VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Bài Nguyện Trước Bàn Thông Thiên Và Cửu Huyền Thất Tổ: Trọn Bộ Nghi Thức Cúng Lạy Sớm Chiều Trong Quyển Sáu Phật Giáo Hòa Hảo

· Nghi Thức Cúng Lạy Sớm Chiều, Bài Nguyện Cửu Huyền Thất Tổ, Bài Nguyện Bàn Phật Tam Bảo, Bài Nguyện Bàn Thông Thiên, Bài Tây Phương Ngũ Nguyện

Hai mươi câu và đoạn nguyện nguyên văn trong Quyển Sáu Sấm Giảng Thi Văn Giáo Lý (tháng 5 năm Ất Dậu 1945) kết hợp truyền thống Tây Phương Ngũ Nguyện của dòng Bửu Sơn Kỳ Hương, kèm nghĩa bằng lời thường, khảo dị văn bản và bản dịch tiếng Anh

Thuộc đạo
Phật Giáo Hòa Hảo
Niên đại
Tháng 5 năm Ất Dậu, 1945, tại Sài Gòn (kế thừa mạch Bửu Sơn Kỳ Hương từ 1849)
Hệ thống bài nguyện hai thời công phu sớm chiều trước Bàn thờ Ông Bà, Bàn Phật và Bàn Thông Thiên được Đức Huỳnh Giáo Chủ ấn định chính thức bằng văn xuôi quốc ngữ vào tháng 5 âm lịch năm Ất Dậu (1945) trong Quyển 6 Cách Tu Hiền Và Sự Ăn Ở Của Một Người Bổn Đạo tại Sài Gòn, đồng thời tiếp nối bài kệ Cúi đầu lạy tạ Tổ tiên trong Quyển 5 Khuyến Thiện (1941) và bài Tây Phương Ngũ Nguyện lưu truyền từ thời Đức Phật Thầy Tây An (1849) trong tông phái Bửu Sơn Kỳ Hương.
Độ dài
20 mệnh đề và câu nguyện chia thành 3 ngôi thờ liên hoàn
Hai mươi mệnh đề chia theo đúng trình tự bước chân hành lễ của người cư sĩ tại gia: Phần I (câu 1 tới 5) là lời nguyện trước Bàn thờ Ông Bà (Cửu Huyền Thất Tổ); Phần II (câu 6 tới 12) là lời nguyện quy y và cầu nguyện trước Bàn Phật (Ngôi Tam Bảo treo tấm Trần Dà); Phần III (câu 13 tới 20) là lời nguyện trước Bàn Thông Thiên ngoài trời hướng về bốn phương cùng bài Tây Phương Ngũ Nguyện và nghi thức năm xá kết lễ.
Thường tụng khi
Hành trì đều đặn mỗi ngày hai thời công phu sớm (giờ Dần, Mão) và chiều (giờ Dậu, Tuất), các ngày Sóc Vọng (Rằm, Mồng Một), các kỳ Đại Lễ 18 tháng 5 và 25 tháng 11 âm lịch, cũng như các dịp cầu an và Chánh Kỵ tại tư gia

ITrước Khi Đọc

Mỗi buổi sáng tinh mơ khi sương còn đọng trên ngọn lúa và mỗi buổi chiều tà khi tiếng chim gọi đàn bay về rặng trâm bầu nơi châu thổ sông Tiền, sông Hậu, tại hàng triệu mái nhà của người tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo lại diễn ra một thời công phu tĩnh lặng mà trang nghiêm. Không có tiếng chuông đồng hay tiếng mõ gỗ vang rền, không có khói giấy tiền vàng mã nghi ngút, người cư sĩ trong bộ bà ba giản dị lần lượt thắp ba nén nhang thơm, dâng ly nước lạnh trong sạch trước Bàn thờ Ông Bà (Cửu Huyền Thất Tổ), bước sang Bàn Phật (Ngôi Tam Bảo treo tấm Trần Dà) trong nhà, rồi bước ra khoảng sân thoáng đãng đứng trước Bàn Thông Thiên lộ thiên giữa đất trời bao la, chắp tay đưa lên trán thành tâm đọc lời nguyện cầu cho Tổ tiên và bá tánh vạn dân khắp cả mười phương.

Trong toàn bộ di sản kinh điển của Phật Giáo Hòa Hảo, nếu các quyển Sấm Giảng Khuyên Người Đời Tu Niệm đánh thức lương tri bằng vần thơ lục bát và Tám Điều Răn Cấm vạch rõ giới luật sống giữa đời, thì hệ thống Bài Nguyện Trước Bàn Thông Thiên, Bàn Phật Và Cửu Huyền Thất Tổ trong Quyển 6 (Cách Tu Hiền Và Sự Ăn Ở Của Một Người Bổn Đạo) chính là nhịp thở tâm linh hằng ngày nuôi dưỡng đời sống Học Phật Tu Nhân. Điểm đặc sắc bậc nhất của nghi thức này nằm ở trật tự không gian ba ngôi thờ gắn liền với giáo lý Tứ Trọng Ân (bốn ân lớn: Ân Tổ tiên cha mẹ, Ân Đất nước, Ân Tam Bảo, Ân Đồng bào và Nhân loại):

Trước hết, người tín đồ bao giờ cũng bắt đầu thời cúng tại Bàn thờ Ông Bà (Cửu Huyền Thất Tổ) để trọn đạo hiếu thảo của bậc Tu Nhân; tiếp đến mới bước lên lễ Bàn Phật (Ngôi Tam Bảo) để quy y Phật, Pháp, Tăng và cầu Phật từ bi cứu độ Tổ tiên cùng cha mẹ hiện tiền; và cuối cùng bước ra ngoài sân trước Bàn Thông Thiên không mái che, mở rộng tấm lòng ra bốn phương tám hướng để cầu nguyện cho trăm họ vạn dân khắp hoàn cầu đều được tiêu tai tịnh sự, giải thoát mê ly. Như vậy, chỉ trong mười lăm tới hai mươi phút công phu mỗi buổi sớm chiều, bước chân người cư sĩ đã đi trọn hành trình từ hiếu đạo trong gia đình tới đại nguyện Bồ-tát ngoài vũ trụ.

Trang chuyên khảo này trình bày đầy đủ hai mươi mệnh đề và câu nguyện cốt lõi của nghi thức cúng lạy sớm chiều theo đúng nguyên bản Quyển 6 viết tháng 5 năm Ất Dậu (1945), đồng thời tích hợp trọn vẹn bài Tây Phương Ngũ Nguyện (Nam-mô nhứt nguyện cầu: Thiên-hoàng, Địa-hoàng, Nhơn-hoàng...) vốn được truyền thừa từ mạch đạo Bửu Sơn Kỳ Hương tại Chùa Tây An và được Đức Huỳnh Giáo Chủ ghi nhận trong Quyển 6.

Theo giáo nghĩa

Theo giáo nghĩa nội tại của Phật Giáo Hòa Hảo được giảng giải trong bộ Chú Giải Sấm Giảng Thi Văn Giáo Lý Toàn Bộ, phép thờ phượng và cúng lạy tại gia được thiết lập trên nguyên tắc trọng tâm thành hơn hình tướng, lấy sự thanh tịnh nội tâm làm lễ phẩm cao quý nhất. Trên Bàn Phật trong nhà, thay vì tạc tượng đồng hay vẽ tranh nhiều màu sắc, người tín đồ chỉ treo một tấm vải màu dà (nâu sồng) gọi là Trần Dà (hoặc tấm vải đỏ gọi là Trần Điều), biểu trưng cho sự hòa hợp không phân biệt của chư Phật mười phương và màu áo giải thoát giản dị của nhà thiền.

Còn Bàn Thông Thiên dựng ngoài sân trước nhà (gồm một trụ gỗ hoặc trụ xi-măng cao ngang ngực đặt một mặt bàn vuông bốn tấc, bên trên chỉ để một bình bông, một ly nước lạnh trong sạch và một lư hương) mang ý nghĩa triết học sâu xa: giữa con người với Trời Phật và mười phương pháp giới vốn thông suốt không hề có vách ngăn. Khi đứng trước Bàn Thông Thiên lộng gió, người tu đối diện trực tiếp với bầu trời quang đãng và lương tâm chính mình, dâng lên nước sạch (biểu trưng cho tâm thanh tịnh không bợn nhơ), hoa tươi (biểu trưng cho nhân lành thanh khiết) và nhang thơm (biểu trưng cho giới hương, định hương, huệ hương bay thấu mười phương).

Theo sử liệu

Xét theo sử liệu văn bản học tôn giáo, trong giai đoạn đầu từ ngày khai đạo 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (1939) tại làng Hòa Hảo (Tổ đình Phật giáo Hòa Hảo) cho tới trước năm 1945, phần đông tín đồ miền Tây Nam Bộ khi hành lễ sớm chiều vẫn tụng bài Tây Phương Ngũ Nguyện (năm lời nguyện hướng về cõi Tây Phương Cực Lạc và Phật Tổ, Phật Thầy) lưu truyền từ thời Đức Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên (1807 tới 1856) của dòng Bửu Sơn Kỳ Hương, kết hợp với bốn câu thơ thất ngôn Cúi đầu lạy tạ Tổ tiên trong Quyển 5: Khuyến Thiện (soạn năm Tân Tỵ 1941 tại nhà ông Võ Văn Giỏi ở Cần Thơ).

Tới tháng 5 âm lịch năm Ất Dậu (1945) tại Sài Gòn, khi biên soạn Quyển 6: Cách Tu Hiền Và Sự Ăn Ở Của Một Người Bổn Đạo, Đức Huỳnh Giáo Chủ đã chuẩn hóa toàn bộ nghi thức thành mục Cách Thờ Phượng và Cách Cúng Lạy bằng văn xuôi và thơ thất ngôn thuần Việt rất rõ ràng. Đặc biệt, ở đoạn cuối mục Cách Cúng Lạy, Ngài dặn dò một câu hết sức bao dung: "Nếu người nào đã thuộc bài nguyện cũ thì cứ nguyện theo điệu cũ cũng đặng". Chính nhờ lời chuẩn nhận lịch sử ấy mà trong thực tiễn hành đạo suốt hơn tám thập niên qua, cả hệ thống bài nguyện mới năm 1945 lẫn bài Tây Phương Ngũ Nguyện cổ truyền đều được gìn giữ song hành như hai viên ngọc quý của cùng một dòng đạo pháp.

IIToàn Văn Bài Nguyện Trước Bàn Thờ Ông Bà, Bàn Phật Và Bàn Thông Thiên (Kèm Tây Phương Ngũ Nguyện)

Bảng kinh dưới đây trình bày trọn vẹn hai mươi mệnh đề và câu nguyện theo đúng thứ tự hành lễ được ấn định trong Quyển 6 (1945): Phần I (câu 1 tới 5) đọc trước Bàn thờ Ông Bà (Cửu Huyền Thất Tổ); Phần II (câu 6 tới 12) đọc trước Bàn Phật (Ngôi Tam Bảo); và Phần III (câu 13 tới 20) đọc trước Bàn Thông Thiên ngoài trời (bao gồm lời nguyện Bàn Thông Thiên, năm lời nguyện của bài Tây Phương Ngũ Nguyện và nghi thức xá năm xá kết thúc thời công phu). Cột nguyên văn giữ đúng chính tả Nam Bộ và dấu gạch nối của ấn bản năm 1945.

Nghe nguyên văn, bản ghi âm người tụngGhi âm: UK Master Academy
Nguyên văn hai mươi câu và mệnh đề nguyện trong mục Cách Cúng Lạy thuộc Quyển 6 Cách Tu Hiền Và Sự Ăn Ở Của Một Người Bổn Đạo (tháng 5 năm Ất Dậu 1945), kết hợp kệ nguyện Tổ tiên trong Quyển 5 Khuyến Thiện (1941) và bài Tây Phương Ngũ Nguyện theo ấn bản Sấm Giảng Thi Văn Giáo Lý Toàn Bộ trên hoahao.org. Cột nghĩa bằng lời thường và bản dịch tiếng Anh do thư viện biên soạn.
CâuNguyên văn bài nguyện (1945)Nghĩa bằng lời thườngTiếng Anh
1Cúi kính dâng hương trước Cửu-Huyền,Con cúi đầu cung kính dâng nén hương thơm lên trước bàn thờ chín đời Tổ tiên,Bowing in reverence, I offer this fragrant incense before the Nine Generations of Ancestors,
2Cầu trên Thất-Tổ chứng lòng thiền.nguyện cầu bảy bậc Tổ phụ trên cao chứng giám cho tấm lòng thanh tịnh tu hành của con.praying that the Seven Forefathers on high bear witness to my tranquil, meditative heart.
3Nay con tỉnh-ngộ quy-y Phật,Ngày nay con đã thức tỉnh giấc mộng trần gian, quyết lòng quay về nương tựa ngôi Phật,Today I have awakened from worldly delusion and taken refuge in the Buddha,
4Chí dốc tu-hiền tạo phước-duyên.dốc trọn ý chí sửa mình hiền lương để gieo tạo nhân lành và duyên phước giải thoát.resolving whole-heartedly to cultivate virtue and sow wholesome affinities of merit.
5Cúi đầu lạy tạ Tổ-tiên, báo ơn sanh-dưỡng dày công nhọc-nhằn; rày con xin giữ Đạo hằng, tu cầu Tông-Tổ siêu-thăng Phật-đài.Con cúi đầu lạy tạ Tổ tiên để đền báo công ơn sinh thành dưỡng dục vất vả sâu dày; từ nay con nguyện giữ tròn đạo lý thường hằng, chân thành tu tập để hồi hướng cầu cho Tổ tông dòng họ được siêu thăng lên đài Phật.I bow my head in gratitude to my Ancestors to repay their boundless toil in giving birth and nurturing us; from this day forth I vow to uphold the constant Way, cultivating myself to pray that our entire ancestral lineage may ascend to the Buddha's realm.
6Nam-mô Ta-bà Giáo-chủ Bổn-sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật.Con chí thành kính lễ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, vị Thầy gốc và Giáo chủ dạy đạo ở cõi đời Ta Bà.Homage to Our Original Teacher Śākyamuni Buddha, Lord of the Teaching in this Sahā World.
7Nam-mô Thập-phương Phật. Nam-mô Thập-phương Pháp. Nam-mô Thập-phương Tăng.Con chí thành quy y và kính lễ chư Phật khắp mười phương, chánh Pháp khắp mười phương, cùng chư vị hiền thánh Tăng khắp mười phương.Homage to the Buddhas of the Ten Directions. Homage to the Dharma of the Ten Directions. Homage to the Sangha of the Ten Directions.
8Nam-mô Phật-Tổ, Phật-Thầy, Quan Thượng-đẳng Đại-thần, chư quan cựu thần, chư vị Sơn-thần, chư vị Năm-Non Bảy-Núi cảm-ứng chứng-minh, nay con nguyện cải-hối ăn-năn, làm lành lánh dữ, quy-y theo mấy Ngài, tu-hiền theo Phật-Đạo.Con kính lễ Đức Phật Tổ, Đức Phật Thầy Tây An, Đức Quan Thượng Đẳng Đại Thần Nguyễn Trung Trực, các bậc trung thần nghĩa sĩ đời trước, chư vị thần núi cùng các đấng thiêng liêng nơi Năm Non Bảy Núi (Thất Sơn) cảm ứng chứng giám: từ hôm nay con nguyện ăn năn sửa đổi lỗi lầm, làm việc lành tránh việc dữ, nương tựa theo các Ngài mà tu hiền theo đúng đạo Phật.Homage to the Patriarch Buddha, Master Phật Thầy Tây An, the Supreme Great Mandarin, the loyal former mandarins, the Mountain Deities, and all Sacred Worthies of the Five Peaks and Seven Mountains: may you respond and bear witness that today I vow to repent and reform my faults, do good and shun evil, take refuge in You, and cultivate virtue according to the Buddha Way.
9Nam-mô Tây-phương Cực-lạc thế-giới đại-từ đại-bi phổ-độ chúng-sanh A-Di-Đà Phật.Con chí thành kính lễ Đức Phật A Di Đà nơi thế giới Cực Lạc phương Tây, đấng lấy lòng đại từ đại bi rộng khắp cứu độ muôn loài chúng sinh.Homage to Amitābha Buddha of the Western World of Ultimate Bliss, who with great loving-kindness and great compassion universally delivers all sentient beings.
10Nguyện xin Đức Phật Từ-Bi cứu-độ ông bà cha mẹ, Cửu-Huyền Thất-Tổ của con thoát chốn mê-đồ vãng-sanh về miền Cực-Lạc, lại cứu-độ cho cha mẹ và lục-thân quyến-thuộc khỏi chốn tai-ương, đồng hành chánh-đạo.Cúi xin Đức Phật Từ Bi cứu vớt ông bà cha mẹ đã khuất cùng Cửu Huyền Thất Tổ của con thoát khỏi đường mê lầm tối tăm, được sinh về cõi Cực Lạc; đồng thời gia hộ cho cha mẹ hiện tiền và bà con thân thuộc sáu họ thoát khỏi mọi tai họa, cùng nhau bước đi trên đường chánh đạo.I pray that the Compassionate Buddha deliver my grandparents, parents, and Nine Generations and Seven Forefathers from the paths of delusion so that they may be reborn in the Land of Ultimate Bliss, and protect my living parents and sixfold kindred from all calamity so that we may walk the orthodox Way together.
11Nam-mô Tây-phương Cực-lạc thế-giới tam-thập-lục vạn-ức, nhứt-thập nhứt-vạn, cửu-thiên ngũ-bá đồng-danh đồng-hiệu đại-từ đại-bi phổ-độ chúng-sanh A-Di-Đà Phật.Con chí thành kính lễ ba mươi sáu vạn ức, mười một vạn, chín ngàn năm trăm Đức Phật khắp thế giới Cực Lạc phương Tây đều cùng chung một hồng danh A Di Đà Phật, cùng mang lòng đại từ đại bi cứu độ chúng sinh.Homage to the thirty-six trillion, one hundred and nineteen thousand, five hundred Buddhas of the Western World of Ultimate Bliss who all share the single name and title of Greatly Compassionate, Universally Saving Amitābha Buddha.
12Từ-bi đại-độ dẫn-dắt chúng-sanh vãng-sanh Cực-Lạc Quốc.Cúi xin các Ngài mở lượng từ bi rộng lớn dẫn dắt hết thảy chúng sinh được vãng sinh về nước Cực Lạc an lành.In your boundless compassion and great magnanimity, guide all sentient beings to rebirth in the Land of Ultimate Bliss.
13Nam-mô Tây-phương Cực-lạc thế-giới tam-thập-lục vạn-ức, nhứt-thập nhứt-vạn, cửu-thiên ngũ-bá đồng-danh đồng-hiệu đại-từ đại-bi phổ-độ chúng-sanh A-Di-Đà Phật; lại cứu-độ cho Cửu-Huyền Thất-Tổ và bá-tánh vạn-dân tiêu-tai tịnh-sự, giải-thoát mê-ly.(Trước Bàn Thông Thiên ngoài trời): Con chí thành kính lễ ba mươi sáu vạn ức, mười một vạn, chín ngàn năm trăm Đức Phật đồng danh hiệu A Di Đà nơi cõi Tây Phương Cực Lạc; cúi xin cứu độ cho Cửu Huyền Thất Tổ của con cùng trăm họ vạn dân khắp nơi tai qua nạn khỏi, việc đời êm ấm thanh tịnh, sớm cởi mở thoát khỏi cảnh mê lầm đau khổ.(Before the Open-Air Heaven Altar): Homage to the thirty-six trillion, one hundred and nineteen thousand, five hundred Buddhas of the Western World of Ultimate Bliss sharing the name Amitābha Buddha; may you deliver my Nine Generations and Seven Forefathers together with the hundred families and ten thousand peoples everywhere, dispelling calamities, bringing peaceful order, and liberating all from delusion and sorrow.
14Nam-mô nhứt nguyện cầu: Thiên-hoàng, Địa-hoàng, Nhơn-hoàng, Liên-hoa hải-hội, Thượng-phật từ-bi, Phật-vương độ mạng.(Bài Tây Phương Ngũ Nguyện) Lời nguyện thứ nhất: Con kính cầu đấng Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Nhơn Hoàng cùng đại hội biển sen của chư Thượng Phật từ bi và Đức Phật Vương che chở độ mạng cho muôn loài.(The Five Western Vows) First, I bow and pray to the Celestial Sovereign, Earthly Sovereign, and Human Sovereign, the Ocean-Wide Lotus Assembly, the Compassionate Supreme Buddhas, and the Dharma King to protect all lives.
15Nam-mô nhị nguyện cầu: Cửu-Huyền Thất-Tổ tịnh-độ siêu-sanh.Lời nguyện thứ hai: Con kính cầu cho Cửu Huyền Thất Tổ nhiều đời được siêu sinh về miền Tịnh Độ thanh tịnh.Second, I bow and pray that the Nine Generations and Seven Forefathers may ascend to rebirth in the Pure Land.
16Nam-mô tam nguyện cầu: Phụ-mẫu tại đường tăng long phước-thọ, phụ-mẫu quá-khứ trực vãng Tây-phương.Lời nguyện thứ ba: Con kính cầu cho cha mẹ còn sống nơi nhà được thêm nhiều phước lành và tuổi thọ, cha mẹ đã qua đời được đi thẳng về cõi Tây Phương Cực Lạc.Third, I bow and pray that living parents in the home may enjoy abundant blessings and longevity, and departed parents may go directly to the Western Pure Land.
17Nam-mô tứ nguyện cầu: Bá-tánh vạn-dân từ-tâm bác-ái, giải-thoát mê-ly.Lời nguyện thứ tư: Con kính cầu cho trăm họ vạn dân khắp nơi đều khởi lòng từ bi bác ái thương yêu nhau, cùng giải thoát khỏi vòng mê muội chia lìa.Fourth, I bow and pray that the hundred families and ten thousand peoples everywhere may cultivate compassionate and fraternal hearts and be liberated from delusion and suffering.
18Nam-mô ngũ nguyện cầu: Phật-Tổ, Phật-Thầy từ-bi xá tội đệ-tử, tiêu-tai tịnh-sự, trí-huệ thông-minh, giai đắc đạo-quả.Lời nguyện thứ năm: Con kính cầu Đức Phật Tổ và Đức Phật Thầy mở lòng từ bi tha thứ lỗi lầm cho hàng đệ tử, giúp tiêu trừ tai nạn, việc nhà yên ổn, mở mang trí tuệ sáng suốt để tất cả đều chứng đắc quả đạo.Fifth, I bow and pray that the Patriarch Buddha and Master Phật Thầy mercifully forgive the disciples' transgressions, dispel calamities, grant peace and clear wisdom, so that all may attain the fruit of the Way.
19Nam-mô A-Di-Đà Phật. Nam-mô Đại-Thế-Chí Bồ-Tát. Nam-mô Quan-Thế-Âm Bồ-Tát.(Nghi thức năm xá kết lễ) Ba xá đầu: Con kính lễ Đức Phật A Di Đà (một xá), kính lễ Đức Đại Thế Chí Bồ Tát (một xá), kính lễ Đức Quan Thế Âm Bồ Tát (một xá), tức Tây Phương Tam Thánh.(Closing five-bow salute) First three bows: Homage to Amitābha Buddha. Homage to Mahāsthāmaprāpta Bodhisattva. Homage to Avalokiteśvara Bodhisattva (the Three Holy Ones of the West).
20Nam-mô Phật-Tổ, Phật-Thầy, Quan Thượng-đẳng Đại-thần, chư quan cựu thần, chư vị Sơn-thần, chư vị Năm-Non Bảy-Núi.Hai xá cuối: Con kính lễ Đức Phật Tổ, Đức Phật Thầy Tây An, Đức Quan Thượng Đẳng Đại Thần, các bậc cựu thần trung nghĩa, chư vị thần núi cùng các đấng thiêng liêng nơi Năm Non Bảy Núi.Final two bows: Homage to the Patriarch Buddha, Master Phật Thầy Tây An, the Supreme Great Mandarin, the loyal former mandarins, the Mountain Deities, and all Sacred Worthies of the Five Peaks and Seven Mountains.

Bảng khảo dị giữa Bài Nguyện Quyển Sáu (1945), Quyển Năm Khuyến Thiện (1941) và Bài Tây Phương Ngũ Nguyện cổ truyền

Khi tìm hiểu nghi thức cúng lạy của Phật Giáo Hòa Hảo, người đọc thường thấy có gia đình đọc bài nguyện văn xuôi ngắn gọn, có gia đình đọc thêm bài kệ tám câu ở bàn thờ Tổ tiên hoặc đọc bài Nam-mô nhứt nguyện cầu... gồm năm nguyện. Bảng khảo cứu dưới đây làm rõ nguồn gốc văn bản và sự tương ứng giữa ba lớp tư liệu chính thống ấy.

Đối chiếu các lớp văn bản bài nguyện trong truyền thống Bửu Sơn Kỳ Hương và Phật Giáo Hòa Hảo
Ngôi thờ và Phần nguyệnBản Quyển 6 Cách Tu Hiền (Tháng 5 năm Ất Dậu 1945)Bản Quyển 5 Khuyến Thiện (1941) & Truyền thống Bửu Sơn Kỳ HươngGhi chú văn bản học và thực hành nghi lễ
1. Trước Bàn thờ Ông Bà (Cửu Huyền Thất Tổ)Đọc bài thơ thất ngôn tứ tuyệt bốn câu (câu 1 tới 4): Cúi kính dâng hương trước Cửu-Huyền, Cầu trên Thất-Tổ chứng lòng thiền, Nay con tỉnh-ngộ quy-y Phật, Chí dốc tu-hiền tạo phước-duyên.Trong Quyển 5: Khuyến Thiện (1941), đoạn dạy Bàn Ông Bà có bài kệ lục bát bốn câu (câu 5): Cúi đầu lạy tạ Tổ-tiên, Báo ơn sanh-dưỡng dày công nhọc-nhằn; Rày con xin giữ Đạo hằng, Tu cầu Tông-Tổ siêu-thăng Phật-đài.Quyển 6 quy định bốn câu thất ngôn làm chuẩn chung và ghi chú thêm: Nếu muốn cầu nguyện chi cho cha mẹ, ông bà thì nguyện thêm. Nhiều gia đình kết hợp đọc cả hai bài hoặc thêm lời cầu nguyện riêng cho gia quyến.
2. Bài Nguyện Quy Y trước Bàn Phật và Bàn Thông ThiênĐọc câu 6, 7, 8: Nam-mô Ta-bà Giáo-chủ Bổn-sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật... Nam-mô Phật-Tổ, Phật-Thầy, Quan Thượng-đẳng Đại-thần, chư quan cựu thần, chư vị Sơn-thần, chư vị Năm-Non Bảy-Núi cảm-ứng chứng-minh...Giữ nguyên danh xưng truyền thống của hệ phái Bửu Sơn Kỳ Hương tôn kính Đức Phật Thầy Tây An và các bậc anh hùng trung liệt khai mở vùng Thất Sơn (An Giang).Đọc khi hai tay chắp ba cây nhang đưa lên ngang trán (chưa cắm vào lư), vừa bày tỏ lòng quy y Tam Bảo vừa ghi nhớ Ân Đất Nước của các bậc tiền nhân mở cõi.
3. Hồng danh Đức Phật A Di Đà ba mươi sáu vạn ứcĐọc câu 11 và 12 tại Bàn Phật, câu 13 tại Bàn Thông Thiên: Nam-mô Tây-phương Cực-lạc thế-giới tam-thập-lục vạn-ức, nhứt-thập nhứt-vạn, cửu-thiên ngũ-bá đồng-danh đồng-hiệu đại-từ đại-bi phổ-độ chúng-sanh A-Di-Đà Phật.Trong Quyển 5: Khuyến Thiện (1941), câu hồng danh bốn mươi ba chữ này đã được Đức Huỳnh Giáo Chủ chép nguyên văn để dạy người tu Tịnh Độ niệm hằng ngày.Bắt nguồn từ kinh điển Tịnh Độ tông Trung Hoa và Việt Nam (như sách Long Thơ Tịnh Độ của Vương Nhật Hưu đời Tống), ở Bàn Thông Thiên thêm vế cầu nguyện cho bá-tánh vạn-dân tiêu-tai tịnh-sự, giải-thoát mê-ly.
4. Bài Tây Phương Ngũ Nguyện (Bài nguyện cũ)Trong Quyển 6 (1945), Đức Huỳnh Giáo Chủ ghi rõ ở cuối mục Cách Cúng Lạy: Nếu người nào đã thuộc bài nguyện cũ thì cứ nguyện theo điệu cũ cũng đặng.Bài nguyện cũ gồm năm lời cầu (câu 14 tới 18): Nam-mô nhứt nguyện cầu: Thiên-hoàng, Địa-hoàng, Nhơn-hoàng... tới Nam-mô ngũ nguyện cầu: Phật-Tổ, Phật-Thầy từ-bi xá tội đệ-tử...Cấu trúc năm nguyện phản ánh trọn vẹn Tứ Trọng Ân: từ Tam Hoàng và chư Phật (nguyện 1), Cửu Huyền Thất Tổ (nguyện 2), Cha Mẹ hiện tiền và quá vãng (nguyện 3), Bá tánh vạn dân (nguyện 4) tới cầu trí huệ đắc đạo (nguyện 5).

IIIGiải Nghĩa Chi Tiết Từng Đoạn Nguyện Và Chiều Sâu Giáo Lý Học Phật Tu Nhân

Hai mươi mệnh đề trong bảng kinh kết hợp nhuần nhuyễn giữa tiếng Việt thuần phác của cư dân miền sông nước Nam Bộ với những thuật ngữ thâm sâu của Tịnh Độ tông và truyền thống Bửu Sơn Kỳ Hương. Bảy mục giải nghĩa dưới đây phân tích từng cụm câu theo trình tự hành lễ.

Cúi kính dâng hương trước Cửu-Huyền, Cầu trên Thất-Tổ chứng lòng thiền. Nay con tỉnh-ngộ quy-y Phật, Chí dốc tu-hiền tạo phước-duyên.

Bốn câu thơ thất ngôn tứ tuyệt mở đầu thời cúng tại Bàn thờ Ông Bà đặt nền móng cho toàn bộ pháp môn Học Phật Tu Nhân. Hai chữ Cửu-Huyền (chín đời tính từ Cao tổ khảo trở xuống tới Huyền tôn, hoặc chín thế hệ nối tiếp nhau) và Thất-Tổ (bảy bậc Tổ phụ) là cách gọi tôn kính toàn thể ông bà tổ tiên nội ngoại nhiều đời của người miền Nam. Điều đáng chú ý nhất nằm ở hai chữ lòng thiền trong câu thứ hai: người con cháu đứng trước bàn thờ Tổ tiên không khấn xin phát tài hay danh lợi riêng tư, mà trình bày với ông bà tấm lòng thiền (tâm thức lắng đọng, thanh tịnh, hướng thiện) của một người đã tỉnh-ngộ quy-y Phật.

Theo giáo lý Hòa Hảo, cách báo hiếu cao thượng nhất đối với Tổ tiên không phải là mâm cao cỗ đầy hay đốt vàng mã, mà là chính bản thân người con cháu biết tu-hiền tạo phước-duyên, bởi thân thể ta do ông bà cha mẹ truyền lại, khi ta sống hiền lành nhân nghĩa thì hương linh ông bà nơi chín suối cũng được thơm lây và nhẹ bước siêu thăng.

Cúi đầu lạy tạ Tổ-tiên, báo ơn sanh-dưỡng dày công nhọc-nhằn; rày con xin giữ Đạo hằng, tu cầu Tông-Tổ siêu-thăng Phật-đài.

Bốn câu thơ lục bát trích từ Quyển 5: Khuyến Thiện (1941) làm rõ mối liên hệ hữu cơ giữa Ân Tổ tiên cha mẹ (ân thứ nhứt trong Tứ Trọng Ân) với pháp môn niệm Phật. Hai câu đầu nhắc lại công lao sanh-dưỡng dày công nhọc-nhằn (chín tháng cưu mang, ba năm bồng bế nuôi dạy thành người). Hai câu sau xác lập phương pháp đền ơn rốt ráo: giữ Đạo hằng (đạo làm người thường hằng không biến đổi theo thói đời vinh nhục) và đem công đức tu hành hồi hướng cầu cho Tông-Tổ siêu-thăng Phật-đài, nối tiếp truyền thống đại hiếu của Tôn giả Mục Kiền Liên và Địa Tạng Vương Bồ Tát trong nhà Phật.

Nam-mô Ta-bà Giáo-chủ Bổn-sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật. Nam-mô Thập-phương Phật. Nam-mô Thập-phương Pháp. Nam-mô Thập-phương Tăng.

Khi bước từ Bàn thờ Ông Bà lên trước Bàn Phật (Ngôi Tam Bảo) và sau đó là Bàn Thông Thiên, người tín đồ bắt đầu bằng lời xưng niệm Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (vị Giáo chủ khai sáng đạo Phật tại thế giới Ta Bà, nơi con người đang chịu đựng đan xen giữa khổ đau và hy vọng) cùng Thập-phương Tam Bảo (mười phương Phật, mười phương Pháp, mười phương Tăng). Trong cách hành lễ của Phật Giáo Hòa Hảo, sau câu niệm Đức Thích Ca thì xá một xá, và sau câu niệm Thập Phương Tam Bảo lại xá một xá.

Việc đặt danh hiệu Đức Phật Thích Ca và Tam Bảo mười phương lên đầu bài nguyện khẳng định gốc rễ chánh thống của Phật Giáo Hòa Hảo trong đại gia đình Phật giáo: người cư sĩ tại gia luôn lấy giáo pháp của Đức Thích Ca làm kim chỉ nam và lấy Tam Bảo làm ngôi nhà tâm linh tối thượng.

Nam-mô Phật-Tổ, Phật-Thầy, Quan Thượng-đẳng Đại-thần, chư quan cựu thần, chư vị Sơn-thần, chư vị Năm-Non Bảy-Núi cảm-ứng chứng-minh, nay con nguyện cải-hối ăn-năn, làm lành lánh dữ, quy-y theo mấy Ngài, tu-hiền theo Phật-Đạo.

Câu nguyện thứ tám là một trong những câu văn đặc trưng nhất của dòng đạo nội sinh miền Tây Nam Bộ, kết hợp trọn vẹn Ân Tam Bảo với Ân Đất Nước. Bên cạnh Phật-Tổ (Đức Phật Thích Ca), câu nguyện xưng danh Phật-Thầy, tức Đức Phật Thầy Tây An (Đoàn Minh Huyên, 1807 tới 1856, vị Tổ sư khai sáng giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương năm 1849 tại vùng Thất Sơn, hiện an nghỉ tại Chùa Tây An dưới chân núi Sam, Châu Đốc). Tiếp theo là Quan Thượng-đẳng Đại-thần (chỉ Đức Cố Quản Trần Văn Thành, người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Láng Linh Bảy Thưa chống thực dân Pháp bảo vệ quê hương, cùng Đức Nguyễn Trung Trực và các bậc trung thần nghĩa sĩ được tôn kính trong dân gian Nam Bộ), nối liền với chư quan cựu thần (các vị quan tướng có công mở mang bờ cõi miền Nam như Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại) và chư vị Sơn-thần, chư vị Năm-Non Bảy-Núi.

Địa danh Năm-Non Bảy-Núi chính là vùng Thất Sơn linh thiêng thuộc tỉnh An Giang (Bảy Núi gồm: Núi Cấm tức Thiên Cấm Sơn, Núi Dài Năm Giếng tức Ngũ Hồ Sơn, Núi Cô Tô tức Phụng Hoàng Sơn, Núi Dài Lớn tức Ngọa Long Sơn, Núi Tượng tức Liên Hoa Sơn, Núi Két tức Anh Vũ Sơn, và Núi Nước tức Thủy Đài Sơn; còn Năm Non là năm vồ núi cao hùng vĩ trên đỉnh Thất Sơn). Trước sự chứng giám của cả chư Phật lẫn anh linh non sông, người tín đồ phát lời thệ nguyện cốt tủy gồm ba bước: cải-hối ăn-năn (sám hối lỗi cũ), làm lành lánh dữ (thực hành chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành) và tu-hiền theo Phật-Đạo.

Nam-mô Tây-phương Cực-lạc thế-giới tam-thập-lục vạn-ức, nhứt-thập nhứt-vạn, cửu-thiên ngũ-bá đồng-danh đồng-hiệu đại-từ đại-bi phổ-độ chúng-sanh A-Di-Đà Phật. Từ-bi đại-độ dẫn-dắt chúng-sanh vãng-sanh Cực-Lạc Quốc.

Câu hồng danh dài bốn mươi ba chữ ở câu 11 (và lặp lại ở câu 13 trước Bàn Thông Thiên) là trọng tâm hành trì của pháp môn Tịnh Độ trong Phật Giáo Hòa Hảo. Con số tam-thập-lục vạn-ức, nhứt-thập nhứt-vạn, cửu-thiên ngũ-bá (ba mươi sáu vạn ức, mười một vạn, chín ngàn năm trăm vị Phật đều cùng mang danh hiệu A Di Đà) có nguồn gốc từ kinh văn Tịnh Độ cổ và sách Long Thơ Tịnh Độ Văn của cư sĩ Vương Nhật Hưu đời Tống, biểu trưng cho sự vô lượng vô biên của ánh sáng từ bi và trí tuệ khắp mười phương thế giới.

Khi xưng niệm hồng danh ấy kèm câu Từ-bi đại-độ dẫn-dắt chúng-sanh vãng-sanh Cực-Lạc Quốc, người cư sĩ thực hành đúng ba yếu tố của pháp môn Niệm Phật là Tín (tin sâu nhân quả và cõi Cực Lạc thanh tịnh), Nguyện (phát nguyện thoát chốn mê đồ để về cõi an dưỡng học đạo như Điều thứ tám trong Tám Điều Răn Cấm) và Hạnh (chuyên cần niệm Phật gắn liền với làm lành lánh dữ).

Nam-mô Tây-phương Cực-lạc thế-giới tam-thập-lục vạn-ức, nhứt-thập nhứt-vạn, cửu-thiên ngũ-bá đồng-danh đồng-hiệu đại-từ đại-bi phổ-độ chúng-sanh A-Di-Đà Phật; lại cứu-độ cho Cửu-Huyền Thất-Tổ và bá-tánh vạn-dân tiêu-tai tịnh-sự, giải-thoát mê-ly.

Khi bước từ trong nhà ra trước Bàn Thông Thiên ngoài sân, lời nguyện ở câu 13 mở rộng đối tượng cầu nguyện từ phạm vi gia tộc sang toàn thể nhân quần xã hội: lại cứu-độ cho Cửu-Huyền Thất-Tổ và bá-tánh vạn-dân tiêu-tai tịnh-sự, giải-thoát mê-ly. Đây chính là sự thực hành trực tiếp Ân Đồng bào và Nhân loại (ân thứ tư trong Tứ Trọng Ân). Dù là người nông dân lam lũ nơi thôn xóm hẻo lánh, mỗi ngày hai buổi đứng trước Bàn Thông Thiên, tâm lượng của họ đều mở rộng ra bốn phương trời đất để cầu cho muôn dân trăm họ (bá-tánh vạn-dân) thoát khỏi tai nạn chiến tranh, dịch bệnh (tiêu-tai tịnh-sự) và thoát khỏi cảnh chia lìa, mê muội (giải-thoát mê-ly).

Nam-mô nhứt nguyện cầu: Thiên-hoàng, Địa-hoàng, Nhơn-hoàng, Liên-hoa hải-hội, Thượng-phật từ-bi, Phật-vương độ mạng... Nam-mô ngũ nguyện cầu: Phật-Tổ, Phật-Thầy từ-bi xá tội đệ-tử, tiêu-tai tịnh-sự, trí-huệ thông-minh, giai đắc đạo-quả.

Từ câu 14 tới câu 18 là trọn vẹn bài Tây Phương Ngũ Nguyện (năm lời nguyện cổ truyền của dòng Bửu Sơn Kỳ Hương được Đức Huỳnh Giáo Chủ chuẩn nhận trong Quyển 6). Cấu trúc của năm lời nguyện đi theo trật tự Tam Tài và Tứ Ân hết sức chặt chẽ: Nhứt nguyện hướng lên Tam Hoàng (Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Nhơn Hoàng biểu trưng cho cội nguồn vũ trụ và nhân loại) cùng Liên Hoa Hải Hội của chư Phật trên cao; Nhị nguyện cầu cho Cửu Huyền Thất Tổ siêu sinh Tịnh Độ; Tam nguyện cầu cho cha mẹ còn sống nơi nhà (phụ-mẫu tại đường) được tăng thêm phước thọ và cha mẹ đã khuất (phụ-mẫu quá-khứ) được thẳng về Tây Phương; Tứ nguyện cầu cho bá tánh vạn dân giàu lòng từ tâm bác ái; và Ngũ nguyện cầu cho hàng đệ tử được mở mang trí huệ sáng suốt để cùng chứng quả đạo (giai đắc đạo-quả).

Khép lại thời cúng ở câu 19 và 20 là nghi thức năm xá trang nghiêm: ba xá đầu kính lễ Tây Phương Tam Thánh (Đức Phật A Di Đà biểu trưng cho Vô Lượng Quang và Vô Lượng Thọ, Đức Đại Thế Chí Bồ Tát biểu trưng cho Đại Trí, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát biểu trưng cho Đại Bi), và hai xá cuối kính lễ Đức Phật Tổ, Đức Phật Thầy cùng chư vị Năm Non Bảy Núi.

IVQuy Phạm Ba Ngôi Thờ Và Nghi Thức Hành Lễ Hai Thời Sớm Chiều Tại Gia

Để người đọc hình dung trọn vẹn cách thức mà hai mươi câu nguyện trên đi vào đời sống thực tế (chi tiết đối chiếu thêm tại trang Nghi Thức Hành Lễ Phật Giáo Hòa Hảo và Tổ đình Phật giáo Hòa Hảo), bảng tổng hợp và các thẻ quy phạm dưới đây hệ thống hóa toàn bộ quy định về kích thước, lễ phẩm và tư thế lạy xá trong Quyển 6.

Cấu trúc ba ngôi thờ, lễ phẩm và phép lạy xá trong nghi thức cúng lạy sớm chiều Phật Giáo Hòa Hảo
Ngôi thờ trong gia đìnhCách thiết lập & Biểu tượng thờLễ phẩm dâng cúng chuẩn mựcThứ tự đọc bài nguyện & Phép lạy, xá
1. Bàn thờ Ông Bà (Ngôi Cửu Huyền Thất Tổ)Đặt ở gian chính giữa trong nhà (thấp hơn hoặc tách biệt dưới Ngôi Tam Bảo). Thờ bài vị hoặc chữ Cửu Huyền Thất Tổ, di ảnh ông bà cha mẹ đã khuất.Ngày thường dâng nước sạch, hoa tươi, ba cây nhang. Ngày lễ Tết hoặc ngày Chánh Kỵ (cúng giỗ) dâng cơm chay thanh tịnh, bánh trái; tuyệt đối không sát sinh và không đốt vàng mã.Hành lễ đầu tiên trong mỗi thời cúng: thắp 3 cây nhang đưa lên trán đọc 4 câu thơ Cúi kính dâng hương trước Cửu-Huyền... (câu 1 tới 5), cắm nhang vào lư rồi lạy 4 lạy.
2. Bàn Phật (Ngôi Tam Bảo trong nhà)Đặt ở vị trí cao ráo, trang nghiêm nhất. Trên vách treo tấm Trần Dà (vải màu nâu sồng) hoặc tấm Trần Điều (vải màu đỏ), không thờ tượng cốt hay tranh vẽ lòe loẹt, không dùng chuông mõ.Chỉ dâng duy nhất ba lễ phẩm thanh tịnh: một bình bông hoa tươi, một ly nước lạnh trong sạch (thay mới mỗi buổi cúng) và ba cây nhang thơm. Không bao giờ bày thức ăn mặn hay chay lên Bàn Phật.Thắp 3 cây nhang đưa lên trán đọc Bài Nguyện Quy Y (câu 6 tới 8, có 2 lần xá), cắm nhang rồi quỳ hoặc đứng đọc Bài Nguyện Cầu Cho Tổ Tiên Và Cha Mẹ (câu 9 tới 12), lạy 4 lạy, đứng dậy xá 5 xá (câu 19, 20).
3. Bàn Thông Thiên (Lộ thiên ngoài sân)Đặt ngoài sân trước cửa nhà, nơi thông thoáng nhìn thẳng lên bầu trời (nếu nhà chật hoặc ở đô thị có thể đặt ngoài hành lang, ban-công). Bàn vuông khoảng bốn tấc đặt trên trụ cao ngang ngực.Giống hệt Bàn Phật: chỉ đặt một bình hoa tươi, một ly nước lạnh trong sạch và một lư hương với ba cây nhang.Thắp 3 cây nhang đọc Bài Nguyện Quy Y (câu 6 tới 8), cắm nhang rồi đọc Bài Nguyện Bàn Thông Thiên (câu 13) và Tây Phương Ngũ Nguyện (câu 14 tới 18). Hướng vào bàn lạy 4 lạy, rồi quay lạy hoặc xá bốn phương (mỗi phương 4 lạy; 3 phương niệm Phật, phương Tây Nam hướng về Thất Sơn niệm Phật Tổ, Phật Thầy).
1. Hai thời công phu Sớm và Chiều gắn với nhịp lao động

Thời công phu sáng diễn ra vào khoảng 4 giờ 30 tới 6 giờ sáng (trước khi ra đồng hoặc đi làm); thời công phu chiều diễn ra vào khoảng 5 giờ 30 tới 7 giờ tối (sau khi đã tắm rửa sạch sẽ, cơm nước xong xuôi). Quy định này giúp người nông dân và người lao động duy trì việc tu hành đều đặn suốt đời mà không trở ngại sinh kế.

2. Tư thế lạy xá linh hoạt, lấy sự chí thành làm gốc

Quyển 6 hướng dẫn rất nhân văn: khi cầu nguyện, người khỏe mạnh thì quỳ lạy mỗi bàn bốn lạy (hoặc lạy bốn phương ở Bàn Thông Thiên); nhưng nếu người già yếu, đau chân, phụ nữ mang thai hoặc nhà chật hẹp, gặp lúc mưa gió ngoài sân thì được phép đứng chắp tay trước ngực mà nguyện và xá thay cho quỳ lạy, miễn giữ lòng chí thành.

3. Ý nghĩa của phương Tây Nam hướng về Năm Non Bảy Núi

Khi lạy hoặc xá bốn phương trước Bàn Thông Thiên, ba phương hướng về mười phương Chư Phật (niệm Nam mô A Di Đà Phật, Quan Âm, Thế Chí), riêng phương hướng về phía vùng Thất Sơn (An Giang) thì niệm Nam mô Phật Tổ, Phật Thầy, Quan Thượng Đẳng Đại Thần... để tưởng nhớ cội nguồn khai đạo Bửu Sơn Kỳ Hương và công ơn các bậc tiền nhân giữ nước.

4. Tịnh tọa niệm Phật sau khi cúng lạy xong

Sau khi hoàn tất nghi thức tại Bàn Thông Thiên, người tín đồ vào nhà ngồi bán già (hoặc ngồi ngay ngắn trên ghế), mắt nhắm vừa phải, lưng thẳng, nhiếp tâm niệm thầm Lục Tự Di Đà (Nam mô A Di Đà Phật) theo hơi thở để lắng lọc vọng tưởng và nuôi dưỡng chánh niệm.

VNhững Chỗ Hay Hiểu Lầm

Do nghi thức thờ phượng của Phật Giáo Hòa Hảo rất giản dị và khác biệt với tập tục cúng bái thông thường, người ngoài đạo khi quan sát Bàn Thông Thiên hoặc đọc lời nguyện trong Quyển 6 thường có năm thắc mắc và hiểu lầm dưới đây.

Tưởng rằng Bàn Thông Thiên ngoài sân là bàn thờ Ông Thiên (Thổ Địa, Thần Tài) theo tục dân gian

Trong Phật Giáo Hòa Hảo, Bàn Thông Thiên hoàn toàn không phải là bàn thờ thần tài hay thổ địa để cầu xin tài lộc buôn bán. Hai chữ Thông Thiên nghĩa là thông suốt với mười phương trời đất và pháp giới chư Phật, là nơi người cư sĩ bước ra giữa khoảng không gian bao la không vách ngăn để đối diện với lương tâm và cầu nguyện cho cả trăm họ vạn dân.

Ngạc nhiên vì sao trên Bàn Phật và Bàn Thông Thiên không bao giờ dâng cơm canh, bánh trái

Đức Huỳnh Giáo Chủ dạy rõ trong Quyển 6 rằng chư Phật mười phương là bậc hoàn toàn thanh tịnh vô vi, không thọ hưởng thức ăn vật chất của thế gian. Vì vậy trên Bàn Phật và Bàn Thông Thiên chỉ dâng duy nhất Nước lạnh trong sạch (biểu trưng cho tâm thanh tịnh), Bông hoa tươi (biểu trưng cho nhân lành) và Nhang thơm (biểu trưng cho giới định huệ); chỉ ở Bàn thờ Ông Bà mới dâng cơm chay, bánh trái trong ngày lễ giỗ để tỏ lòng hiếu thảo.

Hiểu lầm việc không dùng chuông mõ là bài bác nghi lễ tự viện Phật giáo

Phật Giáo Hòa Hảo là pháp môn tu hành dành cho người cư sĩ tại gia (sáng đi cày ruộng làm ăn, tối về công phu niệm Phật). Việc không gõ chuông mõ rình rang tại nhà riêng nhằm giữ sự thanh tịnh, tránh làm ồn ào hàng xóm và nhắc nhở người tu phải gõ vào chính cái tâm của mình ('Lấy tâm làm chuông, lấy ý làm mõ'), chứ hoàn toàn tôn trọng truyền thống thiền môn.

Thắc mắc vì sao trong bài nguyện Phật lại xưng danh Quan Thượng Đẳng Đại Thần và chư quan cựu thần

Giáo lý Hòa Hảo đặt trên nền tảng Tứ Trọng Ân, trong đó Ân Đất Nước đứng ngay sau Ân Tổ Tiên Cha Mẹ. Việc kính lễ Quan Thượng Đẳng Đại Thần (như Đức Cố Quản Trần Văn Thành, Đức Nguyễn Trung Trực) cùng các bậc cựu thần mở cõi vùng Năm Non Bảy Núi ngay trong bài nguyện sớm chiều là cách giáo dục người tín đồ không bao giờ được tách rời việc tu Phật khỏi lòng yêu nước và sự biết ơn các anh hùng dân tộc.

Nghĩ rằng người sống ở căn hộ chung cư không có sân rộng thì không thể hành lễ Bàn Thông Thiên

Mục Cách Thờ Phượng trong Quyển 6 đã dự liệu rất chu đáo cho mọi hoàn cảnh sống: đối với những ngôi nhà chật hẹp nơi phố thị hoặc ghe thuyền trên sông không có sân trước, người tín đồ có thể đặt Bàn Thông Thiên ở ngoài hành lang, ban-công hoặc mở cửa sổ thông thoáng hướng ra khoảng không trung trước mặt để cầu nguyện.

?Hỏi Đáp Nhanh

Bài nguyện trước Bàn Thông Thiên và Cửu Huyền Thất Tổ được trích từ quyển kinh nào của Phật Giáo Hòa Hảo

Hệ thống bài nguyện cúng lạy hai thời sớm chiều được trích nguyên văn từ mục Cách Thờ Phượng và Cách Cúng Lạy trong Quyển 6: Cách Tu Hiền Và Sự Ăn Ở Của Một Người Bổn Đạo, do Đức Huỳnh Giáo Chủ biên soạn vào tháng 5 âm lịch năm Ất Dậu (1945) tại Sài Gòn, kết hợp với bốn câu nguyện Tổ tiên trong Quyển 5 Khuyến Thiện (1941) và bài Tây Phương Ngũ Nguyện của dòng Bửu Sơn Kỳ Hương.

Thứ tự cúng lạy ba ngôi thờ trong mỗi thời công phu của Phật Giáo Hòa Hảo diễn ra như thế nào

Trong mỗi thời công phu sáng và chiều, người tín đồ luôn hành lễ theo thứ tự từ trong ra ngoài gắn liền với lý Học Phật Tu Nhân: (1) Cúng và lạy 4 lạy trước Bàn thờ Ông Bà (Cửu Huyền Thất Tổ) trước hết để trọn đạo hiếu; (2) Bước lên cúng và lạy 4 lạy trước Bàn Phật (Ngôi Tam Bảo treo tấm Trần Dà) trong nhà; (3) Bước ra sân cúng và lạy bốn phương trước Bàn Thông Thiên lộ thiên để cầu nguyện cho cả Cửu Huyền Thất Tổ và bá tánh vạn dân.

Vì sao trên Bàn Phật và Bàn Thông Thiên chỉ dâng nước lạnh, bông hoa và nhang mà không cúng đồ ăn

Theo Quyển 6 Sấm Giảng Thi Văn Giáo Lý, chư Phật là bậc vô vi thanh tịnh nên không dùng phẩm vật ăn uống hay tiền bạc thế gian. Ba lễ phẩm duy nhất trên Bàn Phật và Bàn Thông Thiên đều mang ý nghĩa biểu pháp tu tâm: ly nước lạnh trong sạch biểu trưng cho tâm địa thanh tịnh không bợn nhơ, bình bông hoa tươi biểu trưng cho nhân lành tinh khiết, và ba nén nhang thơm biểu trưng cho giới hương, định hương và huệ hương.

Các danh hiệu Phật Tổ, Phật Thầy, Quan Thượng Đẳng Đại Thần và Năm Non Bảy Núi trong câu nguyện thứ 8 chỉ những ai

Trong câu nguyện quy y, Phật Tổ là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni; Phật Thầy là Đức Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên (1807 tới 1856, vị Tổ sư khai sáng dòng Bửu Sơn Kỳ Hương năm 1849); Quan Thượng Đẳng Đại Thần cùng chư quan cựu thần chỉ các bậc anh hùng trung liệt bảo vệ và mở mang bờ cõi miền Nam (như Đức Cố Quản Trần Văn Thành, Đức Nguyễn Trung Trực, Thoại Ngọc Hầu); còn Năm Non Bảy Núi là vùng Thất Sơn linh thiêng tại tỉnh An Giang.

Bài Tây Phương Ngũ Nguyện có vị trí như thế nào trong nghi thức cúng lạy Hòa Hảo

Bài Tây Phương Ngũ Nguyện (mở đầu bằng câu Nam-mô nhứt nguyện cầu: Thiên-hoàng, Địa-hoàng, Nhơn-hoàng...) là bài nguyện cổ truyền lưu hành từ thời Bửu Sơn Kỳ Hương và giai đoạn đầu khai đạo Hòa Hảo (1939). Khi soạn Quyển 6 năm 1945, Đức Huỳnh Giáo Chủ đã ghi nhận rằng ai đã thuộc bài nguyện cũ thì cứ tiếp tục nguyện theo điệu cũ cũng được, nên bài Ngũ Nguyện vẫn được nhiều tín đồ đọc trang trọng trong các thời cúng.

Khi đau ốm, già yếu hoặc gặp trời mưa gió không quỳ lạy ngoài sân được thì hành lễ ra sao

Giáo lý Phật Giáo Hòa Hảo lấy lòng thành làm cốt lõi chứ không câu nệ hình thức. Quyển 6 quy định rõ: người già yếu, bệnh tật không quỳ lạy được thì đứng ngay ngắn chắp tay trước ngực mà đọc bài nguyện và xá thay cho lạy; nếu ngoài trời đang mưa gió thì có thể đứng từ trong thềm nhà hướng ra Bàn Thông Thiên để nguyện và xá.

›Đọc Tiếp