trực tiếp; aremaseru = đã đản sinh hiển hiện). | [Amatsu Norito - Câu 3] vào thuở Ngài dầm mình dưới dòng nước làm lễ tắm gội tẩy uế (misogi harae), đã hóa hiện đản sinh ra chư vị Đại Thần Chốn Tẩy Uế (Harai-do no Ōkami-tachi); kính thưa chư vị, | [Amatsu Norito - Line 3] when he immersed himself in the water and performed purification (misogi harae), there were born and manifested the Great Kami of the Place of Purification (Harai-do no Ōkami-tachi); unto you, Great Kami, |
| 4 | moromoro no magagoto tsumi kegare wo, harai tamae kiyome tamae to mōsu koto no yoshi wo, | mo-ro-mo-ro no ma-ga-go-to / tsu-mi / ke-ga-re wo // ha-ra-i ta-ma-e / ki-yo-me ta-ma-e to / mō-su ko-to no yo-shi wo (Nhấn rõ ba danh từ magagoto, tsumi, kegare; đọc vang và thành kính cặp mệnh lệnh tôn kính harai tamae kiyome tamae). | [Amatsu Norito - Câu 4] cúi xin chư vị hãy quét sạch và thanh lọc cho trong trẻo hết thảy mọi điều tai ương cong lệch (magagoto), mọi lỗi lầm (tsumi) và mọi vết ô uế (kegare); duyên cớ của lời chúng con thành tâm tấu trình như thế, | [Amatsu Norito - Line 4] we pray that you sweep away and purify all manner of crooked calamities (magagoto), transgressions (tsumi), and defilements (kegare); and the purport of this humble plea which we speak, |
| 5 | amatsu kami kunitsu kami yaoyorozu no kami-tachi tomo ni, | a-ma-tsu ka-mi / ku-ni-tsu ka-mi // ya-o-yo-ro-zu no ka-mi-ta-chi to-mo ni (Đối xứng nhịp đôi giữa amatsu kami = thiên thần trên trời và kunitsu kami = địa kỳ dưới đất; yaoyorozu = tám trăm vạn, tức muôn vàn vô số). | [Amatsu Norito - Câu 5] xin chư thần trên cõi trời (amatsu kami), chư thần nơi mặt đất (kunitsu kami) cùng tám trăm vạn chư thần khắp muôn phương đồng hiệp lực, | [Amatsu Norito - Line 5] may the kami of heaven (amatsu kami), the kami of earth (kunitsu kami), and all the eight myriad kami together, |
| 6 | ame noabikoma furitate-te, kikoshimese to | a-me no a-bi-ko-ma / fu-ri-ta-te-te // ki-ko-shi-me-se to (Dị bản Engishiki đọc: ame no fuchikoma no mimi furitate-te = dựng thẳng đôi tai tuấn mã đốm của nhà trời; kikoshimese = cúi xin lắng nghe nhận lời). | [Amatsu Norito - Câu 6] như tuấn mã nhà trời vểnh cao đôi tai nhạy bén, cúi xin chư vị lắng nghe và chứng giám cho, | [Amatsu Norito - Line 6] pricking up the keen ears of the steed of heaven, deign to hear and accept, |
| 7 | kashikomi kashikomi mo mōsu. | ka-shi-ko-mi / ka-shi-ko-mi mo / mō-su (Hạ dần cao độ và thu nhỏ âm lượng ở chữ mōsu kết thúc trong tư thế cúi đầu sâu; kashikomi = với lòng kính sợ khôn xiết). | [Amatsu Norito - Câu 7] chúng con với lòng kính sợ, muôn phần kính sợ mà dâng lời bạch trình. | [Amatsu Norito - Line 7] in deepest awe, in deepest awe, we humbly speak. |
| 8 | Hito, futa, mi, yo, itsu, mu, nana, ya, kokono, tari, momo, chi, yorozu. | Hi-to / fu-ta / mi / yo / i-tsu // mu / na-na / ya / ko-ko-no / ta-ri // mo-mo / chi / yo-ro-zu (Hệ số đếm thuần Nhật Yamato kotoba từ 1 tới 10, trăm, nghìn, vạn; đọc từng âm dứt khoát từ đan điền để điều hòa hơi thở). | [Hifumi Norito - Câu 8] Một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, mười (viên mãn), trăm, nghìn, muôn vạn (sinh sôi vô tận). | [Hifumi Norito - Line 8] One, two, three, four, five, six, seven, eight, nine, ten (full completion), a hundred, a thousand, ten thousand (boundless unfolding). |
| 9 | Furube yura yura to furube. | Fu-ru-be / yu-ra yu-ra to / fu-ru-be (Câu chú trấn hồn Chinkon trong Sendai Kuji Hongi; furube = hãy rung động, đánh thức linh khí; yura yura = ngân rung nhịp nhàng như chuông ngọc). | [Chú Chinkon Tokusa - Câu 9] Hãy rung lên, ngân rung nhịp nhàng để đánh thức và quy tụ nguồn linh khí sống động! | [Tokusa Chinkon Formula - Line 9] Shake them, gently and resonantly shake them, to awaken and gather the living spirit! |
| 10 | Rokkon shōjō, oyama wa seiten! Zange zange, rokkon shōjō! | Rok-kon shō-jō / o-ya-ma wa sei-ten // Zan-ge zan-ge / rok-kon shō-jō (Khẩu hiệu tụng đối đáp theo nhịp gậy leo núi; người dẫn hô vế trước, đoàn hành hương đồng thanh đáp vế sau). | [Khẩu hiệu Leo Núi Thiêng - Câu 10] Sáu căn thanh tịnh, cầu cho trên núi thiêng trời quang mây tạnh! Gột rửa mọi lỗi lầm, sáu căn hoàn toàn thanh tịnh! | [Mountain Ascent Call - Line 10] May the six sensory roots be pure, and may the weather on the sacred mountain be clear! Casting off all faults, may the six roots be wholly pure! |
| 11 | Amatsu kami kunitsu kami yaoyorozu no kami-tachi, moromoro no tsumi kegare wo harai tamae kiyome tamae to mōsu. | A-ma-tsu ka-mi / ku-ni-tsu ka-mi / ya-o-yo-ro-zu no ka-mi-ta-chi // mo-ro-mo-ro no tsu-mi ke-ga-re wo / ha-ra-i ta-ma-e ki-yo-me ta-ma-e to mō-su (Câu khai mở bài Rokkon Shōjō no Ōharae, nối trực tiếp thần giới với sự thanh lọc nội tâm). | [Rokkon Shōjō no Ōharae - Câu 11] Kính thỉnh chư thần trên trời, chư thần dưới đất cùng tám trăm vạn chư thần, cúi xin quét sạch và thanh lọc mọi lỗi lầm cùng uế trược nơi thân tâm chúng con. | [Rokkon Shōjō no Ōharae - Line 11] Unto the kami of heaven, the kami of earth, and all the eight myriad kami, we pray: sweep away and purify all transgressions and defilements from our body and mind. |
| 12 | Hitotsu ni wa, me ni moromoro no fujō wo mizu shite, kokoro ni moromoro no fujō wo omowazu, genkon shōjō. | Hi-to-tsu ni wa / me ni mo-ro-mo-ro no fu-jō wo mi-zu shi-te // ko-ko-ro ni mo-ro-mo-ro no fu-jō wo o-mo-wa-zu / gen-kon shō-jō (Căn thứ nhất: me = mắt; mizu shite = không nhìn đắm; genkon = nhãn căn). | [Nhãn căn - Câu 12] Thứ nhất là: đôi mắt không nhìn đắm vào mọi điều bất tịnh, trong tâm không khởi niệm vẩn đục, ấy là Nhãn căn thanh tịnh (genkon shōjō). | [First Root: Eye - Line 12] First: with the eyes beholding no impurity, and the heart (kokoro) entertaining no impure thought, the root of vision is pure (genkon shōjō). |
| 13 | Futatsu ni wa, mimi ni moromoro no fujō wo kikazu shite, kokoro ni moromoro no fujō wo omowazu, jikon shōjō. | Fu-ta-tsu ni wa / mi-mi ni mo-ro-mo-ro no fu-jō wo ki-ka-zu shi-te // ko-ko-ro ni mo-ro-mo-ro no fu-jō wo o-mo-wa-zu / ji-kon shō-jō (Căn thứ hai: mimi = tai; kikazu shite = không nghe theo; jikon = nhĩ căn). | [Nhĩ căn - Câu 13] Thứ hai là: đôi tai không lắng nghe những lời bất tịnh, trong tâm không khởi niệm vẩn đục, ấy là Nhĩ căn thanh tịnh (jikon shōjō). | [Second Root: Ear - Line 13] Second: with the ears heeding no impurity, and the heart entertaining no impure thought, the root of hearing is pure (jikon shōjō). |
| 14 | Mittsu ni wa, hana ni moromoro no fujō wo kagazu shite, kokoro ni moromoro no fujō wo omowazu, bikon shōjō. | Mit-tsu ni wa / ha-na ni mo-ro-mo-ro no fu-jō wo ka-ga-zu shi-te // ko-ko-ro ni mo-ro-mo-ro no fu-jō wo o-mo-wa-zu / bi-kon shō-jō (Căn thứ ba: hana = mũi; kagazu shite = không ngửi tìm; bikon = tỷ căn). | [Tỷ căn - Câu 14] Thứ ba là: mũi không ngửi tìm những hơi hướng bất tịnh, trong tâm không khởi niệm vẩn đục, ấy là Tỷ căn thanh tịnh (bikon shōjō). | [Third Root: Nose - Line 14] Third: with the nose inhaling no impurity, and the heart entertaining no impure thought, the root of smell is pure (bikon shōjō). |
| 15 | Yottsu ni wa, shita ni moromoro no fujō wo iwazu shite, kokoro ni moromoro no fujō wo omowazu, zekkon shōjō. | Yot-tsu ni wa / shi-ta ni mo-ro-mo-ro no fu-jō wo i-wa-zu shi-te // ko-ko-ro ni mo-ro-mo-ro no fu-jō wo o-mo-wa-zu / zek-kon shō-jō (Căn thứ tư: shita = lưỡi; iwazu shite = không nói lời dối trá ác độc; zekkon = thiệt căn). | [Thiệt căn - Câu 15] Thứ tư là: đầu lưỡi không thốt ra những lời bất tịnh, trong tâm không khởi niệm vẩn đục, ấy là Thiệt căn thanh tịnh (zekkon shōjō). | [Fourth Root: Tongue - Line 15] Fourth: with the tongue uttering no impurity, and the heart entertaining no impure thought, the root of speech is pure (zekkon shōjō). |
| 16 | Itsutsu ni wa, mi ni moromoro no fujō wo furezu shite, kokoro ni moromoro no fujō wo omowazu, shinkon shōjō. | I-tsu-tsu ni wa / mi ni mo-ro-mo-ro no fu-jō wo fu-re-zu shi-te // ko-ko-ro ni mo-ro-mo-ro no fu-jō wo o-mo-wa-zu / shin-kon shō-jō (Căn thứ năm: mi = thân thể; furezu shite = không chạm phạm điều ô uế; shinkon = thân căn). | [Thân căn - Câu 16] Thứ năm là: thân thể không xúc chạm làm những việc bất tịnh, trong tâm không khởi niệm vẩn đục, ấy là Thân căn thanh tịnh (shinkon shōjō). | [Fifth Root: Body - Line 16] Fifth: with the body touching no impurity, and the heart entertaining no impure thought, the root of the body is pure (shinkon shōjō). |
| 17 | Muttsu ni wa, i ni moromoro no fujō wo omowazu shite, kokoro ni moromoro no fujō wo omowazu, ikon shōjō. | Mut-tsu ni wa / i ni mo-ro-mo-ro no fu-jō wo o-mo-wa-zu shi-te // ko-ko-ro ni mo-ro-mo-ro no fu-jō wo o-mo-wa-zu / i-kon shō-jō (Căn thứ sáu: i = ý niệm; omowazu = không ôm giữ tà niệm; ikon = ý căn). | [Ý căn - Câu 17] Thứ sáu là: ý thức không mưu tính những điều bất tịnh, trong tâm không khởi niệm vẩn đục, ấy là Ý căn thanh tịnh (ikon shōjō). | [Sixth Root: Mind - Line 17] Sixth: with the conscious will pondering no impurity, and the heart entertaining no impure thought, the root of mind is pure (ikon shōjō). |
| 18 | Kono rokkon shōjō naru ga yue ni, gozō no shin-kon arawarete, tenchi no shin-ki to dōkon nari. Rokkon shōjō, rokkon shōjō, harai tamae kiyome tamae. | Ko-no rok-kon shō-jō na-ru ga yu-e ni // go-zō no shin-kon a-ra-wa-re-te / ten-chi no shin-ki to dō-kon na-ri // Rok-kon shō-jō / rok-kon shō-jō / ha-ra-i ta-ma-e ki-yo-me ta-ma-e (Kết bài hào sảng; gozō no shin-kon = thần hồn của ngũ tạng; tenchi no shin-ki to dōkon = đồng một gốc rễ với thần khí trời đất). | [Kết bài Rokkon Shōjō - Câu 18] Nhờ sáu căn đều đã trong sạch tinh khiết như vậy, thần hồn nơi năm tạng hiển lộ sáng ngời, hòa làm một cội rễ với thần khí của trời đất! Lục căn thanh tịnh, lục căn thanh tịnh, cúi xin quét sạch và làm cho trong sáng vẹn toàn! | [Conclusion of Rokkon Shōjō - Line 18] Because these six sensory roots are pure, the divine spirit of the five internal organs shines forth and is one single root with the divine breath of heaven and earth! Six roots pure, six roots pure, sweep away defilement and make all radiantly clean! |
Bảng đối chiếu văn bản học giữa Haraekotoba, Amatsu Norito và Ōharae no Kotoba
Người mới tìm hiểu văn hiến Thần Đạo thường dễ bối rối trước ba bài khấn tẩy uế có nhiều câu chữ gần giống nhau: Haraekotoba, Amatsu Norito và Ōharae no Kotoba. Bảng khảo chứng dưới đây đặt ba văn bản cạnh nhau để làm rõ cấu trúc lắp ghép và phạm vi sử dụng của từng bài.
| Phần văn bản | Haraekotoba (Bản chuẩn Jinja Honchō) | Amatsu Norito (Bản Hirata Atsutane / Koshintō) | Ōharae no Kotoba (Bản Engishiki năm 927) |
|---|---|---|---|
| Câu mở đầu định vị không gian | Mở thẳng bằng Kakemaku mo kashikoki Izanagi no Ōkami (không có câu Takama-no-hara). | Mở bằng Takama-no-hara ni kamu-tsumarimasu, Kamu-rogi Kamu-romi no mikoto mochite. | Mở bằng đoạn triệu tập hoàng thân quốc thích rồi vào Takama-no-hara ni kamu-tsumarimasu... |
| Đoạn kể tích tắm gội tẩy uế | Kể tích Izanagi tẩy mình tại Tsukushi no Himuka no Tachibana no Odo no Awagihara và sinh ra Haraedo no Ōkami-tachi. | Giữ nguyên tích sumemioya kamu Izanagi no mikoto tẩy mình ở Awagi-hara, dùng động từ cổ aremaseru (đản sinh). | Không kể tích Izanagi ở Awagi-hara mà kể tích thiên tôn Ninigi giáng trần và liệt kê các tội trên trời, tội dưới đất. |
| Lời cầu xin thanh tẩy | Moromoro no magagoto tsumi kegare aramu o ba, harae tamai kiyome tamae to. | Moromoro no magagoto tsumi kegare wo, harai tamae kiyome tamae to mōsu koto no yoshi wo. | Mô tả bốn nữ thần tẩy uế cuốn trôi mọi uế trược ra biển cả và cõi Ne-no-kuni. |
| Hình ảnh ngựa trời lắng nghe ở cuối bài | Rút gọn thành mōsu koto o kikoshimese to, kashikomi kashikomi mo mōsu (bỏ hình ảnh ngựa trời). | Giữ trọn amatsu kami kunitsu kami yaoyorozu no kami-tachi tomo ni, ame noabikoma furitate-te, kikoshimese to. | Có nguyên mẫu amatsu kami kunitsu kami... ame no fuchikoma no mimi furitate-te kikoshimese to. |
| Môi trường hành trì chính | Đọc mở đầu mọi nghi lễ tại các thần xã thuộc Jinja Honchō và trước bàn thờ gia đình (kamidana). | Đọc trong các dòng Cổ Thần Đạo (Koshintō), Misogi-kyō, lễ Chinkon và đạo đường võ thuật truyền thống (như Aikido). | Đọc tại đại lễ tẩy uế cuối tháng Sáu và tháng Mười Hai âm lịch, hoặc đọc hàng ngày để rèn luyện tâm thức. |
IIIGiải Nghĩa Chuyên Sâu Từng Đoạn Và Khảo Nguyên Thuật Ngữ
Mười mục dưới đây phân tích chi tiết nghĩa gốc tiếng Nhật cổ, triết lý linh hồn của thuyết Kotodama (Ngôn linh) và sự giao thoa giữa Thần Đạo với Phật giáo sơn nhạc trong từng đoạn kinh.
Khác với bài Haraekotoba đi thẳng vào tên thần Izanagi, bài Amatsu Norito mở ra ngay ở tầng cao nhất của vũ trụ quan Thần Đạo: Takama-no-hara (Cánh Đồng Trời Cao), nơi ngự trị của các vị Thiên thần khởi nguyên (Amatsu kami). Động từ cổ kamu-tsumarimasu (cũng đọc là kamu-zumarimasu) ghép tiền tố tôn xưng kamu (thần thánh) với động từ tsumaru / todomaru (quy tụ, ngự trị vững vàng).
Hai danh hiệu Kamu-rogi và Kamu-romi là cặp thần tổ nguyên lý âm dương của vòm trời: hậu tố -rogi chỉ ngôi tổ phụ nam tính thiêng liêng (như vị thần Takamimusubi no Kami), còn hậu tố -romi chỉ ngôi tổ mẫu nữ tính thiêng liêng (như vị nữ thần mặt trời Amaterasu Ōmikami thờ tại Thần cung Ise). Cụm mikoto mochite nghĩa là vâng theo lời truyền dạy thiêng liêng của nhị vị ấy, đặt hành động tẩy uế của con người dưới trật tự sáng thế của vũ trụ.
Ở câu thứ hai, thần Izanagi được tôn xưng bằng cụm từ cổ kính sumemioya (ghép từ sume là chí tôn, thống lĩnh, mi là tiếp đầu ngữ tôn kính, và oya là bậc cha mẹ tổ tiên). Khi Izanagi từ cõi âm Yomi-no-kuni trở về mang theo khí uế của sự chết chóc, ngài đã tìm tới cửa sông nơi dòng nước ngọt gặp sóng biển mặn tại cánh đồng Awagi-hara ở xứ Himuka (tỉnh Miyazaki trên đảo Kyūshū ngày nay) để làm lễ tắm gội đầu tiên trong lịch sử thần thoại.
Sự khác biệt nhỏ nhưng giàu ý nghĩa giữa Haraekotoba và Amatsu Norito ở câu thứ ba nằm ở động từ: nếu Haraekotoba dùng narimaseru (hóa thành, tự thành hình), thì Amatsu Norito dùng aremaseru (từ động từ cổ aru, nghĩa là đản sinh, hiển hiện rạng rỡ ra ánh sáng), nhấn mạnh sức sống mới mẻ bật ra ngay khi lớp bùn nhơ được gột sạch.
Câu 5 và câu 6 là nét đặc sắc nhất của bài Amatsu Norito so với bài Haraekotoba ngắn. Sau khi cầu xin các vị Đại Thần Chốn Tẩy Uế (Harai-do no Ōkami-tachi) quét sạch tai ương (magagoto), lỗi lầm (tsumi) và ô uế (kegare), người đọc mở rộng lời thỉnh cầu tới toàn thể amatsu kami (chư thần trên trời), kunitsu kami (chư thần giữ đất đai núi sông) và yaoyorozu no kami-tachi (tám trăm vạn chư thần trong vạn vật).
Hình ảnh tu từ ở câu 6, ame noabikoma furitate-te (dị bản trong Engishiki đọc đầy đủ là ame no fuchikoma no mimi furitate-te), là một ẩn dụ sinh động từ thời cổ đại: fuchikoma (hoặc abikoma) là con ngựa thần sắc lông đốm của cõi trời. Loài ngựa vốn có đôi tai cực kỳ thính nhạy, khi nghe tiếng động từ xa liền dựng đứng hai tai lên và xoay hướng về phía âm thanh. Lời khấn ví von việc chư thần khắp trời đất chăm chú lắng nghe tiếng tụng Norito của người trần giống hệt như tuấn mã thiên giới vểnh cao đôi tai không bỏ sót một âm tiết nào.
Theo học thuyết Kotodama (Ngôn linh, niềm tin rằng mỗi âm thanh nguyên thủy của tiếng Nhật cổ đều mang tần số rung động của vũ trụ), mười con số thuần Nhật trong câu 8 không chỉ dùng để tính đếm vật lượng mà là một chuỗi biến dịch của sự sống: Hito (1, chữ hi đồng âm với hi là mặt trời và linh hỏa bi khởi phát từ hư không), Futa (2, phân cực thành âm dương), Mi (3, mi đồng âm với mi là quả hạt, thân thể thành hình), Yo (4, bốn phương thế gian mở rộng), Itsu (5, itsu là uy linh ngưng tụ ở trung tâm), Mu (6, sáu hướng hòa hợp), Nana (7, thành tựu biến hóa), Ya (8, ya là càng lúc càng mở rộng vô cùng), Kokono (9, kokono là ngưng kết tới cực điểm trước bước nhảy mới), và Tari (10, từ động từ taru là đầy đủ, viên mãn tròn đầy), trước khi bung ra thành momo, chi, yorozu (trăm, nghìn, vạn).
Câu thứ chín, Furube yura yura to furube, xuất phát từ nghi thức Chinkon (Trấn hồn, đọc theo âm Nhật là mitama-shizume). Động từ furu vừa có nghĩa là lắc nhẹ (như lắc mười pháp bảo Tokusa no Kandakara), vừa liên hệ với chữ furu (rung động linh khí). Trong truyền thống Koshintō, con người bị bệnh tật hay suy sụp tinh thần là do linh hồn (tama) bị phân tán và khô héo; đọc câu chú Furube yura yura to furube kèm động tác đan tay rung nhẹ trước đan điền giúp đánh thức và quy tụ nguồn linh khí trở về trung tâm cơ thể.
Bước sang phần Rokkon Shōjō, câu 10 là khẩu hiệu hành hương đã vang vọng suốt hàng trăm năm trên các sườn núi Phú Sĩ, núi Ontake, núi Ōmine và ba ngọn núi Dewa Sanzan. Người dẫn đầu đoàn hành hương (gọi là sendatsu, mặc áo trắng shiro-shōzoku, đội nón cói, tay cầm trượng gỗ gắn vòng kim loại shakujō) vừa bước lên bậc đá dốc đứng vừa hô vang: Zange zange! (Hãy gột rửa mọi lỗi lầm!), và cả đoàn phía sau đồng thanh đáp theo nhịp chân: Rokkon shōjō! (Sáu căn hoàn toàn thanh tịnh!), rồi tiếp nối bằng lời cầu chúc: Oyama wa seiten! (Cầu cho trên ngọn núi thiêng bầu trời trong xanh nắng rạng!).
Cặp vế này gắn kết trực tiếp trạng thái nội tâm với thiên nhiên bên ngoài: trên những ngọn núi cao trên ba nghìn mét vốn thường xuyên có bão tuyết và sương mù dày đặc, người hành hương tin rằng khi sáu căn của đoàn người hoàn toàn trong sạch không chút tạp niệm, ngọn núi thiêng (oyama) sẽ mở lòng đón nhận bằng một bầu trời quang đãng (seiten).
Từ câu 12 tới câu 14 đi vào phần thân của bài Rokkon Shōjō no Ōharae (Lục Căn Thanh Tịnh Đại Phất). Cấu trúc của mỗi câu đều gồm hai tầng bảo vệ: tầng ngoài là cơ quan cảm giác (mắt me, tai mimi, mũi hana) không chạy theo những cảnh tượng, âm thanh và mùi vị bất tịnh (moromoro no fujō); nhưng quan trọng hơn cả là điệp khúc lặp lại ở tầng trong: kokoro ni moromoro no fujō wo omowazu (trong tâm không ôm giữ hay suy tưởng điều bất tịnh).
Điểm tinh tế của triết lý này nằm ở chỗ: trong đời sống hàng ngày, con mắt hay đôi tai đôi khi không thể tránh khỏi việc bắt gặp những cảnh xấu hay lời nói ác độc từ bên ngoài; nhưng nếu ngay khoảnh khắc ấy tâm (kokoro) không bám chấp, không lưu giữ hình ảnh và âm thanh ô uế ấy vào trong lòng, thì Nhãn căn (genkon), Nhĩ căn (jikon) và Tỷ căn (bikon) vẫn giữ nguyên sự thanh tịnh bản nhiên.
Từ câu 15 tới câu 17 hoàn tất vòng thanh lọc sáu căn bằng ba cửa ngõ gắn liền với hành động tạo nghiệp: Shita (lưỡi, tương ứng với zekkon tức thiệt căn, giữ cho lời nói chân thật, hòa ái, không buông lời dối trá hay rủa sả), Mi (thân thể, tương ứng với shinkon tức thân căn, giữ cho tay chân không làm điều bạo ngược hay chạm vào sự nhơ nhớp), và I (ý thức suy lường, tương ứng với ikon tức ý căn, làm chủ dòng tư tưởng không để tham lam, thù hận và tà kiến dẫn dắt). Sự kết hợp giữa từ thuần Nhật (me, mimi, hana, shita, mi) ở nửa đầu câu với thuật ngữ âm Hán Nhật (genkon, jikon, bikon, zekkon, shinkon, ikon) ở cuối câu là dấu ấn tiêu biểu của văn chương dung hợp Thần Phật tại Nhật Bản.
Câu 18 khép lại bài Rokkon Shōjō no Ōharae bằng một tuyên ngôn hợp nhất giữa cơ thể học đạo gia, Phật giáo và vũ trụ quan Thần Đạo. Khi cả sáu căn không còn bị bụi trần che lấp, gozō no shin-kon arawarete: thần hồn trú ngụ trong năm tạng của cơ thể (tâm, can, tỳ, phế, thận) liền hiển lộ sáng ngời, và ngay lập tức tenchi no shin-ki to dōkon nari: nhận ra mình vốn cùng chung một gốc rễ (dōkon) với thần khí bao la của trời đất (tenchi no shin-ki). Ở trạng thái ấy, ranh giới giữa người hành hương nhỏ bé và ngọn núi thiêng hùng vĩ hoàn toàn tan biến.
IVThực Hành Amatsu Norito Và Rokkon Shōjō Trong Lễ Tắm Thác Misogi Và Leo Núi Thiêng
Trong thực hành của Nghi Lễ Thần Đạo và hệ thống Phẩm Trật Thần Đạo, ba văn bản trên trang này không phải là những bài thơ đọc trong phòng kín mà luôn đi liền với những phương pháp rèn luyện thân thể và hơi thở rất cụ thể.
Tại các thần xã có dòng thác thiêng (như thần xã Tsubaki Ōkami Yashiro ở tỉnh Mie hay thác Kuzuryū ở Hakone) cũng như trong giáo phái Misogi-kyō do Inoue Masakane (1790 tới 1849) sáng lập, trước khi người hành lễ mặc khố trắng (nam) hoặc áo trắng (nữ) bước xuống làn nước lạnh buốt, toàn bộ quá trình chuẩn bị đều xoay quanh Amatsu Norito, Hifumi và Rokkon Shōjō:
Trước hết là động tác Torifune (Chèo thuyền trời): người tập đứng tấn vững chãi, hai tay nắm chặt thực hiện động tác chèo thuyền mạnh mẽ về phía trước theo ba nhịp chậm, vừa và nhanh, miệng hô vang Iya-sa-ka! và đếm to chuỗi số Hifumi (Câu 8) để làm nóng toàn thân. Ngay sau mỗi lượt chèo thuyền, người tập thu hai tay đan vào nhau trước bụng dưới (đan điền), rung nhẹ đôi tay theo chiều dọc và đọc câu chú Furube yura yura to furube (Câu 9) kết hợp hít thở sâu (Ibuki). Tiếp theo, người dẫn lễ đọc vang bài Amatsu Norito (Câu 1 tới Câu 7) và động tác cắt chín chữ ánh sáng (Kuji) vào không trung. Cuối cùng, khi bước thẳng vào dưới cột nước thác đổ từ trên cao xuống đỉnh đầu, người hành lễ liên tục tụng to Harai tamae kiyome tamae, rokkon shōjō! để dòng nước lạnh cuốn trôi mọi tạp niệm.
Đoàn người mặc áo trắng đóng dấu mộc đỏ của từng trạm núi, tay chống gậy gỗ Kongōzue, vừa bước vừa hòa nhịp hơi thở vào câu niệm Rokkon shōjō, oyama wa seiten suốt từ chân núi lên tới miệng núi lửa trên đỉnh.
Ngồi tĩnh tọa theo tư thế seiza trước bàn thờ, kết ấn Chinkon-in đặt trước đan điền, tụng bài Amatsu Norito rồi đọc mười tiếng đếm Hifumi và câu Furube yura yura to furube để thu nhiếp tâm thần sau một ngày làm việc.
Tổ sư môn võ Aikido là Morihei Ueshiba (1883 tới 1969) từng tụng bài Amatsu Norito mỗi sáng trước khám thờ kamiza của đạo đường Iwama, coi chuyển động võ thuật chính là sự thể hiện bằng thân thể của Misogi và sự hòa hợp với thần khí trời đất.
Tại nhiều vùng của Nhật Bản, những thanh niên khiêng kiệu thần Mikoshi hoặc kéo xe hội vẫn giữ tục hô vang biến thể của câu Rokkon shōjō (đọc trại âm dân gian thành Dokkoi-sho! hoặc Wasshoi!) để lấy sức nâng kiệu.
VNhững Chỗ Hay Hiểu Lầm
Khi tiếp cận Amatsu Norito và Rokkon Shōjō, người đọc và khách du lịch Nhật Bản thường gặp năm điều dễ nhầm lẫn dưới đây.
Thực tế hai bài có chung phần thân kể tích thần Izanagi tẩy mình ở Awagi-hara. Chỗ khác là Amatsu Norito mở đầu bằng câu Takama-no-hara ni kamu-tsumarimasu... và giữ lại hình ảnh ngựa trời vểnh tai lắng nghe ở cuối bài theo phong cách cổ của bộ Engishiki.
Tuy dùng đúng mười từ đếm thuần Nhật từ 1 tới 10 (hito, futa, mi, yo...), trong nghi lễ Thần Đạo và sách Sendai Kuji Hongi, đây là bài chúc từ gắn với việc rung mười pháp bảo thiêng (Tokusa no Kandakara) để điều tức hơi thở và đánh thức sinh lực nội tâm.
Khái niệm Lục căn (sáu giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) và Lục căn thanh tịnh vốn bắt nguồn từ kinh điển Phật giáo (như phẩm Pháp Sư Công Đức trong kinh Pháp Hoa), sau đó được truyền thống tu núi Shugendō và Thần Đạo tiếp nhận, kết hợp với phép tẩy uế harae để tạo nên bài Rokkon Shōjō no Ōharae.
Bài kinh viết rất rõ ở mỗi câu: kokoro ni moromoro no fujō wo omowazu (trong tâm không khởi niệm ô uế). Mắt vẫn nhìn, tai vẫn nghe giữa đời sống thực tế, nhưng tâm thức giữ sự trong sáng, không để ngoại cảnh làm vẩn đục.
Nhiều nhà ngôn ngữ học và dân tộc học Nhật Bản chỉ ra rằng tiếng hô Dokkoi-sho khi nâng vật nặng hay khiêng kiệu hội có một trong những nguồn gốc trực tiếp từ câu niệm Rokkon shōjō của các đoàn hành giả leo núi thời xưa.
?Hỏi Đáp Nhanh
Amatsu Norito (Thiên Chúc Từ) là gì và khác bài Haraekotoba ở điểm nào
Amatsu Norito (Thiên Chúc Từ) là bài chúc từ tẩy uế cổ truyền được học giả Hirata Atsutane khảo cứu và phổ biến rộng rãi trong các dòng Cổ Thần Đạo (Koshintō), Misogi-kyō và Aikido. Khác với bài Haraekotoba ngắn mở đầu thẳng bằng tên thần Izanagi, Amatsu Norito mở đầu bằng câu Takama-no-hara ni kamu-tsumarimasu (Trên Cánh Đồng Trời Cao nơi chư thần ngự trị) và khép lại bằng hình ảnh tám trăm vạn chư thần dựng cao đôi tai ngựa trời lắng nghe.
Hifumi Norito và câu chú Furube yura yura to furube có nguồn gốc từ đâu
Khúc đếm Hifumi (Hito, futa, mi, yo, itsu, mu, nana, ya, kokono, tari) và câu chú Furube yura yura to furube được ghi chép sớm nhất trong bộ sử cổ Sendai Kuji Hongi (thế kỷ thứ 9) và lưu truyền tại đại xã Isonokami Jingū. Câu chú gắn với truyền thuyết mười pháp bảo thiêng (Tokusa no Kandakara) được rung lên để trấn định linh hồn (Chinkon) và phục hồi sinh lực.
Câu niệm Rokkon shōjō, oyama wa seiten khi leo núi Nhật Bản có nghĩa là gì
Rokkon shōjō nghĩa là cầu cho sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) được hoàn toàn trong sạch; oyama wa seiten nghĩa là cầu cho trên ngọn núi thiêng thời tiết quang đãng, trời xanh nắng đẹp. Đây là câu niệm theo nhịp bước chân của các đoàn hành hương leo núi Phú Sĩ, núi Ontake và các ngọn núi thiêng Nhật Bản.
Sáu căn (Rokkon) trong bài Rokkon Shōjō no Ōharae gồm những gì
Sáu căn gồm: Nhãn căn (genkon, đôi mắt), Nhĩ căn (jikon, đôi tai), Tỷ căn (bikon, mũi), Thiệt căn (zekkon, lưỡi), Thân căn (shinkon, thân thể) và Ý căn (ikon, ý thức). Bài kinh dạy rằng khi cả sáu cửa ngõ này không vướng vào điều bất tịnh và trong tâm (kokoro) không khởi tà niệm thì thần hồn năm tạng sẽ hòa làm một với thần khí trời đất.
Bài Amatsu Norito và Rokkon Shōjō được dùng thế nào trong lễ tắm thác Misogi
Trước khi bước vào dòng thác nước lạnh để làm lễ Misogi, người hành lễ thực hiện bài tập chèo thuyền (Torifune) kèm đếm to Hifumi Norito, rung tay trước đan điền đọc câu Furube yura yura to furube, tụng bài Amatsu Norito để thỉnh chư thần tẩy uế, rồi vừa đứng dưới dòng thác đổ vừa hô vang Harai tamae kiyome tamae, rokkon shōjō.
Hình ảnh ame noabikoma (ame no fuchikoma) ở cuối bài Amatsu Norito nghĩa là gì
Ame noabikoma (trong bản Engishiki viết là ame no fuchikoma no mimi furitate-te) nghĩa là tuấn mã lông đốm của cõi trời dựng thẳng đôi tai nhạy bén. Đây là hình ảnh ẩn dụ cổ đại diễn tả việc tám trăm vạn chư thần trên trời dưới đất chăm chú lắng nghe lời khấn cầu thanh tịnh của con người không bỏ sót một lời nào.