ITrước Khi Đọc
Kinh Qur'an có một trăm mười bốn chương, và chương đứng đầu là một trong những chương ngắn nhất: bảy câu, hai mươi chín chữ Ả Rập kể cả câu mở đầu. Vậy mà không có bản văn nào của Hồi Giáo được đọc thành tiếng nhiều hơn. Một tín đồ giữ đủ năm lễ salah bắt buộc mỗi ngày thì đọc bài này ít nhất mười bảy lần theo cách tính của đa số trường phái luật, tức hơn sáu nghìn hai trăm lần trong một năm, chưa kể các lễ tự nguyện. Người Hồi Giáo ở Mecca hay ở Châu Đốc đều đọc cùng một chuỗi âm ấy, bằng tiếng Ả Rập, đứng quay về cùng một hướng.
Tên của bài là Al-Fatiha الفاتحة, rút từ gốc ba phụ âm f-t-h mang nghĩa mở. Tên đầy đủ là Fatihat al-Kitab فاتحة الكتاب, nghĩa là phần mở đầu của Kinh. Tiếng Việt có khi gọi là Chương Mở Đầu. Bài còn nhiều tên khác, trong đó hai tên quen nhất là Umm al-Kitab, Mẹ của Kinh, và as-Sab' al-Mathani, Bảy Câu Được Nhắc Lại, sẽ nói kỹ ở một mục riêng phía dưới.
Điều làm bài này khác phần lớn Kinh Qur'an nằm ở ngôi của lời. Theo giáo nghĩa Hồi Giáo, toàn bộ Kinh Qur'an là lời của Thượng Đế. Nhưng trong Al-Fatiha, lời ấy được đặt vào miệng con người: bài mở bằng lời ca ngợi Thượng Đế ở ngôi thứ ba, tới câu thứ năm thì đổi sang nói thẳng với Ngài ở ngôi thứ hai, rồi kết bằng một lời xin. Người đọc không nghe kể một câu chuyện hay một điều luật, mà đọc lên một lời cầu nguyện đã được soạn sẵn. Các nhà chú giải Hồi Giáo từ lâu đã chỉ ra bố cục ba phần ấy: ca ngợi, cam kết, cầu xin.
Trang này trình bày nguyên văn theo bản Mushaf Madinah, phiên âm Latinh, hai bản dịch Việt và Anh do thư viện tự dịch, rồi giải nghĩa từng câu. Chỗ các nhà chú giải hay các lối đọc khác nhau, thư viện ghi thẳng các cách, không phân xử.
Về nơi mặc khải, phần đông các nhà chú giải xếp Al-Fatiha vào nhóm chương Mecca, tức thuộc giai đoạn trước năm 622. Có một ý kiến thiểu số gắn với Mujahid ibn Jabr, nhà chú giải đời sau các môn đệ đầu tiên, xếp bài vào nhóm Medina, và có người dung hòa bằng cách nói bài được mặc khải hai lần. Al-Fatiha đứng đầu Kinh Qur'an nhưng không phải chương được mặc khải đầu tiên. Theo đa số nguồn truyền thống, đoạn mặc khải đầu tiên là năm câu mở đầu chương 96, chương al-'Alaq. Bảng thứ tự mặc khải in kèm bản Qur'an Cairo năm 1924, bản in đã làm chuẩn cho phần lớn các bản in về sau, xếp Al-Fatiha ở vị trí thứ năm.
Thứ tự các chương trong bản Qur'an hiện hành không theo thời gian mặc khải, mà theo thứ tự của bộ bản chép được định hình dưới thời khalip Uthman, giữa thế kỷ 7. Trong thứ tự ấy Al-Fatiha đứng riêng một mình ở đầu, rồi mới tới các chương dài. Các ghi chép thời trung đại, chẳng hạn trong sách Fihrist của Ibn al-Nadim, có thuật rằng bản chép riêng của Ibn Mas'ud, một môn đệ đọc Qur'an nổi tiếng, không ghi chương này. Chính các nguồn thuật chuyện ấy cũng chép lời giải thích gán cho Ibn Mas'ud rằng ai cũng thuộc lòng bài này nên ông không cần chép, chứ không phải ông không nhận bài là một phần của Kinh.
Văn bản trên trang này theo lối đọc Hafs 'an 'Asim, tức lối đọc của 'Asim ở thành Kufa, thế kỷ thứ tám, do học trò là Hafs truyền lại. Đây là lối đọc được in và được đọc rộng nhất hiện nay. Ngoài lối ấy còn chín lối đọc khác được truyền thống Hồi Giáo công nhận, và ở bài này chúng khác nhau ở vài chỗ nhỏ về âm, đều được ghi ở phần giải nghĩa. Mặt chữ theo bản Mushaf Madinah, bản in tại Medina từ thập niên 1980 theo nét chữ của nhà thư pháp 'Uthman Taha, nay là một trong những bản được in và phát hành rộng nhất.
IIToàn Văn Bảy Câu
| Câu | Nguyên văn Ả Rập | Phiên âm Latinh | Tiếng Việt | Tiếng Anh |
|---|---|---|---|---|
| 1 | بِسْمِ ٱللَّهِ ٱلرَّحْمَـٰنِ ٱلرَّحِيمِ | Bismi llāhi r-raḥmāni r-raḥīm | Nhân danh Allah, Đấng Đầy Lòng Thương, Đấng Hằng Thương Xót. | In the name of God, the All-Compassionate, the Ever-Merciful. |
| 2 | ٱلْحَمْدُ لِلَّهِ رَبِّ ٱلْعَـٰلَمِينَ | Al-ḥamdu li-llāhi rabbi l-ʿālamīn | Mọi lời ngợi khen thuộc về Allah, Đấng Chủ Tể nuôi dưỡng muôn cõi, | All praise belongs to God, Lord and Sustainer of all the worlds, |
| 3 | ٱلرَّحْمَـٰنِ ٱلرَّحِيمِ | Ar-raḥmāni r-raḥīm | Đấng Đầy Lòng Thương, Đấng Hằng Thương Xót, | the All-Compassionate, the Ever-Merciful, |
| 4 | مَـٰلِكِ يَوْمِ ٱلدِّينِ | Māliki yawmi d-dīn | Đấng làm chủ Ngày Phán Xét. | Master of the Day of Judgment. |
| 5 | إِيَّاكَ نَعْبُدُ وَإِيَّاكَ نَسْتَعِينُ | Iyyāka naʿbudu wa-iyyāka nastaʿīn | Chỉ Ngài chúng tôi thờ phụng, và chỉ nơi Ngài chúng tôi cầu xin trợ giúp. | You alone we worship, and from You alone we seek help. |
| 6 | ٱهْدِنَا ٱلصِّرَٰطَ ٱلْمُسْتَقِيمَ | Ihdinā ṣ-ṣirāṭa l-mustaqīm | Xin dẫn chúng tôi đi trên con đường ngay thẳng, | Guide us along the straight path, |
| 7 | صِرَٰطَ ٱلَّذِينَ أَنْعَمْتَ عَلَيْهِمْ غَيْرِ ٱلْمَغْضُوبِ عَلَيْهِمْ وَلَا ٱلضَّآلِّينَ | Ṣirāṭa lladhīna anʿamta ʿalayhim ghayri l-maghḍūbi ʿalayhim wa-lā ḍ-ḍāllīn | con đường của những người Ngài đã ban ân, không phải con đường của những người mắc cơn thịnh nộ, cũng không phải của những người lạc lối. | the path of those You have blessed, not of those who have incurred wrath, nor of those who have gone astray. |
IIIGiải Nghĩa Từng Câu
Phần dưới đi qua bài theo đúng thứ tự nguyên văn, chia thành chín cụm. Mỗi cụm nói nghĩa của chữ, mạch của câu, và chỗ các lối đọc hay các nhà chú giải khác nhau. Khi nhắc tới cách hiểu của một nhà chú giải, thư viện ghi tên người ấy. Những chỗ không ghi tên là phần giải nghĩa ngữ văn mà các bộ chú giải lớn đều nêu.
Câu này gọi là Basmala, lấy theo mấy chữ đầu. Chữ bi nghĩa là bằng, nhờ, cùng với, còn ism là tên. Câu thiếu động từ, và các nhà ngữ pháp Ả Rập cổ đã bàn nhiều về động từ bị lược đi: có người hiểu là tôi bắt đầu, có người hiểu là tôi đọc, có người hiểu là mọi việc tôi làm sau đây đều bắt đầu nhân danh Ngài. Chữ Allah الله là chữ Ả Rập chỉ Thượng Đế, và cột tiếng Anh của trang này dịch là God.
Chỗ cần nói rõ nhất là câu này có phải một câu của Al-Fatiha hay không, vì đây là chỗ các lối đếm và các trường phái khác nhau thật sự. Câu Basmala đứng đầu 113 trong 114 chương của Kinh Qur'an, chỉ vắng ở đầu chương 9, và còn xuất hiện thêm một lần bên trong chương 27, câu 30. Theo lối đếm Kufa mà bản Hafs dùng, Basmala là câu 1 của Al-Fatiha, và đây là chương duy nhất mà bản Hafs đánh số cho câu Basmala. Lối đếm Mecca cũng đánh số Basmala như vậy. Theo lối đếm Medina, Basra và Syria, như trong bản in theo lối đọc Warsh, Basmala đứng đầu chương mà không mang số, và để vẫn đủ bảy câu thì câu cuối được tách làm hai, ngắt sau chữ ʿalayhim thứ nhất.
Trong luật lễ, trường phái Shafi'i xem Basmala là một câu của Al-Fatiha, nên đọc thành tiếng trong những lễ đọc to. Trường phái Hanafi và Hanbali đọc nó thầm trước Al-Fatiha. Trường phái Maliki trong lễ bắt buộc thường không đọc. Luật Ja'fari của dòng Shia xem Basmala là một câu của mọi chương có nó, và chuộng việc đọc to. Phía không tính Basmala vào bài thường dẫn hadith qudsi do Muslim chép, số 395, vì hadith ấy đi qua bài bắt đầu từ câu al-hamdu mà không nhắc Basmala. Phía Shafi'i dẫn những hadith khác và cách đếm của Kufa.
Chữ hamd thường dịch là lời ca ngợi hay lời tạ ơn, nhưng các nhà từ điển Ả Rập phân biệt nó với hai chữ gần nghĩa. Shukr là cảm tạ vì được nhận ơn, còn madh là khen một phẩm chất, có khi khen cả điều không đáng khen. Hamd đứng giữa hai chữ ấy: khen vì phẩm chất đáng khen, và khen cả khi người khen chưa nhận ơn gì riêng. Vì không có chữ Việt nào gói trọn cả hai lớp nghĩa, cột Việt dịch là lời ngợi khen.
Mạo từ al ở đầu chữ làm cho câu mang nghĩa trọn: không phải một lời ngợi khen, mà là toàn bộ lời ngợi khen. Giới từ li trước chữ Allah mang nghĩa thuộc về. Câu vì thế là một mệnh đề khẳng định chứ không phải một lời mời, và các nhà chú giải như al-Tabari, mất năm 923, đã bàn rằng câu vừa là lời Thượng Đế tự ca ngợi vừa là lời dạy người đọc ca ngợi Ngài.
Chữ rabb thường được dịch là Chúa hay Chủ, nhưng nghĩa gốc rộng hơn. Nó chỉ người làm chủ một vật, đồng thời là người chăm nom, nuôi dưỡng cho vật ấy lớn lên tới chỗ trọn vẹn. Các nhà ngữ văn Ả Rập liên hệ chữ này với ý nghĩa nuôi nấng, dạy dỗ dần dần, dù họ không thống nhất về gốc chữ. Cột Việt vì thế dịch là Đấng Chủ Tể nuôi dưỡng, để giữ cả hai lớp nghĩa làm chủ và chăm nom.
Chữ 'alamin là số nhiều của 'alam, cõi hay thế giới. Các nhà chú giải hiểu khác nhau về phạm vi của nó. Có người hiểu là mọi loài được tạo dựng, từ người, jinn, thiên thần cho tới muông thú. Có người, được al-Tabari ghi lại, hiểu hẹp hơn là các loài có trí, tức người và jinn. Có người hiểu là mọi thế hệ và mọi thời đại. Cột Việt dịch là muôn cõi để không khóa người đọc vào một cách hiểu nào.
Hai danh xưng này cùng rút từ gốc r-h-m, gốc mang nghĩa lòng thương, và cũng là gốc của chữ rahim chỉ dạ con. Hai chữ đã có trong câu Basmala, nay được nhắc lại, và các nhà chú giải hiểu khác nhau về chỗ phân biệt chúng.
Cách hiểu thứ nhất dựa vào khuôn chữ. Rahman theo khuôn fa'lan, khuôn chỉ một trạng thái tràn đầy, nên được hiểu là lòng thương bao trùm hết thảy. Rahim theo khuôn fa'il, khuôn chỉ một phẩm tính bền lâu, nên được hiểu là lòng thương không dứt. Cách hiểu thứ hai, được al-Tabari chép lại từ các thế hệ trước, phân biệt theo đối tượng: Rahman là lòng thương dành cho mọi loài ở đời này, Rahim là lòng thương dành riêng cho người tin ở đời sau. Cách hiểu thứ ba cho rằng hai chữ gần như đồng nghĩa, đứng cạnh nhau để nhấn mạnh.
Có một điểm các nhà chú giải đều ghi: chữ Rahman chỉ dùng cho Thượng Đế, không dùng để gọi người, còn chữ Rahim thì có khi dùng cho người. Cột Việt nghiêng theo cách hiểu thứ nhất vì nó bám sát khuôn chữ, nhưng hai cách còn lại có cùng tư cách.
Đây là chỗ các lối đọc khác nhau rõ nhất trong bài. Theo lối Hafs 'an 'Asim, cùng với lối của al-Kisa'i, chữ đầu đọc là māliki với nguyên âm a kéo dài, nghĩa là người làm chủ, người sở hữu. Theo lối của Nafi', qua hai người truyền là Warsh và Qalun, cùng một số lối khác, chữ ấy đọc là maliki với nguyên âm a ngắn, nghĩa là vị vua. Nét chữ gốc trong bản chép thời Uthman chỉ ghi ba phụ âm m-l-k, không có chữ alif, nên chứa được cả hai cách đọc. Dấu alif nhỏ viết trên trong bản Mushaf Madinah là dấu ghi cách đọc của Hafs. Các nhà chú giải xem hai cách đọc bổ sung cho nhau: một bên nhấn quyền sở hữu trọn vẹn, một bên nhấn quyền cai trị.
Chữ din ở đây không mang nghĩa đạo như trong tiếng Ả Rập thường ngày, mà mang nghĩa thưởng phạt, đền trả. Yawm ad-din vì thế là ngày mỗi người nhận lại điều mình đã làm, và cột Việt dịch theo cách gọi quen là Ngày Phán Xét. Câu này đóng lại phần ca ngợi: từ Đấng nuôi dưỡng muôn cõi, qua lòng thương, tới quyền phán xét, bốn câu đầu vẽ ra hình ảnh Thượng Đế theo giáo nghĩa Hồi Giáo trước khi người đọc quay sang nói với Ngài.
Câu này là bản lề của cả bài, và có ba điều đáng dừng lại. Thứ nhất là trật tự chữ. Trong tiếng Ả Rập, bổ ngữ thường đứng sau động từ. Ở đây đại từ iyyaka, Ngài, được đặt lên trước, và các nhà ngữ pháp hiểu cách đặt ấy mang nghĩa loại trừ: chỉ Ngài, không ai khác. Cột Việt giữ nghĩa ấy bằng chữ chỉ ở đầu mỗi vế.
Thứ hai là chỗ đổi ngôi. Bốn câu trước nói về Thượng Đế ở ngôi thứ ba, tới đây người đọc nói thẳng với Ngài ở ngôi thứ hai. Các nhà tu từ học Ả Rập gọi lối chuyển ngôi đột ngột này là iltifat, và al-Zamakhshari, mất năm 1144, đã dẫn câu này làm ví dụ, giải thích rằng sau khi kể các phẩm tính của Ngài, người đọc như được đưa lại gần tới chỗ có thể thưa chuyện trực tiếp.
Thứ ba là số nhiều. Người đọc không nói tôi thờ phụng mà nói chúng tôi thờ phụng, kể cả khi đọc một mình. Các nhà chú giải hiểu chữ chúng tôi là cộng đồng tín đồ, rằng người đọc đứng trong một hàng dài không nhìn thấy hết. Theo một hadith qudsi do Muslim chép, số 395, câu này được gọi là phần chia đôi giữa Thượng Đế và người tôi tớ, nằm đúng giữa phần ca ngợi và phần cầu xin. Mục sau sẽ nói kỹ hơn.
Đây là lời xin duy nhất của bài, và mọi câu trước đó dẫn tới nó. Động từ ihdina nghĩa là dẫn chúng tôi, chỉ đường cho chúng tôi. Các nhà chú giải đã tự hỏi vì sao người đã tin, đang đứng lễ, lại còn xin được dẫn đường. Có ba cách trả lời thường gặp: xin được giữ vững trên con đường đã có, xin được dẫn sâu thêm vào chi tiết của con đường, và xin được dẫn tới đích cuối của con đường. Ba cách không loại trừ nhau.
Chữ sirat nghĩa là con đường lớn, con đường thẳng. Về âm đọc, lối Hafs đọc bằng phụ âm s nhấn, chữ sad. Theo tư liệu của trung tâm fatwa islamweb.net, Qunbul và Ruways đọc bằng phụ âm s thường, chữ sin, còn Khalaf truyền theo Hamza đọc chữ sad pha âm z, gọi là ishmam.
Chữ mustaqim nghĩa là thẳng, không cong, cũng có nghĩa là đứng vững. Đạo Hồi dùng hình ảnh con đường thẳng để chỉ lối sống theo điều Thượng Đế truyền, và câu tiếp theo sẽ định nghĩa con đường ấy bằng những người đã đi trên nó.
Con đường ngay thẳng không được tả bằng khái niệm, mà bằng con người: con đường của những người Ngài đã ban ân. Các nhà chú giải thường đối chiếu câu này với chương 4, câu 69 của Kinh Qur'an, nơi nêu bốn nhóm người được ban ân là các nhà tiên tri, những người chân thật, những người làm chứng và những người ngay lành.
Chữ 'alayhim, trên họ, cũng có khác biệt về âm giữa các lối đọc. Hamza đọc là 'alayhum, với nguyên âm u. Một số lối đọc khác, như lối của Ibn Kathir, nối thêm âm u dài sau chữ m. Lối Hafs đọc 'alayhim như trên trang này. Nghĩa không đổi.
Theo lối đếm Kufa, cụm này chưa hết câu mà nối liền với phần sau thành câu 7. Theo lối đếm Medina và các lối không đánh số Basmala, cụm này là trọn câu 6, và phần sau thành câu 7. Hai cách chia chỉ khác chỗ đặt dấu ngắt câu, không khác một chữ nào trong bài.
Hai nhóm người được nêu ở cuối bài là chỗ các nhà chú giải hiểu khác nhau rõ nhất, và thư viện ghi đủ các cách. Cách hiểu thứ nhất, phổ biến trong các bộ chú giải cổ điển như của al-Tabari và Ibn Kathir, mất năm 1373, dựa vào một hadith do al-Tirmidhi chép, thuật lời 'Adi ibn Hatim, đồng nhất nhóm mắc cơn thịnh nộ với người Do Thái và nhóm lạc lối với người Kitô hữu. Chính các nhà chú giải ấy thường nói thêm rằng điều bị nêu là hai kiểu lỗi, biết điều đúng mà không làm và làm mà không biết điều đúng, và ai rơi vào kiểu lỗi ấy thì thuộc vào đó, dù là ai.
Cách hiểu thứ hai đọc hai nhóm như hai kiểu người chung, không gắn với cộng đồng nào. Cách này gặp ở nhiều nhà chú giải cận đại, trong đó có Muhammad 'Abduh và Rashid Rida trong bộ Tafsir al-Manar, và họ lập luận rằng bản văn không nêu tên ai, nên đem gắn với một nhóm cụ thể là thu hẹp một lời cầu nguyện dành cho mọi người đọc. Cách hiểu thứ ba nhấn vào ngữ pháp: người được ban ân thì có chủ thể rõ, là Ngài đã ban, còn nhóm mắc cơn thịnh nộ thì dùng thể bị động, không nêu ai giận. Nhiều nhà chú giải thấy ở đó một phép lịch sự trong lời thưa với Thượng Đế, rằng điều tốt được quy về Ngài, còn điều nghiêm khắc thì nói tránh.
Về âm đọc, chữ cuối ad-dallin chứa âm d nhấn, chữ dad, âm mà người Ả Rập tự coi là riêng của tiếng mình, và chứa một nguyên âm kéo dài sáu nhịp trong lối Hafs vì đứng trước một phụ âm kép. Ngay sau chữ này, phần lớn tín đồ nói Amin, nhưng chữ ấy không thuộc bài, như mục sau sẽ nói.
IVVì Sao Đọc Trong Mỗi Rak'ah
Lễ salah صلاة là lễ nguyện bắt buộc năm lần mỗi ngày, trụ cột thứ hai trong năm trụ cột của Hồi Giáo. Mỗi lần lễ gồm một số chu kỳ động tác gọi là rak'ah ركعة. Một rak'ah gồm đứng, cúi gập người, đứng thẳng lại, quỳ sát đất hai lần với một lần ngồi xen giữa. Phần đứng đầu mỗi rak'ah gọi là qiyam, và bài đọc cố định của phần đứng ấy chính là Al-Fatiha. Vì vậy số lần đọc Al-Fatiha trong ngày bằng số rak'ah bắt buộc trong ngày.
| Lễ | Khung giờ | Số rak'ah bắt buộc | Al-Fatiha trong lễ chung |
|---|---|---|---|
| Fajr الفجر | Từ rạng đông tới trước lúc mặt trời mọc | 2 | Imam đọc to cả hai rak'ah |
| Dhuhr الظهر | Sau khi mặt trời qua đỉnh | 4 | Đọc thầm |
| Asr العصر | Xế chiều | 4 | Đọc thầm |
| Maghrib المغرب | Ngay sau hoàng hôn | 3 | Hai rak'ah đầu đọc to, rak'ah thứ ba đọc thầm |
| Isha العشاء | Buổi tối, sau khi ráng chiều tắt | 4 | Hai rak'ah đầu đọc to, hai rak'ah sau đọc thầm |
Theo giáo nghĩa, lý do Al-Fatiha có mặt trong mỗi rak'ah nằm ở một hadith được cả al-Bukhari, số 756, và Muslim, số 394, chép lại, thuật lời 'Ubada ibn al-Samit: لا صلاة لمن لم يقرأ بفاتحة الكتاب, la salata li-man lam yaqra' bi-fatihati l-kitab, nghĩa là không có lễ salah cho người không đọc phần mở đầu của Kinh.
Một hadith khác, do Muslim chép, số 395, là một hadith qudsi, tức lời mà truyền thống quy về chính Thượng Đế qua lời thuật của nhà tiên tri. Trong đó Thượng Đế phán rằng Ngài đã chia lễ salah làm hai nửa giữa Ngài và người tôi tớ, và người tôi tớ sẽ được điều mình xin. Hadith đi qua từng câu: khi người đọc nói lời ngợi khen, Ngài đáp rằng tôi tớ của Ta đã ngợi khen Ta. Tới câu nói về lòng thương, Ngài đáp rằng tôi tớ của Ta đã tán dương Ta. Tới câu nói về Ngày Phán Xét, Ngài đáp rằng tôi tớ của Ta đã tôn vinh Ta. Khi người đọc nói tới câu iyyaka na'budu, Ngài đáp rằng đây là phần giữa Ta và tôi tớ của Ta. Tới hai câu cuối, Ngài đáp rằng đây là phần của tôi tớ Ta, và tôi tớ Ta sẽ được điều mình xin. Theo cách hiểu này, mỗi lần đọc Al-Fatiha trong lễ là một cuộc đối đáp chứ không phải một lần đọc thuộc lòng.
Các trường phái xếp mức bắt buộc khác nhau
Dù mọi trường phái đều đọc Al-Fatiha trong lễ, họ không xếp nó vào cùng một hạng bắt buộc, và họ khác nhau rõ nhất ở câu hỏi người đứng sau imam có phải tự đọc hay không. Các thẻ dưới đây tóm lược lập trường thường được nêu trong sách luật của từng trường phái.
Đọc Al-Fatiha là một trụ của lễ trong mỗi rak'ah, thiếu thì rak'ah không thành. Người đứng sau imam cũng phải tự đọc, kể cả trong lễ imam đọc to. Basmala được tính là câu 1. Đây là trường phái mà cộng đồng Chăm Islam theo.
Điều bắt buộc ở hạng cao nhất là đọc một phần Kinh Qur'an bất kỳ, dựa vào chương 73, câu 20. Đọc riêng Al-Fatiha được xếp vào hạng wajib, thấp hơn một bậc. Trong hai rak'ah sau của lễ bốn rak'ah, việc đọc Al-Fatiha thuộc hạng sunnah. Người đứng sau imam thì lặng nghe, không tự đọc, dựa vào chương 7, câu 204.
Al-Fatiha là trụ của lễ. Người đứng sau imam đọc trong những lễ imam đọc thầm và lặng nghe trong những lễ imam đọc to. Trong lễ bắt buộc thường không đọc Basmala.
Al-Fatiha là trụ của lễ đối với người lễ một mình và imam. Với người đứng sau, tiếng đọc của imam được xem là đủ, và việc tự đọc được khuyến khích trong những đoạn imam đọc thầm.
Luật của dòng Shia Mười Hai Imam buộc đọc Al-Fatiha trong hai rak'ah đầu, kèm thêm một chương trọn. Trong rak'ah thứ ba và thứ tư, người lễ được chọn giữa Al-Fatiha và một câu tán tụng bốn vế, nên số lần đọc Al-Fatiha tối thiểu trong ngày thấp hơn mười bảy.
Vì sao lại là bài này chứ không phải một đoạn khác? Ngoài lý do hadith, các nhà chú giải đưa ra những giải thích mang tính ý nghĩa, và cần hiểu đó là suy nghĩ của các nhà chú giải chứ không phải điều luật. Cách giải thích quen nhất dựa vào tên gọi Mẹ của Kinh: bài gói trong bảy câu những chủ đề mà phần còn lại của Kinh Qur'an trải ra, gồm sự duy nhất của Thượng Đế, lòng thương của Ngài, ngày phán xét, việc thờ phụng và con đường sống. Một cách giải thích khác dựa vào lời xin ở câu 6: người tin cần được dẫn đường mỗi ngày, nên lời xin được đặt vào từng lần đứng lễ.
VChữ Amin Và Những Tên Gọi Khác
Ngay sau chữ cuối ad-dallin, phần lớn tín đồ Sunni nói Amin آمين, đọc là amin với hai nguyên âm dài, có vùng đọc a ngắn ở đầu. Chữ này nghĩa là xin được như vậy, xin Ngài đáp lời. Nó là tiếng đáp cho lời xin ở hai câu cuối, và cùng họ với chữ amen quen thuộc của Do Thái Giáo và Kitô Giáo.
Điều quan trọng nhất cần biết: Amin không phải một phần của Al-Fatiha, cũng không phải một chữ của Kinh Qur'an. Nó không có trong bản Mushaf nào, và các sách hướng dẫn đọc thường dặn ngắt một nhịp giữa chữ ad-dallin và chữ Amin để không ai tưởng hai chữ liền nhau. Việc nói Amin dựa vào hadith chứ không dựa vào bản văn Kinh.
Hadith được dẫn nhiều nhất về chữ Amin do al-Bukhari chép, số 780, và Muslim chép, số 410, thuật lời Abu Hurayra: khi imam nói Amin thì các người hãy nói Amin, vì ai nói Amin trùng lúc với các thiên thần nói Amin thì các lỗi trước đó của người ấy được tha. Theo cách hiểu này, lúc cả hàng lễ cùng nói Amin là lúc lời của người dưới đất gặp lời của thiên thần.
Các trường phái khác nhau về cách nói. Trường phái Shafi'i và Hanbali cho imam và người đứng sau nói Amin thành tiếng trong những lễ đọc to, nên ở những thánh đường theo hai trường phái này, sau câu cuối của Al-Fatiha là một tiếng Amin đồng loạt của cả hàng lễ. Trường phái Hanafi cho nói thầm. Trong trường phái Maliki, có ý kiến cho rằng imam không nói Amin trong lễ đọc to, chỉ người đứng sau nói. Dòng Shia Mười Hai Imam thì khác hẳn: theo mục từ Amin trên WikiShia, các luật gia Shia xem việc nói Amin sau Al-Fatiha trong lễ là điều không có trong nếp của nhà tiên tri, và phần đông cho rằng nói như vậy làm hỏng lễ. Thay vào đó, có sách luật Ja'fari khuyên người đứng sau imam, khi imam đọc xong Al-Fatiha, nói câu al-hamdu li-llahi rabbi l-'alamin.
Những tên gọi khác của bài
Một chương có nhiều tên là dấu hiệu của chỗ đứng đặc biệt. Al-Suyuti, học giả thế kỷ 15, trong sách al-Itqan fi 'Ulum al-Qur'an, gom được hơn hai mươi tên của Al-Fatiha. Các thẻ dưới đây ghi những tên thường gặp nhất, kèm chỗ dựa của mỗi tên.
Mẹ của Kinh, Mẹ của Qur'an. Chữ umm, mẹ, trong tiếng Ả Rập còn có nghĩa là gốc, cái chứa đựng, cái đứng đầu. Các nhà chú giải hiểu tên này theo hai cách: bài đứng đầu Kinh, và bài gói trọn ý của Kinh. Cần phân biệt với cụm umm al-kitab trong chương 3, câu 7 và chương 13, câu 39, nơi cụm này được hiểu theo nghĩa khác.
Bảy câu được nhắc lại. Tên này lấy từ chương 15, câu 87: quả thật Ta đã ban cho ngươi bảy câu mathani và Kinh Qur'an lớn lao. Theo hadith do al-Bukhari chép, số 4474, nhà tiên tri nói rõ bảy câu ấy chính là Al-Fatiha. Chữ mathani được hiểu khác nhau: được nhắc lại trong mỗi rak'ah, được đọc thành từng cặp, hay chứa lời ca ngợi.
Lời Ngợi Khen, gọi theo chữ mở đầu câu 2. Đây là tên quen dùng trong dòng Shia, nơi bài thường được gọi là Surah al-Hamd.
Lễ Nguyện. Tên này rút từ hadith qudsi do Muslim chép, số 395, trong đó Thượng Đế gọi bài là lễ salah khi nói Ngài đã chia lễ salah làm hai nửa. Theo cách hiểu ấy, bài và lễ gần như đồng nhất.
Phương Chữa Lành và Lời Đọc Chữa Bệnh. Tên thứ hai dựa vào một hadith do al-Bukhari chép, số 2276, kể chuyện Abu Sa'id al-Khudri đọc Al-Fatiha cho một tù trưởng bị bò cạp cắn. Thư viện thuật lại tên gọi và câu chuyện, không xác nhận hiệu nghiệm nào.
Nền Móng, Bài Trọn Vẹn, Bài Đủ Dùng. Ba tên này được al-Suyuti và các nhà chú giải khác ghi lại. Tên al-Wafiya thường được giải thích là bài không được chia ra để đọc nửa chừng trong một rak'ah như các chương khác.
VITín Đồ Đọc Khi Nào Và Ra Sao
Nhìn từ bên ngoài, lúc Al-Fatiha được đọc dễ nhận ra. Người lễ đứng quay về hướng qibla, tức hướng Kaaba ở Mecca, sau khi đã làm phép rửa wudu. Lễ mở bằng câu Allahu akbar, Thượng Đế lớn hơn hết, nói khi nâng hai tay lên ngang tai hay ngang vai. Sau đó, tùy trường phái, người lễ đặt hai tay chồng lên nhau trước ngực hay trước bụng, hoặc để hai tay buông thẳng hai bên như phần đông người theo trường phái Maliki và dòng Shia. Tiếp theo là một lời cầu mở đầu ngắn không bắt buộc, câu xin nương tựa a'udhu bi-llahi mina sh-shaytani r-rajim, câu Basmala đọc to hay thầm tùy trường phái, rồi mới tới bảy câu Al-Fatiha.
Bài phải được đọc bằng tiếng Ả Rập. Theo đa số luật gia, bản dịch sang tiếng khác không thay được nguyên văn trong lễ, vì bản dịch được xem là lời giải nghĩa chứ không còn là Kinh Qur'an. Sách luật Hanafi có ghi rằng Abu Hanifa từng cho người chưa đọc được tiếng Ả Rập dùng tiếng Ba Tư, và cũng ghi rằng về sau ông rút lại ý ấy. Người mới theo đạo vì vậy thường học thuộc Al-Fatiha trước mọi đoạn khác.
Mỗi rak'ah đọc một lần Al-Fatiha. Trong hai rak'ah đầu, sau Al-Fatiha người lễ đọc thêm một chương hay một đoạn Kinh Qur'an do mình chọn. Trong các rak'ah sau thì theo đa số trường phái chỉ đọc Al-Fatiha. Trong lễ chung, imam đọc to ở lễ rạng đông và ở hai rak'ah đầu của lễ hoàng hôn và lễ tối, đọc thầm ở lễ trưa và lễ chiều.
Lễ jumu'a trưa thứ Sáu gồm hai rak'ah đọc to, sau bài giảng của imam. Hai lễ Eid al-Fitr và Eid al-Adha cũng gồm hai rak'ah đọc to. Ở cả hai dịp, Al-Fatiha vẫn mở đầu phần đọc của mỗi rak'ah.
Lễ janaza làm đứng, không cúi và không quỳ. Theo trường phái Shafi'i và Hanbali, Al-Fatiha được đọc sau câu Allahu akbar thứ nhất. Trường phái Hanafi và Maliki thì thường thay bằng lời ca ngợi và lời cầu, không đọc Al-Fatiha trong lễ này.
Ngoài mười bảy rak'ah bắt buộc, nhiều tín đồ làm thêm các rak'ah sunnah trước hay sau lễ bắt buộc, lễ đêm, lễ tarawih trong tháng Ramadan. Mỗi rak'ah ấy lại có một lần Al-Fatiha, nên số lần đọc thực tế của người giữ đạo kỹ cao hơn con số mười bảy khá nhiều.
Ở nhiều cộng đồng, Al-Fatiha được đọc khi hai gia đình thỏa thuận hôn ước, khi mở đầu một buổi họp mặt, khi viếng mộ hay tưởng nhớ người đã mất, và khi thăm người bệnh. Một số học giả xem vài tập tục trong số đó không có căn cứ trong hadith. Thư viện ghi lại tập tục, không phân xử.
Tại Masjid al-Haram và tại các thánh đường ở Việt Nam
Tại Masjid al-Haram ở Mecca, nơi có Kaaba, các hàng lễ không xếp thẳng như ở mọi thánh đường khác mà xếp thành những vòng tròn đồng tâm quanh Kaaba, vì ở đây mọi hướng đều là hướng qibla. Trong mùa hành hương, người từ mọi trường phái đứng chung sau một imam. Người quan sát sẽ thấy trong cùng một hàng có người khoanh tay, có người buông tay, có người nói Amin thành tiếng và có người nói thầm, mỗi người giữ lối của trường phái mình trong khi cùng nghe một giọng đọc Al-Fatiha.
Tại Việt Nam, cộng đồng Chăm Islam theo trường phái Shafi'i, như trang Hồi Giáo của thư viện đã ghi. Theo quy định của trường phái ấy, trong các lễ đọc to, imam đọc thành tiếng cả câu Basmala lẫn bảy câu Al-Fatiha, người đứng sau tự đọc thầm bài này, và cả hàng lễ nói Amin thành tiếng. Đó là nếp lễ ở những nơi như thánh đường Jamiul Azhar và thánh đường Mubarak bên bờ sông Hậu, thánh đường Jamiul Anwar của xóm Chăm quận 8 cũ, hay thánh đường Jamia Al Musulman trên đường Đông Du.
Cộng đồng Chăm Bàni ở Nam Trung Bộ có nếp riêng: các vị chức sắc Acar đọc kinh theo lối truyền khẩu bằng tiếng Ả Rập đã qua nhiều đời, ghi bằng chữ Chăm cổ, và giữ lễ thay mặt cộng đồng. Thư viện chưa kiểm được Al-Fatiha giữ vị trí nào trong kinh văn của các vị Acar, nên không viết thêm về điểm này.
VIINhững Chỗ Hay Hiểu Lầm
Vì bài ngắn và được nhắc tới nhiều, Al-Fatiha hay bị đem ra so sánh vội với các bài kinh của đạo khác, hay bị gán những con số và những cách hiểu gọn hơn thực tế. Sáu điểm dưới đây là những chỗ trượt thường gặp nhất.
Không phải. Amin không có trong bất kỳ bản Mushaf nào và không phải chữ của Kinh Qur'an. Việc nói Amin dựa vào hadith, các trường phái Sunni khác nhau về nói to hay nói thầm, và phần đông luật gia dòng Shia cho rằng không nói Amin trong lễ.
Lối đếm Kufa, lối mà bản Hafs dùng, và lối đếm Mecca đánh số Basmala trong Al-Fatiha. Các lối đếm Medina, Basra và Syria để Basmala đứng đầu chương mà không mang số, và tách câu cuối làm hai để vẫn đủ bảy câu. Vì vậy gặp một bản ghi câu 7 bắt đầu từ ghayri l-maghdubi thì đó không phải bản sai, mà là bản theo lối đếm khác.
Bài đứng đầu Kinh nhưng không được mặc khải đầu tiên. Theo đa số nguồn truyền thống, đoạn đầu tiên là năm câu mở đầu chương 96. Thứ tự chương trong Kinh Qur'an không theo thời gian mặc khải.
Theo đa số luật gia, trong lễ salah Al-Fatiha phải được đọc bằng tiếng Ả Rập, vì bản dịch được xem là lời giải nghĩa chứ không phải Kinh Qur'an. Bản dịch Việt và Anh trên trang này là để hiểu nghĩa, không phải bản dùng trong lễ, và thư viện không có ý thay thế nguyên văn.
Đây là một cách hiểu có trong nhiều bộ chú giải cổ điển, dựa vào một hadith do al-Tirmidhi chép, nhưng không phải cách hiểu duy nhất. Bản văn không nêu tên ai. Nhiều nhà chú giải, cả cổ điển lẫn cận đại, đọc hai nhóm như hai kiểu lỗi mà bất cứ ai cũng có thể mắc, và chính các nhà chú giải theo cách hiểu thứ nhất cũng thường nói như vậy.
Mười bảy là số rak'ah bắt buộc, nên là mức tối thiểu theo cách tính của đa số trường phái. Người đi đường xa rút lễ bốn rak'ah còn hai nên đọc ít hơn. Trong luật Ja'fari và theo trường phái Hanafi, hai rak'ah sau của lễ bốn rak'ah có thể không đọc Al-Fatiha. Còn người làm thêm các lễ tự nguyện thì đọc nhiều hơn hẳn.
?Hỏi Đáp Nhanh
Al-Fatiha là gì
Al-Fatiha là chương 1 của Kinh Qur'an, gồm bảy câu tiếng Ả Rập. Tên bài nghĩa là phần mở đầu, tên đầy đủ là Fatihat al-Kitab, phần mở đầu của Kinh. Bài gồm ba phần: lời ca ngợi Thượng Đế ở bốn câu đầu, lời cam kết thờ phụng và cầu trợ giúp ở câu 5, và lời xin được dẫn trên con đường ngay thẳng ở hai câu cuối. Đây là bài mà mọi tín đồ Hồi Giáo đọc đứng trong mỗi rak'ah của lễ salah.
Vì sao người Hồi Giáo đọc Al-Fatiha ít nhất 17 lần mỗi ngày
Vì năm lễ salah bắt buộc mỗi ngày có tổng cộng mười bảy rak'ah, gồm 2 rak'ah lễ rạng đông, 4 lễ trưa, 4 lễ chiều, 3 lễ hoàng hôn và 4 lễ tối, và mỗi rak'ah có một lần đọc Al-Fatiha. Căn cứ là hadith do al-Bukhari, số 756, và Muslim, số 394, chép lại: không có lễ salah cho người không đọc phần mở đầu của Kinh. Con số này là mức tối thiểu theo đa số trường phái. Trong luật Ja'fari của dòng Shia, rak'ah thứ ba và thứ tư có thể thay Al-Fatiha bằng một câu tán tụng.
Bismillah có phải câu thứ nhất của Al-Fatiha không
Tùy lối đếm và tùy trường phái. Theo lối đếm Kufa mà bản Hafs dùng, câu Basmala, bismi llahi r-rahmani r-rahim, là câu 1 của Al-Fatiha. Theo các lối đếm khác, Basmala đứng đầu chương mà không mang số, và câu cuối được tách làm hai để vẫn đủ bảy câu. Trong luật lễ, trường phái Shafi'i và dòng Shia xem nó là một câu của bài, còn các trường phái Hanafi, Maliki và Hanbali có những lập trường khác.
Vì sao nói Amin sau Al-Fatiha
Chữ Amin آمين nghĩa là xin được như vậy, là tiếng đáp cho lời xin ở hai câu cuối của bài. Chữ này không thuộc Al-Fatiha và không có trong Kinh Qur'an. Việc nói Amin dựa vào hadith do al-Bukhari, số 780, và Muslim, số 410, chép lại. Các trường phái Sunni khác nhau về nói to hay nói thầm, còn phần đông luật gia dòng Shia cho rằng không nói Amin trong lễ.
Umm al-Kitab và as-Sab' al-Mathani nghĩa là gì
Đó là hai tên gọi khác của Al-Fatiha. Umm al-Kitab nghĩa là Mẹ của Kinh, được hiểu là bài đứng đầu và gói trọn ý của Kinh. As-Sab' al-Mathani nghĩa là Bảy Câu Được Nhắc Lại, lấy từ chương 15, câu 87 của Kinh Qur'an, và theo hadith do al-Bukhari chép, số 4474, bảy câu ấy chính là Al-Fatiha. Al-Suyuti trong sách al-Itqan gom được hơn hai mươi tên của bài này.