Đứng ở sân chùa Thới Sơn nhìn lên, quý vị thấy ngay khối đá của núi Két đè bóng xuống mái ngói. Nhìn ra phía trước thì là ruộng, là vườn, là đường làng. Ngôi chùa nằm ở đúng chỗ giáp ranh giữa núi và đồng, và chỗ giáp ranh ấy chính là lý do nó có mặt.
Nơi này không bắt đầu như một ngôi chùa. Nó bắt đầu như một trại ruộng, tức một khu khai hoang nơi người ta dựng lều, vỡ đất, cày cấy và tu cùng một chỗ. Trong trại có một bàn thờ Tam bảo. Về sau bàn thờ ấy được cải thành chánh điện, và cái trại thành cái chùa. Muốn hiểu đạo Bửu Sơn Kỳ Hương ở dạng nguyên sơ nhất thì nên hiểu chuyện ấy trước đã.
IMột Trại Ruộng Thành Chùa
Xin nói rõ ngay từ đầu, vì chỗ này hay bị xếp nhầm. Đây là cơ sở của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, dòng do Đức Phật Thầy Tây An, tức ông Đoàn Minh Huyên, khai lập từ năm 1849. Đây không phải cơ sở của Phật Giáo Hòa Hảo, dòng khai lập năm 1939 ở làng Hòa Hảo và có tổ đình riêng tại Phú Tân. Hai dòng cùng một mạch tư tưởng, nhưng Bửu Sơn Kỳ Hương là dòng mẹ, có trước gần chín mươi năm.
Sau khi khai đạo, Đức Phật Thầy Tây An đưa tín đồ đi khai hoang nhiều vùng đất trũng và đất hoang ở châu thổ phía tây nam, lập nên các trại ruộng. Ở vùng chân núi Két, tín đồ vỡ đất và lập nên hai làng là Hưng Thới và Xuân Sơn, hai tên ghép lại thành tên Thới Sơn hôm nay. Trong trại ruộng ấy có một bàn thờ Tam bảo, và đó là tiền thân của ngôi chùa.
Theo giáo lý Bửu Sơn Kỳ Hương, đường tu gồm hai vế đi liền nhau là Học Phật và Tu Nhân. Vế sau được cụ thể hóa bằng Tứ ân, tức bốn ơn phải báo đáp: ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân Tam bảo và ân đồng bào nhân loại. Tín đồ tu tại gia, không cạo tóc, không xuất gia, vẫn làm ruộng làm ăn như mọi người trong làng.
Chính vì vậy mà cái trại ruộng có thể thành cái chùa mà không cần đổi gì về bản chất. Với dòng đạo này, cày ruộng và tu không phải hai việc. Người theo đạo được đưa về một vùng đất hoang, vỡ đất để có cái ăn, lập làng để có chỗ ở, và việc tu diễn ra ngay trong cái làng vừa lập ấy. Nơi thờ tự không dựng trước rồi mới có người tới, mà mọc lên từ giữa đám ruộng mà chính người tu đã khai.
Nếp thờ cũng theo đó mà giản dị. Đạo dạy không thờ tượng cốt, chỉ treo một tấm trần điều màu đỏ trên bàn thờ chính. Lễ vật chỉ gồm nước lã, bông hoa và nhang, không cúng đồ mặn, không đốt vàng mã, không rước thầy cúng.
Về mặt khảo được, Đức Phật Thầy Tây An sống trong khoảng 1807 tới 1856. Việc lập trại ruộng ở vùng này diễn ra sau năm 1849, tức trong bảy năm cuối đời ngài. Cùng giai đoạn ấy, ngài cho dựng đình Thới Sơn để thờ Thành hoàng Bổn cảnh theo lệ làng xã của người Việt, một việc cho thấy trại ruộng không phải một cộng đồng đóng kín mà được lập thành làng đủ lệ.
Các tư liệu không cho một năm cụ thể cho việc bàn thờ Tam bảo trong trại được cải thành chùa, và chúng tôi để trống chỗ ấy thay vì đưa ra một con số không có nguồn. Ngôi chùa còn thấy hôm nay là kết quả của nhiều lần tu bổ về sau, xây bằng vật liệu bền, giữ nguyên bố cục và cách bài trí cũ.
Ba chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu, không nhằm chê trách ai.
Thứ nhất, chùa Thới Sơn không phải chùa Phật Giáo theo nghĩa quen thuộc. Có chữ chùa, có bàn thờ Tam bảo, nhưng không có tượng Phật, không có sư trụ trì, không có tăng chúng. Việc chùa do người trong đạo tại chỗ trông coi, vì dòng này không có hàng tăng lữ.
Thứ hai, đây không phải chùa Tây An ở núi Sam. Hai nơi cùng gắn với Đức Phật Thầy Tây An nên rất dễ lẫn. Chùa Tây An ở núi Sam, Châu Đốc là nơi gắn với quãng cuối đời của ngài. Chùa Thới Sơn ở chân núi Két là một trại ruộng do ngài lập, thuộc cụm di tích Thới Sơn cùng đình Thới Sơn và chùa Phước Điền.
Thứ ba, tấm vải đỏ trên bàn thờ không phải màn che. Nhiều khách lần đầu tới tưởng tấm vải ấy là màn phủ bàn thờ hoặc là thứ che một pho tượng phía sau. Không phải. Tấm trần điều chính là đối tượng lễ bái, và phía sau nó không có gì cả.
IITừ Trại Ruộng Tới Cụm Di Tích
Lịch sử ở đây không đi theo các lần xây cất mà đi theo việc mở đất. Các mốc dưới đây ghi theo việc lập làng, dựng nơi thờ tự và xếp hạng di tích.
- 1849Khai đạo Bửu Sơn Kỳ HươngĐức Phật Thầy Tây An, tức ông Đoàn Minh Huyên, khai lập dòng Bửu Sơn Kỳ Hương, dạy học Phật tu nhân và tứ ân, tín đồ tu tại gia và không xuất gia.
- Sau 1849Lập trại ruộng dưới chân núi KétTín đồ được đưa về vùng chân núi Két khai hoang, vỡ đất và lập nên hai làng Hưng Thới và Xuân Sơn. Trong trại ruộng có một bàn thờ Tam bảo.
- Cùng giai đoạnDựng đình Thới SơnĐình được dựng để thờ Thành hoàng Bổn cảnh theo lệ làng xã của người Việt, cho thấy trại ruộng đã được lập thành làng đủ lệ.
- 1856Đức Phật Thầy viên tịchViệc đạo ở vùng Thất Sơn từ đó do các đệ tử và lớp tín đồ đời sau tiếp nối, giữ nguyên lối tu vừa cày vừa tu tại các trại ruộng.
- Các đời sauBàn thờ trong trại thành chùaBàn thờ Tam bảo trong trại ruộng được cải thành chánh điện, dựng thành ngôi chùa. Các tư liệu không ghi một năm cụ thể cho việc này.
- Thế kỷ 20Xây lại bằng vật liệu bềnChùa được tu bổ và xây lại bằng gạch và mái ngói qua nhiều đợt, giữ nguyên bố cục chánh điện và hậu điện cùng cách bài trí cũ.
- Hiện nayNằm trong cụm di tích Thới SơnChùa Thới Sơn được kể trong cụm ba di tích cùng đình Thới Sơn và chùa Phước Điền, gắn với dải chân núi Két.
Có một chỗ nguồn ghi vênh nhau về hạng di tích, xin nói rõ thay vì chọn bừa một con số.
Trang tư liệu của Bảo tàng tỉnh An Giang xếp chùa Thới Sơn vào mục di tích cấp tỉnh. Trong khi đó, một số bản tin của báo tỉnh và tư liệu du lịch nói rằng cụm di tích Thới Sơn, gồm chùa Thới Sơn, đình Thới Sơn và chùa Phước Điền, được công nhận ở cấp quốc gia năm 1999. Hai cách ghi này chưa được tài liệu nào nối lại với nhau, và cũng có thể là chuyện xếp hạng cho từng công trình khác với xếp hạng cho cả cụm. Chúng tôi chưa tra được bản quyết định gốc, nên ghi cả hai và lấy mức thấp hơn ở bảng tóm tắt cho chắc.
Xin nói thêm một điều về nguồn. Hồ sơ di tích của nơi này được lập theo hướng lịch sử và mang tên loại hình theo hướng ấy. Thư viện này chỉ chép phần đạo: gốc tích trại ruộng, cách bài trí bàn thờ, lối tu và lễ trong năm. Phần còn lại xin để cho sách sử.
IIIChánh Điện, Hậu Điện Và Ba Ngôi Miễu
Chùa chia hai phần rõ rệt theo chiều sâu: chánh điện ở ngoài và hậu điện ở trong. Kiến trúc theo lối chùa làng Nam Bộ, tường xây, mái ngói, khuôn viên rộng nhiều cây. Không có tam quan lớn, không có tháp, không có gác chuông, đúng chủ trương không xây cất đồ sộ của dòng đạo này.
Đặt bàn thờ Tam bảo. Trên bàn thờ không có tượng Phật mà chỉ có một tấm trần điều lớn màu đỏ treo làm đối tượng lễ bái. Đây chính là chỗ mà người quen chùa Phật Bắc Bộ nhìn vào sẽ thấy lạ hẳn.
Đặt bàn thờ Đức Phật Thầy Tây An, vị khai đạo. Cũng không có tượng cốt, cũng chỉ có tấm vải đỏ. Lớp thờ này là thứ cho biết ngôi chùa thuộc dòng nào.
Phía trước chùa dựng ba ngôi miễu nhỏ thờ các vị thần theo lệ dân gian Nam Bộ. Trong miễu cũng không có tượng cốt, giữ đúng nếp không thờ hình tướng của cả khu.
Sân rộng nhiều cây lớn, mở thẳng ra ruộng và đường làng. Khuôn viên giữ vai trò chỗ tụ họp trong những ngày lễ, khi số người về đông hơn sức chứa của chánh điện.
Chùa nằm dưới chân núi Két, khối đá lớn đứng ngay sau lưng. Đây là một trong ít cơ sở của dòng đạo này có núi thật làm hậu chẩm chứ không phải đất bằng.
Cách sắp xếp ba ngôi miễu ở trước, chùa ở sau đáng được nói riêng. Người trong vùng gọi thế ấy là trước miễu sau chùa. Nhìn từ ngoài vào, quý vị gặp lớp thờ dân gian trước, rồi mới tới lớp thờ của đạo. Hai lớp ấy không tranh chỗ của nhau mà nối nhau thành một trục, và đó là hình ảnh khá chính xác của đời sống tâm linh vùng Thất Sơn, nơi lớp tín ngưỡng bản địa và lớp đạo mới sống chồng lên nhau mà không loại trừ nhau.
Chữ Hán ghi ở đầu trang là chữ của tên chùa, do thư viện ghi theo lối chữ chứ không chép lại từ một tấm hoành phi cụ thể. Xin lưu ý một chỗ dễ nhầm: chữ Thới trong tên làng và tên chùa là lối đọc Nam Bộ của chữ Thái, đổi âm theo lệ kiêng húy xưa, chứ không phải một chữ khác. Người đọc chữ Hán sẽ thấy tên chùa hiện ra dưới dạng quen hơn là Thái Sơn.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong tư liệu của đạo. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải. Cần nói thêm rằng đạo Bửu Sơn Kỳ Hương không dạy phép xem đất, và chỗ dựng ở đây được chọn theo lẽ khác, sẽ nói ở cuối mục.
Điều đáng đọc trước nhất là chỗ này có núi thật. Ở châu thổ phía tây nam, phần lớn nơi thờ tự đứng trên đất bằng, không có gì để tựa, nên thầy địa lý phải đọc theo dòng nước và bờ đất. Vùng Thất Sơn là ngoại lệ: những khối núi đá nhô lên giữa đồng, và chùa Thới Sơn dựa lưng vào một khối như vậy. Theo phép cũ, đó là thế tọa sơn, lưng có chỗ dựa vững, và núi Két đóng vai hậu chẩm, tức cái gối kê sau lưng.
Thứ hai là hướng mở. Lưng chùa tựa núi, mặt chùa quay ra phía đồng ruộng và đường làng, phía trước có sân rộng. Trong phép cũ, thế đất lý tưởng là tựa sơn hướng thủy, lưng dựa núi mặt nhìn nước. Ở đây nước không phải một hồ hay một khúc sông lớn mà là cả một mặt ruộng, mà ruộng vùng này thì mùa mưa ngập nước. Người xem đất đồng bằng vẫn đọc mặt ruộng ngập là một dạng thủy, nên thế đất này khá gần với khuôn mẫu trong sách, tuy là gần theo lối châu thổ chứ không theo lối núi non phương bắc.
Thứ ba là chuyện ba ngôi miễu đứng trước. Con mắt cũ đọc ba khối nhỏ xếp ngang trước một khối lớn là một lớp án, tức vật chắn đặt trước mặt để khí không tuột thẳng ra ngoài. Ba khối ấy vừa đủ thấp để không che, vừa đủ có mặt để làm một nhịp dừng giữa sân và cửa chùa. Xin nhắc lại rằng thế trước miễu sau chùa là một lối bố trí quen của Nam Bộ, có trước và độc lập với mọi cách đọc này.
Cuối cùng, điều đáng nói nhất lại đi ngược thói quen của người đọc phong thủy. Chỗ đất này không được chọn theo la bàn, mà được chọn theo đất hoang. Người ta tới đây vì đây là vùng còn khai được, dựng lều vỡ ruộng, rồi mới có bàn thờ, rồi mới có chùa. Trong một dòng đạo lấy cày ruộng làm một vế của việc tu, thứ tự ấy mới là điều đáng nhớ: ruộng có trước, chùa có sau. Chúng tôi ghi điều này để tránh cho quý vị một hiểu nhầm thường gặp, rằng nơi thờ tự nào cũng phải có một câu chuyện tìm long điểm huyệt phía sau.
VLễ Và Lệ Trong Năm
Kỳ lễ lớn nhất của chùa rơi vào rằm tháng giêng, gộp cả lễ cúng Tam bảo, lễ cúng Đức Phật Thầy và lễ cầu an đầu năm vào hai ngày liền nhau. Ngoài kỳ ấy là nếp cúng thường lệ, giống nếp cúng tại bàn thờ nhà của tín đồ.
| Ngày âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| 14 và 15 tháng giêng | Lễ cúng Tam bảo và cúng Đức Phật Thầy | Kỳ lễ lớn nhất trong năm của chùa, gồm cả lễ cầu an đầu năm. Tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương từ nhiều nơi trong vùng Thất Sơn về dâng hương và làm công quả. |
| Rằm tháng bảy | Lễ rằm giữa năm | Nếp cúng chung của các cơ sở trong vùng, lễ vật vẫn chỉ gồm nước lã, bông hoa và nhang. |
| Rằm tháng mười | Lễ rằm cuối năm | Kỳ cúng thứ ba trong ba ngày rằm lớn mà người trong đạo giữ, quy mô gọn hơn kỳ rằm tháng giêng. |
| Mùng một và ngày rằm hằng tháng | Ngày cúng thường lệ | Người trong đạo cúng lạy tại bàn thờ nhà mình và tới chùa dâng hương, không cúng đồ mặn và không đốt vàng mã. |
Đi cùng kỳ lễ rằm tháng giêng là nếp hành hương vùng Thất Sơn của người trong đạo. Nhiều người giữ lệ đi một vòng các nơi gắn với Đức Phật Thầy Tây An trong những ngày đầu năm, đi theo cụm chứ không đi lẻ một nơi. Chùa Thới Sơn nằm trong vòng ấy cùng đình Thới Sơn và chùa Phước Điền ngay kề bên, ba nơi đi bộ được từ nơi này sang nơi kia.
Một điểm nữa đáng ghi: phần công quả ở đây chiếm chỗ rất lớn, đúng nếp chung của các dòng đạo vùng châu thổ phía tây nam. Người nấu, người dọn, người giữ xe, phần lớn là tín đồ tự nguyện và không nhận gì lại. Nếp ấy nối thẳng với vế Tu Nhân trong giáo lý, tức là việc tu được đo bằng việc làm với người khác chứ không chỉ bằng thời giờ ngồi trước bàn thờ.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Ấp Sơn Tây, xã Thới Sơn, huyện Tịnh Biên cũ, tỉnh An Giang
- Đường tới
- Chùa nằm ở ấp Sơn Tây, xã Thới Sơn, địa bàn huyện Tịnh Biên cũ, tỉnh An Giang, ngay dưới chân núi Két trên trục đường đi vào vùng Thất Sơn. Đình Thới Sơn và chùa Phước Điền ở gần đó, đi bộ được từ chùa sang.
- Toạ độ
- 10.6025, 105.0123
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động của một cộng đồng tín đồ, không phải điểm tham quan, nên lệ của nơi ấy là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo và giản dị, bỏ giày dép theo chỉ dẫn, đi nhẹ nói khẽ trước chánh điện và hậu điện, không chạm vào tấm trần điều và các đồ thờ. Nếu quý vị muốn dâng lễ thì nước lã, bông hoa và nhang là đúng lệ, còn lễ mặn và vàng mã thì đạo không dùng. Ba ngôi miễu trước sân cũng giữ nếp không đặt tượng, xin đừng mang tượng nhỏ tới đặt vào.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Thới Sơn
Contribute photos, information or video for Thoi Son TempleThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
chùa thới sơn thuộc đạo nào
Thuộc đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, dòng do Đức Phật Thầy Tây An tức ông Đoàn Minh Huyên khai lập năm 1849. Đây không phải cơ sở của Phật Giáo Hòa Hảo vốn khai lập năm 1939, cũng không phải một ngôi chùa Phật Giáo theo nghĩa quen thuộc, vì chùa không có tượng Phật và không có sư trụ trì.
trại ruộng thới sơn là gì
Là khu khai hoang mà Đức Phật Thầy Tây An đưa tín đồ về lập sau năm 1849, nơi người ta vừa vỡ đất cày cấy vừa tu. Từ trại ruộng ấy hình thành hai làng Hưng Thới và Xuân Sơn, ghép lại thành tên Thới Sơn. Bàn thờ Tam bảo trong trại về sau được cải thành chánh điện của chùa.
trong chùa thới sơn thờ gì
Chánh điện đặt bàn thờ Tam bảo, hậu điện đặt bàn thờ Đức Phật Thầy Tây An. Cả hai đều không có tượng cốt mà chỉ có một tấm trần điều lớn màu đỏ treo làm đối tượng lễ bái. Phía trước sân còn ba ngôi miễu nhỏ thờ các vị thần theo lệ dân gian, cũng không đặt tượng.
chùa thới sơn là di tích cấp nào
Nguồn ghi vênh nhau. Trang tư liệu của Bảo tàng tỉnh An Giang xếp chùa vào mục di tích cấp tỉnh, trong khi một số bản tin của báo tỉnh nói cụm di tích Thới Sơn gồm chùa Thới Sơn, đình Thới Sơn và chùa Phước Điền được công nhận ở cấp quốc gia năm 1999. Chúng tôi ghi cả hai vì chưa tra được bản quyết định gốc.
chùa thới sơn có lễ lớn vào ngày nào
Kỳ lễ lớn nhất là ngày 14 và 15 tháng giêng âm lịch, gồm lễ cúng Tam bảo, lễ cúng Đức Phật Thầy và lễ cầu an đầu năm. Ngoài ra chùa giữ nếp cúng vào rằm tháng bảy, rằm tháng mười, cùng ngày rằm và mùng một hằng tháng.