Rẽ từ đường Dương Bá Trạc vào con hẻm số 157, quý vị đi giữa hai dãy nhà san sát như mọi con hẻm khác của thành phố này. Nhưng vài chục bước là thấy khác: phụ nữ trùm khăn, hàng quán bày bánh lạ, không một quán rượu bia nào, và cuối hẻm là một khối nhà có hình trăng lưỡi liềm ôm một ngôi sao trên cao.
Nếu quý vị tới vào buổi tối, sẽ nghe thêm một thứ nữa. Từ trong thánh đường vọng ra tiếng trẻ con đọc bài. Chúng đang học một thứ chữ mà ngoài con hẻm này gần như không ai đọc được. Ngôi nhà ấy vừa là chỗ lễ, vừa là trường làng của cả một tộc người giữa lòng đô thị.
IMột Xóm Chăm Giữa Thành Phố
Xin nói rõ ngay từ đầu, vì chỗ này hay bị xếp nhầm. Đây là thánh đường của Hồi Giáo Islam chính thống, thuộc cộng đồng Chăm Islam. Đây không phải một thánh đường Bàni. Người Chăm ở nước ta có hai cộng đồng riêng hẳn về đời sống tôn giáo, và trộn hai bên vào nhau là điều thư viện muốn tránh trước tiên.
Cộng đồng ở con hẻm này gốc Châu Đốc, An Giang, dời về thành phố từ những năm 1960 và ở nguyên chỗ từ đó tới nay. Theo tư liệu đã công bố, xóm có khoảng ba nghìn tín đồ, là nơi tụ cư đông tín đồ Hồi Giáo nhất thành phố, trong khi cả cộng đồng Chăm theo Islam ở đây vào khoảng mười nghìn người sống rải ở nhiều địa bàn.
Theo giáo nghĩa Islam, nền tảng là niềm tin vào một Đấng duy nhất, không hình tướng và không thể vẽ ra. Vì vậy trong thánh đường không đặt tượng, không treo tranh người hay vật, không có bát hương và không có lễ vật dâng cúng. Trang trí chỉ gồm hoa văn hình học và thư pháp chép lời kinh.
Bổn phận của tín đồ gồm năm cột trụ: tuyên xưng đức tin, lễ nguyện năm lần mỗi ngày, nhịn chay trọn tháng Ramadan, bố thí, và hành hương Mecca nếu đủ sức. Ở dòng Islam chính thống, năm việc ấy là bổn phận của từng tín đồ chứ không giao cho ai làm thay, nên thánh đường mở quanh năm và có người tới mỗi ngày.
Gian lễ chính dành cho nam giới, trừ tháng Ramadan thì phụ nữ cũng vào. Đây là lệ chung của dòng này chứ không phải quy định riêng của nơi đây. Phụ nữ lễ tại nhà trong phần lớn thời gian trong năm, và việc ấy được coi là trọn bổn phận.
Cách phân vai giữa các thánh đường trong thành phố này đọc theo gốc gác của cộng đồng chứ không đọc theo địa bàn, và Jamiul Anwar là chỗ để thấy điều đó rõ nhất.
Thư viện đã có và sẽ có trang riêng cho hai ngôi ở khu trung tâm. Al Rahim ở đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa dựng năm 1885, của cộng đồng gốc Mã Lai và Indonesia. Jamia Al Musulman ở đường Đông Du dựng năm 1935, của cộng đồng gốc Nam Á. Còn Jamiul Anwar là của người Chăm Việt Nam, một tộc người bản địa, tới thành phố muộn hơn cả và tới từ trong nước chứ không từ ngoài. Ba ngôi, ba lớp người, và bản đồ Hồi Giáo của thành phố chính là bản đồ của ba lớp ấy.
Điều làm cộng đồng này khác hai cộng đồng kia còn nằm ở chỗ khác. Hai nhóm gốc ngoại quốc mang theo tôn giáo và dần hòa vào đời sống thành phố. Người Chăm ở đây mang theo cả tôn giáo lẫn tiếng nói và chữ viết của tộc người mình, và cái phải giữ vì thế nặng hơn. Đó là lý do vì sao ngôi thánh đường này có thêm một chức năng mà các ngôi kia không mang nặng bằng, là chức năng dạy chữ.
Hai chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu, không nhằm chê trách ai.
Thứ nhất, người Chăm ở đây không theo Bàni. Cách nói gộp người Chăm theo đạo Hồi thì đúng về gốc nhưng che mất chỗ khác nhau đáng kể. Cộng đồng này theo Islam chính thống: mỗi tín đồ tự lễ nguyện năm lần mỗi ngày, cả cộng đồng cùng nhịn chay trọn tháng Ramadan, thánh đường mở quanh năm. Còn người Chăm Bàni ở vùng Ninh Thuận và Bình Thuận cũ giao các bổn phận ấy cho lớp chức sắc đảm nhận thay, giữ thêm lớp thờ cúng tổ tiên, và thánh đường của họ chỉ mở trong kỳ lễ. Thư viện ghi lại chỗ khác nhau ấy như ghi một dữ kiện, không xếp bên nào đúng hơn bên nào.
Thứ hai, lớp học trong thánh đường không phải lớp học đạo thuần túy. Nhiều người tưởng trẻ con vào đó chỉ để học thuộc kinh. Thực ra chương trình gồm cả chữ Chăm, tức chữ viết của tộc người, học song song với chữ dùng để đọc kinh. Mục tiêu mà người trông coi thánh đường nói ra gồm bốn thứ phải giữ: lối ăn mặc, tiếng nói, chữ viết và nếp đạo. Ba thứ đầu thuộc về tộc người chứ không thuộc về tôn giáo.
IITừ Châu Đốc Về Một Con Hẻm
Ngôi thánh đường này trẻ hơn nhiều so với các ngôi khác trong thư viện, và chính vì trẻ nên nó kể được một chuyện mà các ngôi kia không kể: chuyện một cộng đồng dời chỗ ở rồi dựng lại nếp sống của mình từ đầu, ở một nơi hoàn toàn khác.
- Những năm 1960Người Chăm Châu Đốc về Sài GònCác gia đình Chăm Islam từ vùng Châu Đốc, An Giang lần lượt về thành phố tìm chỗ ở và sinh kế, chọn khu đất rẻ ven kênh thuộc địa bàn quận 8 cũ và ở quây quần thành xóm.
- 1966Lập thánh đường Jamiul AnwarCộng đồng lập ngôi thánh đường riêng cho xóm mình, làm chỗ lễ và chỗ tụ họp. Từ đó xóm có đủ ba thứ của một làng Chăm: nhà ở, thánh đường và lớp dạy chữ.
- Từ những năm 1960Mở lớp dạy chữ trong thánh đườngLớp dạy chữ Chăm và dạy đọc kinh cho trẻ trong xóm được mở và duy trì liên tục từ đó, có tư liệu ghi lớp đã mở tới sáu mươi lăm năm.
- 2006Xây lại thánh đườngCông trình được xây lại thành khối nhà như thấy hôm nay, giữ nguyên chỗ đứng và hướng của gian hành lễ. Đây là lần xây lớn nhất trong lịch sử ngôi này.
- Các năm sauXóm thành nơi tụ cư đông nhấtXóm giữ được số hộ và số người, thành nơi tụ cư đông tín đồ Hồi Giáo nhất thành phố với khoảng ba nghìn người, trong khi cả cộng đồng Chăm Islam ở đây khoảng mười nghìn.
- Hiện nayThánh đường kiêm trường của xómThánh đường giữ đủ nhịp năm lần lễ nguyện mỗi ngày, buổi lễ tập trung ngày thứ Sáu, và lớp học buổi tối vẫn mở đều, có thầy đã dạy ở đây trên ba mươi năm.
Có một chỗ nguồn ghi vênh nhau về quy mô lớp học, xin nói rõ thay vì chọn bừa một con số. Các bản mô tả đã công bố không thống nhất về sĩ số, số thầy và số bậc học. Có bản ghi lớp hiện có hơn bốn mươi học trò, nhỏ nhất bốn tuổi, và chương trình chia bốn bậc. Có bản ghi lớp nhận sáu bảy mươi đứa trẻ từ ba tới mười tuổi, có sáu thầy đứng lớp, và chương trình đi ba bậc. Con số thay đổi theo từng năm và theo cách đếm, nên chúng tôi ghi cả hai cách và không chốt một con số.
Điều các nguồn thống nhất thì rõ: lớp mở vào buổi tối, mỗi buổi chừng một giờ, nghỉ một buổi trong tuần, và học trò đi lên theo bậc từ nhận mặt chữ tới đọc được trọn bộ kinh. Giáo trình do chính cộng đồng in lấy, chép từ truyền khẩu và từ lời các vị chức sắc chứ không phải sách in sẵn từ nơi khác.
IIIGian Lễ, Mihrab Và Cái Lớp Học
Về khối nhà thì đây là một thánh đường đô thị điển hình: đất hẹp, không sân lớn, không bốn tháp góc, mọi bộ phận ép cho vừa chỗ. Nhưng bố cục bên trong thì khác các ngôi khác ở một chỗ, là nó phải chứa được hai việc trong cùng một mặt bằng, việc lễ và việc dạy.
Một gian rộng để trống, nền trải phẳng, không ghế, không tượng, không tranh. Người lễ đứng thành hàng ngang vai kề vai. Gian này dành cho nam giới, trừ tháng Ramadan thì phụ nữ cũng vào.
Hốc tường lõm ở bức tường chính, chỉ hướng qiblah về Mecca. Mihrab không phải ban thờ và không có vật thờ, nó chỉ làm đúng một việc là chỉ hướng cho cả hàng người đứng lễ.
Bục giảng có bậc, đặt cạnh mihrab, dùng cho bài thuyết giảng trong buổi lễ ngày thứ Sáu. Đây là chỗ duy nhất cao hơn mặt bằng chung, và nó cao vì công dụng chứ không vì phẩm vị.
Bể nước và hệ vòi ở lối vào, dùng cho phép rửa bắt buộc trước mỗi buổi lễ. Không làm phép này thì không vào hàng lễ được, nên khu nước là bộ phận không bị cắt bớt dù đất chật.
Lớp học buổi tối dùng chính không gian trong thánh đường và các gian phụ. Trẻ ngồi bệt thành nhóm theo bậc, hai chương trình chạy song song trong cùng một buổi, một bên đọc kinh và một bên tập nghi thức.
Chỉ dùng hoa văn hình học, hoa lá cách điệu và thư pháp chép lời kinh, vì giáo nghĩa cấm vẽ người và vật. Trên cao có hình trăng lưỡi liềm ôm ngôi sao, biểu tượng quen của kiến trúc Islam.
Cái lớp học đáng được nói riêng, vì nó là thứ làm nên diện mạo của nơi này. Chương trình đi lên theo bậc, bắt đầu bằng nhận mặt chữ, rồi tới các bài kinh ngắn đọc hằng ngày, rồi tới phần phát âm và quy tắc đọc, sau cùng mới lên phần kinh trọn bộ. Song song với đó là chữ Chăm, để học trò hiểu được nghĩa chứ không chỉ đọc được âm. Theo lời một thầy đứng lớp, sau chừng hai tháng làm quen mặt chữ thì trẻ bắt đầu đọc được.
Điều đáng nói là ai dạy. Thầy ở đây là người trong xóm, không lương theo nghĩa nghề nghiệp, có người đã đứng lớp trên ba mươi năm. Giáo trình do cộng đồng in lấy. Nói cách khác, cả cái trường ấy do chính xóm tự dựng và tự giữ, và nó tồn tại được hàng chục năm là vì đủ người trong xóm coi nó là việc phải làm.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này cần rào trước cho thật rõ. Islam không dạy phong thủy. Hướng của một thánh đường được định bằng một quy tắc duy nhất và bắt buộc của đạo: hướng qiblah, tức hướng về Ngôi Đền Kaaba ở Mecca, tính theo đường ngắn nhất trên mặt cầu Trái Đất. Từ đất Việt Nam, hướng ấy rơi về phía tây. Không có la bàn phong thủy, không có tuổi người lập, không có cung mệnh nào tham gia vào việc chọn hướng ấy, và người dựng cũng không có quyền chọn khác.
Những gì viết dưới đây hoàn toàn là cách đọc theo lối cổ truyền của người Việt, do thư viện đưa ra làm chỗ đối chiếu cho bạn đọc quen lối ấy, không phải điều giáo lý dạy và cũng không phải điều cộng đồng tính tới khi dựng.
Trước hết là chỗ đứng trong hẻm. Phong thủy cổ truyền rất chú ý tới con đường dẫn vào: đường thẳng đâm vào cửa là điều phải hóa giải, đường vòng ôm lấy nhà thì được coi là thuận. Ở đây lối vào là một con hẻm dài, hẹp, có nhà hai bên, và điểm đến nằm ở cuối hẻm. Đọc theo lối cũ thì đây là thế trường lang dẫn khí, một hành lang dài đưa khí đi thẳng tới điểm cuối rồi dừng lại ở đó. Sách cũ xếp thế này vào loại phải xét kỹ, vì khí đi trong ống hẹp thì nhanh và gấp. Người dựng thánh đường không đặt vấn đề như vậy, nhưng cách bố trí thực tế lại làm dịu điều đó: khối nhà lùi vào, có khoảng trống nhỏ trước cửa, và người vào phải dừng lại rửa nước trước khi bước tiếp.
Thứ hai là chuyện hướng đối với thửa đất. Trong phố, thửa đất nằm theo hẻm chứ không nằm theo trục nào khác. Gian lễ thì phải quay về Mecca. Hai điều ấy hầu như không bao giờ trùng nhau, và cách xử lý của Islam rất dứt khoát: xoay hàng người đứng lễ chứ không xoay lại hướng. Vì vậy trong nhiều thánh đường đô thị, các hàng lễ nằm chéo so với tường nhà. Người xem đất theo lối cũ nhìn vào sẽ thấy lạ, vì phép cũ luôn tìm cách cho nhà và hướng trùng nhau. Ở đây thì hướng đứng trên nhà.
Thứ ba là khu nước ở cửa. Phong thủy cổ truyền coi nước là thứ tụ khí và rất chú ý tới chỗ đặt bể nước. Đặt nước ngay lối vào, theo lối đọc cũ, là thế thủy tại môn, khí gặp nước thì dừng lại mà tụ. Nhưng lý do thật của khu nước ấy chẳng liên quan gì tới khí, nó có mặt vì phép tẩy thể là bắt buộc. Hai hệ chỉ vào cùng một vật mà nói hai chuyện khác hẳn nhau, và chúng tôi nêu ra để quý vị thấy rõ giới hạn của việc đối chiếu.
Cuối cùng là điều riêng của ngôi này. Phép cũ đọc một nơi thờ tự theo trục dọc từ cổng vào tới chỗ sâu nhất, và tính khí đi qua từng lớp. Ở đây không có trục ấy, chỉ có một gian duy nhất, mà gian ấy lại đổi vai theo giờ: ban ngày là chỗ lễ, buổi tối là chỗ học. Sách cũ không có khái niệm cho một không gian thờ tự đổi công năng như vậy, vì nơi thờ tự trong lối nghĩ cổ truyền là chỗ tĩnh và chỉ làm một việc. Cái nhịp hai mặt ở đây là thứ mà con mắt cũ không đọc được, và chúng tôi ghi nhận điều đó đúng như nó là.
VNhịp Ngày, Nhịp Tuần Và Tháng Ramadan
Nhịp của thánh đường chia làm ba lớp: lễ nguyện năm lần mỗi ngày, lễ tập thể ngày thứ Sáu, và các kỳ lễ trong năm tính theo lịch Hijri, tức lịch mặt trăng của Islam. Lịch này ngắn hơn năm dương lịch chừng mười một ngày, nên các kỳ lễ dịch dần qua các mùa chứ không đứng yên như hội hè theo âm lịch của người Việt. Xen vào ba lớp ấy là lớp học buổi tối, chạy đều quanh năm.
| Thời điểm | Việc | Nội dung |
|---|---|---|
| Mỗi ngày | Năm lần lễ nguyện | Năm buổi chia theo vị trí mặt trời trong ngày. Trước mỗi buổi phải làm phép tẩy thể tại khu nước ở lối vào. |
| Các tối trong tuần | Lớp dạy chữ và dạy kinh | Lớp mở buổi tối, mỗi buổi chừng một giờ, nghỉ một buổi trong tuần. Hai chương trình chạy song song, một bên đọc kinh và một bên tập nghi thức, học trò chia nhóm theo bậc. |
| Thứ Sáu hằng tuần | Lễ tập trung trong tuần | Buổi lễ đông nhất trong tuần, có bài thuyết giảng đọc từ minbar rồi cả hàng cùng lễ. Đây cũng là dịp cả xóm gặp nhau. |
| Trọn tháng Ramadan | Tháng nhịn chay | Tháng thứ chín của lịch Hijri. Tín đồ nhịn ăn uống từ rạng đông tới khi mặt trời lặn. Trong tháng này phụ nữ cũng vào gian lễ chính, và buổi tối cả xóm tụ về dùng bữa xả chay. |
| Trọn tháng Ramadan | Chợ họp trong tháng chay | Mỗi năm một lần, hàng quán bày dọc con hẻm bán món ăn của người Chăm phục vụ bữa xả chay buổi tối. Chợ này chỉ họp đúng một tháng rồi thôi. |
| Mùng 1 tháng Shawwal | Lễ mừng mãn chay | Lễ kết thúc tháng nhịn chay, dịp đông người nhất trong năm. Cả cộng đồng tới thánh đường lễ nguyện rồi thăm hỏi nhau. |
| Mùng 10 tháng Dhul Hijjah | Lễ hiến sinh | Trùng dịp hành hương Mecca. Có nghi thức xẻ thịt gia súc chia cho người trong cộng đồng và người thiếu thốn. |
Ngoài phần lễ, thánh đường giữ phần bố thí theo nếp chung của một masjid, gồm khoản bắt buộc hằng năm mà tiếng Arab phiên âm là zakat cùng khoản tự nguyện gọi là sadaqah. Nhưng việc nặng nhất mà nơi này gánh vẫn là việc dạy.
Nếp sống của xóm đi theo đạo khá chặt. Thức ăn theo quy định của đạo, không rượu bia, phụ nữ trùm khăn, trẻ con nói được cả tiếng Việt lẫn tiếng Chăm. Người trong xóm phần lớn buôn bán nhỏ, bán món ăn Chăm và bánh trái miền Tây. Sau hơn nửa thế kỷ ở giữa một đô thị lớn, cái còn giữ được không phải nhờ tường rào nào mà nhờ cái lớp học mở đều mỗi tối trong lòng thánh đường. Đó là lý do thư viện xếp nơi này thành một trang riêng.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Hẻm 157 đường Dương Bá Trạc, phường Chánh Hưng (phường 1 quận 8 cũ), Thành phố Hồ Chí Minh
- Đường tới
- Thánh đường nằm trong hẻm 157 đường Dương Bá Trạc, phường Chánh Hưng, tức địa bàn phường 1 quận 8 cũ, Thành phố Hồ Chí Minh, gần khu vực cầu Nguyễn Văn Cừ bắc qua kênh. Từ khu trung tâm sang chỉ một quãng ngắn.
- Toạ độ
- 10.7471, 106.6905
Đây là nơi hành lễ đang hoạt động nằm giữa chỗ ở của các gia đình, không phải điểm tham quan, nên lệ của nơi ấy là lệ phải theo. Bỏ giày trước khi vào gian lễ. Ăn mặc kín: nam quần dài áo có tay, nữ trùm khăn và kín tay chân. Gian lễ chính dành cho nam giới, trừ tháng Ramadan. Không đi cắt ngang trước mặt người đang lễ nguyện, không nói to. Lớp học buổi tối là việc của trẻ con trong xóm, xin đừng vào giữa lớp và đừng chụp ảnh trẻ khi chưa được phép. Con hẻm là chỗ ở chứ không phải khu tham quan, xin quý vị giữ ý khi đi vào.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Thánh đường Jamiul Anwar
Contribute photos, information or video for Jamiul Anwar MosqueThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
thánh đường jamiul anwar ở đâu
Trong hẻm 157 đường Dương Bá Trạc, phường Chánh Hưng, tức địa bàn phường 1 quận 8 cũ, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là thánh đường của xóm Chăm đông tín đồ Hồi Giáo nhất thành phố, khoảng ba nghìn người, lập năm 1966 và xây lại như hiện nay năm 2006.
lớp học trong thánh đường quận 8 dạy gì
Dạy chữ Chăm và dạy đọc kinh cho trẻ trong xóm, mở vào buổi tối, mỗi buổi chừng một giờ. Chương trình đi lên theo bậc, từ nhận mặt chữ tới các bài kinh ngắn, rồi tới quy tắc phát âm, sau cùng mới lên phần kinh trọn bộ. Thầy là người trong xóm, có người đã dạy trên ba mươi năm.
xóm chăm quận 8 gốc ở đâu
Phần lớn gốc Châu Đốc, An Giang, dời về thành phố từ những năm 1960 và ở nguyên chỗ từ đó tới nay. Sau hơn nửa thế kỷ, cộng đồng vẫn giữ tiếng nói, chữ viết, lối ăn mặc và nếp đạo của mình, phần lớn nhờ lớp học mở đều trong thánh đường.
jamiul anwar khác các thánh đường quận 1 ở chỗ nào
Khác ở gốc gác cộng đồng. Al Rahim ở đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa dựng năm 1885 của người gốc Mã Lai và Indonesia, Jamia Al Musulman ở đường Đông Du dựng năm 1935 của người gốc Nam Á, còn Jamiul Anwar là của người Chăm Việt Nam tới từ miền Tây. Ba ngôi là dấu của ba lớp người khác nhau.
chợ ramadan ở hẻm dương bá trạc họp khi nào
Chỉ họp trong tháng Ramadan, mỗi năm một lần, và tan khi hết tháng chay. Hàng quán bày dọc con hẻm bán món ăn của người Chăm phục vụ bữa xả chay buổi tối. Tháng Ramadan tính theo lịch Hijri nên mỗi năm rơi vào một khoảng dương lịch khác nhau.