VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Bửu Hương Tự

Chùa Nhà Láng, Dinh Đức Cố Quản, Đền thờ Quản cơ Trần Văn Thành

Ngôi chùa của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương giữa cánh đồng Láng Linh, nơi trên bàn thờ chính không có một pho tượng nào mà chỉ có một tấm vải đỏ.

Dựng lần đầu
1897
dựng lại lần hai năm 1938, lần ba năm 1952
Dòng đạo
Bửu Sơn Kỳ Hương
khai từ năm 1849, trước Phật Giáo Hòa Hảo chín mươi năm
Xếp hạng
Di tích quốc gia
di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, năm 1986

Từ đường lớn rẽ vào, đi qua một quãng bờ kênh giữa ruộng, quý vị tới một khoảnh sân rợp bóng cây với ngôi chùa mái ngói hai cấp và một khối nóc nhô cao ở giữa. Chung quanh không có phố, không có chợ, chỉ có đồng Láng Linh trải ra bốn phía. Dân trong vùng không gọi bằng tên chữ mà gọi là chùa Nhà Láng, gọi theo đất chứ không gọi theo chữ nghĩa.

Bước vào trong, người quen đi chùa Bắc Bộ sẽ khựng lại một nhịp. Trên bàn thờ chính không có tượng Phật, không có tượng Bồ Tát, không có một pho tượng nào. Chỉ có một tấm vải màu đỏ treo phẳng. Đó không phải sự thiếu thốn, mà là điều mà đạo ở đây dạy phải làm đúng như vậy.

IThờ Ai Và Thờ Theo Lối Nào

Xin nói rõ ngay từ dòng đầu, vì chỗ này hay bị xếp nhầm. Đây là một cơ sở của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, dòng do Đức Phật Thầy Tây An, tức ông Đoàn Minh Huyên, khai lập từ năm 1849 ở vùng Bảy Núi và châu thổ sông Cửu Long. Đây không phải cơ sở của Phật Giáo Hòa Hảo, dòng khai lập năm 1939 tại làng Hòa Hảo. Hai dòng cùng một mạch tư tưởng và thư viện xếp chung một mã, nhưng đây là dòng mẹ, có trước gần chín mươi năm.

Trong chùa thờ mấy lớp. Lớp trước là Đức Phật Thầy Tây An, vị khai đạo. Lớp sau là Đức Cố Quản Trần Văn Thành, người đệ tử được tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương tôn kính bậc nhất, cùng phu nhân là bà Nguyễn Thị Thạnh. Chung quanh còn các ngôi thờ ông Trần Văn Nhu, ông Trần Văn Chái và thờ chung các tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương. Vì có lớp thờ ấy mà nơi này còn mang tên Dinh Đức Cố Quản.

Theo giáo nghĩa

Theo giáo lý Bửu Sơn Kỳ Hương, đường tu gồm hai vế đi liền nhau là Học PhậtTu Nhân. Học Phật là học giáo pháp, Tu Nhân là làm trọn bổn phận làm người ngay trong đời sống thường ngày. Vế sau được cụ thể hóa bằng Tứ ân, tức bốn ơn phải báo đáp: ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân Tam bảo và ân đồng bào nhân loại.

Từ chủ trương ấy sinh ra ba nếp riêng mà quý vị thấy ngay khi bước vào. Thứ nhất, tín đồ tu tại gia, không cạo tóc, không xuất gia, vẫn cày ruộng làm ăn, nên cơ sở thờ tự không cần đồ sộ và không cần tăng chúng thường trú. Thứ hai, không thờ tượng cốt, chỉ thờ một tấm trần điều màu đỏ treo trên bàn thờ chính, lấy một tấm vải trơn thay cho mọi hình tướng. Thứ ba, lễ vật chỉ gồm nước lã, bông hoa và nhang, không cúng đồ mặn, không đốt vàng mã, không rước thầy cúng.

Người vào đạo xưa được trao một mảnh giấy nhỏ mà tín đồ gọi là lòng phái, trên có bốn chữ tên đạo đóng dấu son. Mảnh giấy ấy không phải bùa chú theo lối dân gian, mà là dấu nhận nhau giữa những người cùng theo một lối tu, trong một dòng không có chùa lớn và không có hàng tăng lữ để làm chỗ quy tụ.

Theo sử liệu

Về mặt khảo được, Đức Phật Thầy Tây An sống trong khoảng 1807 tới 1856, khai đạo từ năm 1849 và trong những năm sau đó đưa tín đồ đi khai hoang, lập nên nhiều trại ruộng ở vùng Thất Sơn và vùng đất trũng ven sông. Láng Linh là một trong những cánh đồng được mở như vậy. Trại ruộng vừa là nơi cày cấy vừa là nơi tu, đó là lối tổ chức đặc trưng của dòng này.

Bửu Hương Tự dựng năm 1897, tức bốn mươi mốt năm sau khi Đức Phật Thầy viên tịch, do lớp tín đồ đời sau đứng ra. Ngôi chùa đã ba lần được dựng trên cùng một chỗ đất, các lần sau vào năm 1938 và năm 1952. Ngôi đang đứng hôm nay là công trình của lần thứ ba.

Xin nói thẳng một điều về nguồn. Phần lớn tài liệu viết về nơi này tập trung vào đời hoạt động ngoài đạo của Đức Cố Quản và của vùng Láng Linh, tức là phần thuộc về sử chứ không thuộc về thờ tự. Thư viện này chỉ chép phần đạo: ai được thờ, thờ theo lối nào, chùa dựng và dựng lại ra sao, lễ trong năm gồm những ngày nào. Phần còn lại xin để cho sách sử.

Chỗ hay hiểu lầm

Ba chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu, không nhằm chê trách ai.

Thứ nhất, đây không phải cơ sở của Phật Giáo Hòa Hảo. Hai dòng đúng là cùng một mạch, và nhiều tín đồ ngày nay giữ cả hai nếp, nhưng Bửu Sơn Kỳ Hương khai từ năm 1849 với Đức Phật Thầy Tây An, còn Phật Giáo Hòa Hảo khai năm 1939 tại làng Hòa Hảo với một vị giáo chủ khác và có tổ đình riêng ở Phú Tân. Gọi gộp thì mất mất gần một thế kỷ ở giữa.

Thứ hai, tấm vải trên bàn thờ ở đây khác với tấm vải của Phật Giáo Hòa Hảo. Bửu Sơn Kỳ Hương thờ trần điều, tấm vải màu đỏ. Phật Giáo Hòa Hảo thờ Trần Dà, tấm vải màu nâu sồng. Hai màu, hai tên, hai dòng. Ai đã quen một bên rồi nhìn sang bên kia rất dễ gọi nhầm.

Thứ ba, chùa không có sư trụ trì theo lối chùa Phật Giáo. Vì đạo dạy tu tại gia và không có hàng tăng lữ, việc chùa do người trong đạo tại chỗ trông coi. Người đi lễ không tìm thấy nhà tăng, nhà trai hay lớp học ni ở đây, và đó là đúng nếp chứ không phải dấu hiệu chùa vắng.

IIBa Lần Dựng Trên Một Chỗ Đất

Lịch sử của ngôi chùa này là lịch sử của một chỗ đất giữa đồng được dựng lại ba lần trong hơn nửa thế kỷ. Cái còn lại suốt ba lần ấy không phải bộ khung nhà mà là chỗ đứng, hướng nhìn và cách bài trí bàn thờ. Các mốc dưới đây ghi theo việc dựng và trùng tu.

  • 1849Khai đạo Bửu Sơn Kỳ Hương
    Đức Phật Thầy Tây An, tức ông Đoàn Minh Huyên, khai lập dòng Bửu Sơn Kỳ Hương ở vùng châu thổ phía tây nam, dạy học Phật tu nhân và tứ ân, tín đồ tu tại gia.
  • Những năm 1850Mở trại ruộng Láng Linh
    Tín đồ được đưa về khai hoang các cánh đồng trũng, lập trại ruộng vừa cày cấy vừa tu. Láng Linh là một trong các cánh đồng được mở trong giai đoạn này.
  • 1856Đức Phật Thầy viên tịch
    Việc đạo từ đó do các đệ tử tiếp nối, trong đó Đức Cố Quản Trần Văn Thành là người được tín đồ vùng Láng Linh tôn kính bậc nhất.
  • 1897Dựng Bửu Hương Tự
    Ngôi chùa đầu tiên được dựng giữa cánh đồng Láng Linh, làm nơi thờ Đức Phật Thầy Tây An và Đức Cố Quản cùng gia quyến. Dân quanh vùng quen gọi là chùa Nhà Láng.
  • 1938Dựng lại lần thứ hai
    Chùa được dựng lại trên nền cũ, giữ nguyên cách bài trí bàn thờ và lối kiến trúc đình miếu Nam Bộ.
  • 1952Dựng lại lần thứ ba
    Lần dựng lại này cho ra hiện trạng còn thấy hôm nay: mặt bằng chữ tam, nóc cổ lầu, mái hai cấp lợp ngói, cột gỗ kết hợp bê tông, tường xây gạch.
  • 1986Xếp hạng di tích quốc gia
    Nơi này được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Hồ sơ di tích lập theo hướng lịch sử, còn bài này chỉ chép phần thờ tự.

Chữ Hán ghi ở đầu trang là ba chữ của chính tên chùa. Bửu là quý báu, Hương là hương thơm, Tự là chùa. Hai chữ đầu lặp lại hai chữ đầu trong tên đạo, nên tên chùa tự nó đã nói ngôi này thuộc dòng nào. Chúng tôi ghi chữ Hán theo lối chữ của tên gọi chứ không chép lại từ một tấm hoành phi cụ thể, xin quý vị lưu ý chỗ ấy.

IIIMặt Bằng Chữ Tam Và Tấm Trần Điều

Chùa dựng theo lối đình miếu cổ truyền Nam Bộ chứ không theo lối chùa Phật Giáo Bắc Bộ. Mặt bằng dạng chữ tam, tức ba nếp nhà nằm ngang song song nối nhau theo chiều sâu. Giữa nóc có khối cổ lầu nhô cao, mái đổ hai cấp lợp ngói, hệ cột gỗ kết hợp bê tông, tường xây gạch. Lối này cho phép nhà rộng bề ngang mà vẫn thoáng, hợp với vùng đồng thấp nhiều gió.

Ba nếp nhà ngang

Ba nếp song song nối tiếp theo chiều vào, tạo ra mặt bằng chữ tam. Nếp trước làm nơi tiếp khách và hành lễ chung, nếp giữa và nếp trong đặt các lớp bàn thờ.

Nóc cổ lầu

Khối nóc nhô cao giữa mái, vừa lấy sáng vừa thoát gió nóng. Đây là chi tiết quen của đình miếu Nam Bộ và là thứ giúp nhận ra ngôi chùa từ ngoài đồng nhìn vào.

Bàn thờ lớp trước

Đặt ngôi thờ Đức Phật Thầy Tây An, vị khai đạo. Trên bàn thờ chính treo tấm trần điều màu đỏ, không đặt tượng cốt.

Bàn thờ lớp sau

Đặt ngôi thờ Đức Cố Quản Trần Văn Thành cùng phu nhân là bà Nguyễn Thị Thạnh. Đây là lớp thờ khiến nơi này còn mang tên Dinh Đức Cố Quản.

Các ngôi thờ chung quanh

Bàn thờ ông Trần Văn Nhu, ông Trần Văn Chái và bàn thờ chung các tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương. Cách bài trí này cho thấy nơi đây vừa là chùa vừa là nơi thờ của cả một cộng đồng tín đồ.

Theo giáo nghĩa

Tấm trần điều đáng được nói riêng, vì nó là thứ làm nên diện mạo của cả dòng đạo. Theo cách giảng trong đạo, mọi màu sắc khi hòa lại thì về một mối, và tấm vải trơn một màu được treo lên để nhắc điều ấy: cái được thờ không nằm ở hình tướng nào, nên không cần tạc ra hình tướng. Bửu Sơn Kỳ Hương dùng vải màu đỏ và gọi là trần điều, trong khi Phật Giáo Hòa Hảo về sau dùng vải màu nâu sồng và gọi là Trần Dà.

Lễ vật đi kèm cũng giản dị theo. Nước lã biểu thị sự trong sạch, bông hoa biểu thị sự tinh khiết, nhang để trừ mùi uế. Ba thứ ấy là đủ, và đạo dạy không nên bày thêm, vì tiền của nên để dành giúp người. Ai quen mang lễ mặn hoặc vàng mã tới nơi thờ tự thì ở đây nên bỏ, không phải vì kiêng kỵ mà vì đạo không dùng.

Một điểm nữa dễ bỏ qua: chùa không có tam quan lớn, không có tháp, không có gác chuông. Khuôn viên là một khoảnh sân cây giữa đồng, hàng rào thấp, cổng vừa phải. Lối bố trí ấy hợp với chủ trương của đạo là không xây cất đồ sộ, và cũng hợp với đất Láng Linh vốn là ruộng chứ không phải phố.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong tư liệu của đạo. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải. Xin nói thêm rằng bản thân đạo Bửu Sơn Kỳ Hương không dạy phép xem đất, và chỗ dựng chùa ở đây được chọn theo lẽ khác, sẽ nói ở cuối mục.

Thế đất và hướng

Trước hết là đặc thù của cả vùng. Láng Linh là một cánh đồng trũng, mùa nước lên thì mặt đất chìm dưới một lớp nước mênh mông, mùa nước rút thì thành ruộng. Chữ láng trong tiếng Nam Bộ chỉ đúng loại đất ấy. Trong phép xem đất, một mảnh đất trũng được nước phủ theo mùa thuộc loại khó đọc: không có núi để tựa, không có gò để định huyệt, ranh giới đất và nước thay đổi theo lịch trời chứ không đứng yên.

Vì vậy, đọc thế đất ở đây phải đọc theo lối phong thủy đồng bằng. Nơi không có núi thì mạch nước thay chỗ cho mạch núi: kênh rạch dẫn khí, bờ đất giữ khí, và cái gò cao dù chỉ nhỉnh hơn mặt ruộng vài tấc cũng đủ làm chỗ tọa. Ngôi chùa đặt trên một khoảnh đất cao hơn mặt đồng, có cây lớn bao quanh, theo lối đọc cũ thì đây là thế đảo giữa đồng: bốn bề trống trải mà điểm thờ tự lại nổi lên, khí không tán vì đã có vòng cây và bờ đất giữ lại.

Thứ hai là hướng và khoảng sân. Chùa quay mặt ra phía có đường và kênh, lưng dựa vào đồng, phía trước để một khoảnh sân rộng dưới bóng cây. Người Nam Bộ đặt nhà theo lệ quay mặt ra lộ ra sông, xây lưng vào đồng, và đọc theo phong thủy thì đó là thế hướng động tọa tĩnh, mặt mở ra chỗ có người qua lại, lưng dựa vào chỗ yên. Khoảnh sân trước chùa làm vai minh đường, tức khoảng trống ngay trước cửa, nơi khí tụ lại trước khi vào nhà. Ở đồng bằng, một khoảnh sân rộng và bằng phẳng là thứ dễ có mà lại quý trong phép xem đất.

Thứ ba là khối nóc cổ lầu nhìn theo hình thể. Con mắt cũ đọc khối nhô cao giữa mái là một nét đứng, thuộc Mộc trong ngũ hành hình thể, còn dải mái đổ dài hai cấp là nét ngang thuộc Thổ. Một nét đứng đặt giữa nền ngang, ở giữa một cánh đồng phẳng, làm thành cái mà sách cũ gọi là lập cực, tức dựng một điểm cao để định tâm cho một vùng vốn không có điểm nào cao. Xin nhắc lại rằng nóc cổ lầu là lối làm quen thuộc của đình miếu Nam Bộ, có trước và độc lập với mọi cách đọc này.

Cuối cùng, điều đáng nói nhất lại là điều ngược với thói quen của người đọc phong thủy. Chỗ đất này không được chọn theo la bàn. Nó được chọn vì đây là cánh đồng mà tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương đã về khai mở và định cư, và ngôi chùa mọc lên ngay giữa ruộng của chính họ. Trong dòng đạo lấy cày ruộng làm một vế của việc tu, nơi thờ tự đặt giữa ruộng là đúng lẽ chứ không cần thêm lý do nào khác. Chúng tôi ghi điều này để tránh cho quý vị một hiểu nhầm thường gặp, rằng nơi thờ tự nào cũng phải có một câu chuyện chọn đất phía sau.

VLễ Và Lệ Trong Năm

Chùa có hai kỳ lễ lớn trong năm, cả hai đều tính theo âm lịch và cả hai đều gắn với những người được thờ ở lớp bàn thờ phía sau. Ngoài hai kỳ ấy là nếp cúng thường lệ theo ngày rằm và mùng một, giống nếp cúng tại nhà của tín đồ.

Các kỳ lễ chính của chùa theo âm lịch. Bài không ghi giờ hành lễ vì việc ấy do người trông coi chùa sắp xếp theo từng năm. Nguồn: Theo tư liệu về di tích của báo tỉnh và các bản mô tả lễ vía đã công bố..
Ngày âm lịchLễNội dung
20 tới 22 tháng haiLễ vía Đức Cố QuảnKỳ lễ lớn nhất trong năm của chùa, kéo dài ba ngày. Tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương từ nhiều nơi trong vùng về dâng hương, tụng nguyện và làm công quả.
Mùng 5 tháng nămLễ giỗ bà Nguyễn Thị ThạnhGiỗ phu nhân Đức Cố Quản, kỳ lễ lớn thứ hai trong năm, quy mô gọn hơn kỳ lễ tháng hai.
Rằm tháng giêngLễ cầu an đầu nămNếp cầu an chung của các cơ sở Bửu Sơn Kỳ Hương trong vùng, cúng bằng nước lã, bông hoa và nhang.
Mùng một và ngày rằm hằng thángNgày cúng thường lệNgười trong đạo giữ lệ cúng lạy tại bàn thờ nhà mình và tới chùa dâng hương, không cúng đồ mặn và không đốt vàng mã.

Trong các kỳ lễ ở đây, phần công quả chiếm chỗ rất lớn, đúng như nếp chung của các dòng đạo vùng châu thổ phía tây nam. Tín đồ tự lo cơm nước và chỗ nghỉ cho khách hành hương, người nấu, người dọn, người giữ xe, phần lớn không nhận gì lại. Nếp ấy nối thẳng với vế Tu Nhân trong giáo lý, tức là việc tu được đo bằng việc làm với người khác chứ không chỉ bằng thời giờ ngồi trước bàn thờ.

Một điểm khác đáng ghi: vì đạo dạy tu tại gia, phần lớn đời sống nghi lễ của người Bửu Sơn Kỳ Hương diễn ra ở bàn thờ trong nhà chứ không ở chùa. Ngôi chùa là chỗ quy tụ trong những ngày lễ chung, và ngoài những ngày ấy thì lặng. Cái lặng ấy là đúng nếp vận hành của dòng đạo này chứ không phải dấu hiệu chùa thưa người.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Vùng Láng Linh, xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú cũ, tỉnh An Giang
Đường tới
Chùa nằm giữa cánh đồng Láng Linh thuộc xã Thạnh Mỹ Tây, địa bàn huyện Châu Phú cũ, tỉnh An Giang. Từ quốc lộ chạy dọc bờ sông Hậu rẽ vào đường nội đồng một quãng là tới, đường sau cùng nhỏ và chạy men bờ kênh.
Toạ độ
10.5426, 105.148
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động của một cộng đồng tín đồ, không phải điểm tham quan, nên lệ của nơi ấy là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo và giản dị, bỏ giày dép theo chỉ dẫn, đi nhẹ nói khẽ trước các lớp bàn thờ, không chạm vào tấm trần điều và các đồ thờ. Nếu quý vị muốn dâng lễ thì nước lã, bông hoa và nhang là đúng lệ, còn lễ mặn và vàng mã thì đạo không dùng. Vào ba ngày lễ vía tháng hai âm lịch, khu vực rất đông, xin theo hướng dẫn của người trong chùa về chỗ đứng và lối đi.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Bửu Hương Tự

Contribute photos, information or video for Buu Huong Temple at Lang Linh

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

bửu hương tự thờ ai

Lớp bàn thờ trước thờ Đức Phật Thầy Tây An, tức ông Đoàn Minh Huyên, vị khai lập đạo Bửu Sơn Kỳ Hương năm 1849. Lớp sau thờ Đức Cố Quản Trần Văn Thành cùng phu nhân là bà Nguyễn Thị Thạnh. Chung quanh còn bàn thờ ông Trần Văn Nhu, ông Trần Văn Chái và bàn thờ chung các tín đồ trong đạo.

bửu hương tự là chùa của đạo nào

Của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, dòng khai lập năm 1849, không phải của Phật Giáo Hòa Hảo vốn khai lập năm 1939. Hai dòng cùng một mạch tư tưởng và cùng vùng đất, nhưng Bửu Sơn Kỳ Hương là dòng mẹ, có trước gần chín mươi năm và có vị khai đạo riêng.

vì sao trong chùa không có tượng phật

Vì đạo Bửu Sơn Kỳ Hương dạy không thờ tượng cốt. Trên bàn thờ chính chỉ treo một tấm vải trơn màu đỏ gọi là tấm trần điều, thay cho mọi hình tướng. Lễ vật cũng giản dị, chỉ gồm nước lã, bông hoa và nhang, không cúng đồ mặn và không đốt vàng mã.

tấm trần điều khác Trần Dà của Phật Giáo Hòa Hảo ở chỗ nào

Khác ở màu và ở dòng đạo. Bửu Sơn Kỳ Hương thờ tấm trần điều màu đỏ, còn Phật Giáo Hòa Hảo thờ tấm Trần Dà màu nâu sồng. Cách thờ thì cùng một lối, đều là treo một tấm vải trơn thay cho tượng cốt, nhưng tên gọi và màu vải là hai chỗ để nhận ra ngay thuộc dòng nào.

chùa nhà láng có lễ lớn vào ngày nào

Kỳ lễ lớn nhất là lễ vía Đức Cố Quản, kéo dài từ ngày 20 tới ngày 22 tháng hai âm lịch. Kỳ lễ lớn thứ hai là giỗ bà Nguyễn Thị Thạnh ngày mùng 5 tháng năm âm lịch. Ngoài ra chùa giữ nếp cúng thường lệ vào ngày rằm và mùng một hằng tháng.

Đọc Tiếp