ITrước Khi Đọc
Mỗi sáng ở các cung quán phái Toàn Chân, khi chuỗi thần chú tịnh tâm, tịnh khẩu, tịnh thân vừa dứt, bài kinh đầu tiên các đạo sĩ cùng tụng là bài này. Chưa tới bốn trăm chữ chính văn, mở bằng ba câu về Đạo lớn không hình, không tình, không tên, rồi đi thẳng vào một chẩn đoán gọn về con người: thần vốn ưa trong mà tâm quấy nó, tâm vốn ưa lặng mà ham muốn kéo nó.
Tên đầy đủ của bài là Thái Thượng Lão Quân Thuyết Thường Thanh Tĩnh Kinh 太上老君說常清靜經, nghĩa là kinh về sự thường trong thường lặng do Thái Thượng Lão Quân nói. Người Việt gọi gọn là Thanh Tĩnh Kinh. Thái Thượng Lão Quân là danh hiệu Đạo Giáo dành cho Lão Tử khi đã được tôn thành thần, trong hệ Tam Thanh được đồng nhất với Đạo Đức Thiên Tôn. Chữ thường 常 nghĩa là thường hằng, lâu bền.
Bài chia hai phần, mỗi phần mở bằng ba chữ Lão Quân viết, tức Lão Quân nói. Phần một đi từ Đạo lớn xuống con người, chỉ ra vì sao thần và tâm bị quấy, rồi tả con đường quán chiếu trở về cái lặng thật. Phần hai đi theo chiều ngược lại, lần từng mắt xích từ một ý nghĩ sai lệch tới chỗ trôi nổi trong sống chết. Sau chính văn là ba đoạn lời của ba vị tiên chân.
Trang này trình bày trọn bài theo bản tụng trong công khóa buổi sáng của phái Toàn Chân, kèm phiên âm Hán Việt, bản dịch tiếng Việt và tiếng Anh do thư viện tự dịch, rồi giải nghĩa những câu then chốt.
Về niên đại, cần tách hai lối kể. Theo lời trong kinh, đây là lời Thái Thượng Lão Quân, được truyền miệng qua các vị tiên thánh rồi tới Cát Huyền mới chép thành văn. Theo giới sử học, bài ra đời muộn hơn nhiều. Nhà nghiên cứu Louis Komjathy, trong phần giới thiệu kèm bản dịch của ông, cho rằng bài có lẽ được soạn vào thế kỷ 8, và xếp nó vào nhóm văn bản đời Đường mà ông gọi là văn học thanh tĩnh. Cơ sở dữ liệu của Trung tâm Văn hóa Đạo Giáo ghi bài ước thành sách vào đời Đường, người soạn không rõ.
Lý do chính Komjathy nêu là bài dựa nhiều vào ý niệm Phật học: trong bài có chúng sinh, phiền não, vọng tưởng, tam độc, lục dục, khổ hải, vốn là thuật ngữ kinh Phật dịch sang chữ Hán. Bản chú xưa nhất được biết mang tên Đỗ Quang Đình 杜光庭, đạo sĩ sống từ năm 850 tới năm 933. Vì vậy Lão Tử, người gắn với Đạo Đức Kinh, không phải người viết bài này theo nghĩa sử học.
Trong Chính Thống Đạo Tạng đời Minh, bài xếp ở Động Thần bộ, loại Bản văn, dưới nhan đề 太上老君說常清靜妙經, trong các bảng mục lục hiện đại mang số DZ 620.
Về ba đoạn kệ ở cuối, các bản không giống nhau. Tưởng Môn Mã 蔣門馬, trong bản hiệu đính đối chiếu nhiều bản, ghi rằng bản rập bia khắc năm 980 đời Tống không có cả ba đoạn. Bản chép tay của Triệu Mạnh Phủ khoảng năm 1292, nay ở Bảo tàng Freer thuộc Viện Smithsonian, đã có đủ ba đoạn. Bản dịch của Komjathy dừng ở câu thường thanh tĩnh hĩ. Bản công khóa buổi sáng của Toàn Chân có đủ ba đoạn. Trang này lấy trọn bản công khóa, vì đó là bản đạo sĩ đang tụng: chính văn tới câu thường thanh tĩnh hĩ lần thứ hai, rồi ba đoạn kệ, mỗi đoạn mở bằng tên người nói.
IIToàn Văn Chính Văn Và Ba Đoạn Kệ
| Câu | Nguyên văn Hán | Phiên âm Hán Việt | Tiếng Việt | Tiếng Anh |
|---|---|---|---|---|
| 1 | 老君曰:大道無形,生育天地。 | Lão Quân viết: Đại Đạo vô hình, sinh dục thiên địa. | Lão Quân nói: Đạo lớn không có hình, mà sinh ra và nuôi lớn trời đất. | Lord Lao said: The Great Dao has no form, yet it gives birth to heaven and earth and rears them. |
| 2 | 大道無情,運行日月。 | Đại Đạo vô tình, vận hành nhật nguyệt. | Đạo lớn không có tình riêng, mà vận hành mặt trời mặt trăng. | The Great Dao has no feelings, yet it sets the sun and moon on their courses. |
| 3 | 大道無名,長養萬物。 | Đại Đạo vô danh, trưởng dưỡng vạn vật. | Đạo lớn không có tên, mà nuôi muôn vật lớn lên. | The Great Dao has no name, yet it raises and nourishes the myriad things. |
| 4 | 吾不知其名,強名曰道。 | Ngô bất tri kỳ danh, cưỡng danh viết Đạo. | Ta không biết tên nó, gượng đặt tên gọi là Đạo. | I do not know its name, so, forced to name it, I call it Dao. |
| 5 | 夫道者,有清有濁,有動有靜。 | Phù Đạo giả, hữu thanh hữu trọc, hữu động hữu tĩnh. | Đạo ấy có trong có đục, có động có tĩnh. | Now the Dao has clarity and turbidity, it has movement and stillness. |
| 6 | 天清地濁,天動地靜。 | Thiên thanh địa trọc, thiên động địa tĩnh. | Trời trong đất đục, trời động đất tĩnh. | Heaven is clear and earth is turbid, heaven moves and earth is still. |
| 7 | 男清女濁,男動女靜。 | Nam thanh nữ trọc, nam động nữ tĩnh. | Nam trong nữ đục, nam động nữ tĩnh. | The male is clear and the female turbid, the male moves and the female is still. |
| 8 | 降本流末,而生萬物。 | Giáng bản lưu mạt, nhi sinh vạn vật. | Từ gốc giáng xuống, chảy ra tới ngọn, mà sinh ra muôn vật. | Descending from the root and flowing out to the branches, it gives birth to the myriad things. |
| 9 | 清者濁之源,動者靜之基。 | Thanh giả trọc chi nguyên, động giả tĩnh chi cơ. | Cái trong là nguồn của cái đục, cái động là nền của cái tĩnh. | Clarity is the source of turbidity, movement is the foundation of stillness. |
| 10 | 人能常清靜,天地悉皆歸。 | Nhân năng thường thanh tĩnh, thiên địa tất giai quy. | Người giữ được thường trong thường lặng thì trời đất thảy đều quy về. | If people can be constantly clear and still, heaven and earth will all return to them. |
| 11 | 夫人神好清,而心擾之。 | Phù nhân thần hiếu thanh, nhi tâm nhiễu chi. | Thần của người vốn ưa trong, mà tâm lại quấy nó. | The human spirit loves clarity, yet the mind disturbs it. |
| 12 | 人心好靜,而欲牽之。 | Nhân tâm hiếu tĩnh, nhi dục khiên chi. | Tâm của người vốn ưa lặng, mà ham muốn lại kéo nó. | The human mind loves stillness, yet desires pull at it. |
| 13 | 常能遣其欲,而心自靜。 | Thường năng khiển kỳ dục, nhi tâm tự tĩnh. | Thường gạt được ham muốn đi thì tâm tự lặng. | If one can always send desires away, the mind becomes still of itself. |
| 14 | 澄其心,而神自清。 | Trừng kỳ tâm, nhi thần tự thanh. | Để tâm lắng xuống thì thần tự trong. | Let the mind settle, and the spirit becomes clear of itself. |
| 15 | 自然六欲不生,三毒消滅。 | Tự nhiên lục dục bất sinh, tam độc tiêu diệt. | Tự nhiên sáu dục không sinh, ba độc tiêu tan. | Then, as a matter of course, the six desires do not arise and the three poisons melt away. |
| 16 | 所以不能者,為心未澄,欲未遣也。 | Sở dĩ bất năng giả, vị tâm vị trừng, dục vị khiển dã. | Sở dĩ không làm được là vì tâm chưa lắng, ham muốn chưa gạt đi. | Those who cannot do this have not yet settled the mind and have not yet sent desires away. |
| 17 | 能遣之者,內觀其心,心無其心。 | Năng khiển chi giả, nội quán kỳ tâm, tâm vô kỳ tâm. | Người gạt được thì nhìn vào trong xét tâm, thấy tâm không có cái tâm riêng của nó. | For those who can send them away: looking inward at the mind, the mind has no mind of its own. |
| 18 | 外觀其形,形無其形。 | Ngoại quán kỳ hình, hình vô kỳ hình. | Nhìn ra ngoài xét thân, thấy thân không có cái thân riêng của nó. | Looking outward at the body, the body has no body of its own. |
| 19 | 遠觀其物,物無其物。 | Viễn quán kỳ vật, vật vô kỳ vật. | Nhìn ra xa xét vật, thấy vật không có cái vật riêng của nó. | Looking afar at things, things have no thing of their own. |
| 20 | 三者既悟,唯見於空。 | Tam giả ký ngộ, duy kiến ư không. | Ba điều ấy đã tỏ thì chỉ còn thấy cái không. | Once these three are understood, one sees only emptiness. |
| 21 | 觀空亦空,空無所空。 | Quán không diệc không, không vô sở không. | Xét cái không thì cái không cũng là không, cái không chẳng có gì để không. | Contemplating emptiness, emptiness too is empty, and emptiness has nothing to empty. |
| 22 | 所空既無,無無亦無。 | Sở không ký vô, vô vô diệc vô. | Chỗ để không đã chẳng còn, thì cái chẳng còn ấy cũng chẳng còn. | When what is emptied is already gone, the gone is also gone. |
| 23 | 無無既無,湛然常寂。 | Vô vô ký vô, trạm nhiên thường tịch. | Cái chẳng còn ấy đã chẳng còn, thì chỉ còn lặng trong mà thường vắng. | When the gone is already gone, there is only deep, clear, constant silence. |
| 24 | 寂無所寂,欲豈能生? | Tịch vô sở tịch, dục khởi năng sinh? | Vắng mà chẳng có gì để vắng, thì ham muốn làm sao sinh ra được? | When silence has nothing to be silent about, how could desire arise? |
| 25 | 欲既不生,即是真靜。 | Dục ký bất sinh, tức thị chân tĩnh. | Ham muốn đã không sinh, ấy là lặng thật. | When desire no longer arises, this is true stillness. |
| 26 | 真常應物,真常得性。 | Chân thường ứng vật, chân thường đắc tính. | Cái chân thường vẫn ứng với vật, cái chân thường giữ được tính của mình. | The true and constant responds to things, the true and constant attains its nature. |
| 27 | 常應常靜,常清靜矣。 | Thường ứng thường tĩnh, thường thanh tĩnh hĩ. | Thường ứng mà thường lặng, thế là thường trong thường lặng vậy. | Constantly responding and constantly still, one is constantly clear and still. |
| 28 | 如此清靜,漸入真道。 | Như thử thanh tĩnh, tiệm nhập chân Đạo. | Trong lặng như thế thì dần vào được Đạo thật. | Clear and still in this way, one gradually enters the true Dao. |
| 29 | 既入真道,名為得道。 | Ký nhập chân Đạo, danh vi đắc Đạo. | Đã vào Đạo thật thì gọi là được Đạo. | Having entered the true Dao, this is called attaining the Dao. |
| 30 | 雖名得道,實無所得。 | Tuy danh đắc Đạo, thực vô sở đắc. | Tuy gọi là được Đạo, thật ra chẳng được gì. | Though it is called attaining the Dao, in truth nothing is attained. |
| 31 | 為化眾生,名為得道。 | Vị hóa chúng sinh, danh vi đắc Đạo. | Vì để giáo hóa chúng sinh nên mới gọi là được Đạo. | It is only for the sake of transforming living beings that it is called attaining the Dao. |
| 32 | 能悟之者,可傳聖道。 | Năng ngộ chi giả, khả truyền thánh Đạo. | Ai tỏ ngộ được điều này thì có thể truyền Đạo thánh. | Whoever awakens to this may transmit the sacred Dao. |
| 33 | 老君曰:上士無爭,下士好爭。 | Lão Quân viết: Thượng sĩ vô tranh, hạ sĩ hiếu tranh. | Lão Quân nói: Người bậc trên không tranh, kẻ bậc dưới ưa tranh. | Lord Lao said: The superior person does not contend, the inferior person loves to contend. |
| 34 | 上德不德,下德執德。 | Thượng đức bất đức, hạ đức chấp đức. | Đức bậc trên không tự coi là đức, đức bậc dưới bám lấy đức. | Superior virtue does not count itself as virtue, inferior virtue clings to virtue. |
| 35 | 執著之者,不名道德。 | Chấp trước chi giả, bất danh đạo đức. | Kẻ còn bám chấp thì không gọi là có Đạo có Đức. | Those who cling and hold fast cannot be said to have the Dao and its virtue. |
| 36 | 眾生所以不得真道者,為有妄心。 | Chúng sinh sở dĩ bất đắc chân Đạo giả, vị hữu vọng tâm. | Chúng sinh sở dĩ không được Đạo thật là vì có tâm vọng. | The reason living beings do not attain the true Dao is that they have a deluded mind. |
| 37 | 既有妄心,即驚其神。 | Ký hữu vọng tâm, tức kinh kỳ thần. | Đã có tâm vọng thì thần bị kinh động. | Having a deluded mind, they startle their spirit. |
| 38 | 既驚其神,即著萬物。 | Ký kinh kỳ thần, tức trước vạn vật. | Thần đã kinh động thì bám vào muôn vật. | Having startled their spirit, they become attached to the myriad things. |
| 39 | 既著萬物,即生貪求。 | Ký trước vạn vật, tức sinh tham cầu. | Đã bám vào muôn vật thì sinh lòng tham cầu. | Being attached to the myriad things, they give rise to craving and seeking. |
| 40 | 既生貪求,即是煩惱。 | Ký sinh tham cầu, tức thị phiền não. | Đã sinh tham cầu thì ấy là phiền não. | Having given rise to craving and seeking, this is vexation. |
| 41 | 煩惱妄想,憂苦身心。 | Phiền não vọng tưởng, ưu khổ thân tâm. | Phiền não và vọng tưởng làm thân tâm lo buồn khổ sở. | Vexation and deluded thought fill body and mind with worry and pain. |
| 42 | 便遭濁辱,流浪生死。 | Tiện tao trọc nhục, lưu lãng sinh tử. | Rồi chuốc lấy nhơ nhục, trôi nổi trong sống chết. | Then they meet with defilement and disgrace, and drift through birth and death. |
| 43 | 常沉苦海,永失真道。 | Thường trầm khổ hải, vĩnh thất chân Đạo. | Mãi chìm trong biển khổ, mất hẳn Đạo thật. | Ever sunk in the sea of suffering, they lose the true Dao for good. |
| 44 | 真常之道,悟者自得。 | Chân thường chi Đạo, ngộ giả tự đắc. | Đạo chân thường, người tỏ ngộ thì tự được. | The Dao of the true and constant is attained by the awakened of themselves. |
| 45 | 得悟道者,常清靜矣。 | Đắc ngộ Đạo giả, thường thanh tĩnh hĩ. | Người được ngộ Đạo thì thường trong thường lặng vậy. | Those who attain awakening to the Dao are constantly clear and still. |
| 46 | 仙人葛翁曰:吾得真道,曾誦此經萬遍。 | Tiên nhân Cát Ông viết: Ngô đắc chân Đạo, tằng tụng thử kinh vạn biến. | Tiên nhân Cát Ông nói: Ta được Đạo thật, từng tụng kinh này một vạn lượt. | The Immortal Elder Ge said: I attained the true Dao, having recited this scripture ten thousand times. |
| 47 | 此經是天人所習,不傳下士。 | Thử kinh thị thiên nhân sở tập, bất truyền hạ sĩ. | Kinh này là điều người cõi trời tu tập, không truyền cho kẻ bậc dưới. | This scripture is what the heavenly beings practice, and it is not passed on to inferior people. |
| 48 | 吾昔受之於東華帝君, | Ngô tích thụ chi ư Đông Hoa Đế Quân, | Xưa ta nhận kinh từ Đông Hoa Đế Quân, | Long ago I received it from the Imperial Lord of Eastern Florescence, |
| 49 | 東華帝君受之於金闕帝君, | Đông Hoa Đế Quân thụ chi ư Kim Khuyết Đế Quân, | Đông Hoa Đế Quân nhận từ Kim Khuyết Đế Quân, | the Imperial Lord of Eastern Florescence received it from the Imperial Lord of the Golden Gate Tower, |
| 50 | 金闕帝君受之於西王母。 | Kim Khuyết Đế Quân thụ chi ư Tây Vương Mẫu. | Kim Khuyết Đế Quân nhận từ Tây Vương Mẫu. | and the Imperial Lord of the Golden Gate Tower received it from the Queen Mother of the West. |
| 51 | 西王母皆口口相傳,不記文字。 | Tây Vương Mẫu giai khẩu khẩu tương truyền, bất ký văn tự. | Từ Tây Vương Mẫu trở xuống đều truyền miệng cho nhau, không ghi thành chữ. | From the Queen Mother of the West on, all passed it on mouth to mouth, never setting it down in writing. |
| 52 | 吾今於世,書而錄之。 | Ngô kim ư thế, thư nhi lục chi. | Nay ta ở đời, viết ra mà chép lại. | Now, being in the world, I have written it out and recorded it. |
| 53 | 上士悟之,升為天官。 | Thượng sĩ ngộ chi, thăng vi thiên quan. | Bậc trên tỏ ngộ kinh này thì lên làm quan cõi trời. | The superior who awaken to it will rise to become officials of heaven. |
| 54 | 中士修之,南宮列仙。 | Trung sĩ tu chi, Nam Cung liệt tiên. | Bậc giữa tu theo thì được xếp vào hàng tiên ở Nam Cung. | The middling who cultivate it will be ranked among the immortals of the Southern Palace. |
| 55 | 下士得之,在世長年。 | Hạ sĩ đắc chi, tại thế trường niên. | Bậc dưới có được thì sống lâu ở đời. | The inferior who obtain it will live long years in this world. |
| 56 | 遊行三界,升入金門。 | Du hành tam giới, thăng nhập kim môn. | Đi khắp ba cõi, lên vào cửa vàng. | They will roam the three realms and ascend through the golden gate. |
| 57 | 左玄真人曰:學道之士,持誦此經, | Tả Huyền Chân Nhân viết: Học Đạo chi sĩ, trì tụng thử kinh, | Tả Huyền Chân Nhân nói: Người học Đạo mà giữ và tụng kinh này | The Perfected of Left Mystery said: A student of the Dao who holds to and recites this scripture |
| 58 | 即得十天善神,擁護其身。 | tức đắc thập thiên thiện thần, ủng hộ kỳ thân. | thì được thiện thần của mười cõi trời che chở thân mình. | will gain the good spirits of the ten heavens to guard and protect their body. |
| 59 | 然後玉符保神,金液煉形。 | Nhiên hậu ngọc phù bảo thần, kim dịch luyện hình. | Rồi bùa ngọc giữ thần, dịch vàng luyện hình. | Then jade talismans preserve the spirit and golden elixir refines the form. |
| 60 | 形神俱妙,與道合真。 | Hình thần câu diệu, dữ Đạo hợp chân. | Hình và thần cùng nhiệm mầu, hợp với Đạo mà thành chân. | Form and spirit both become wondrous, and one merges with the Dao in perfection. |
| 61 | 正一真人曰:人家有此經,悟解之者, | Chính Nhất Chân Nhân viết: Nhân gia hữu thử kinh, ngộ giải chi giả, | Chính Nhất Chân Nhân nói: Nhà nào có kinh này mà hiểu thấu được, | The Perfected of Orthodox Unity said: In a household that has this scripture, whoever understands it |
| 62 | 災障不干,眾聖護門。 | tai chướng bất can, chúng thánh hộ môn. | thì tai ương chướng nạn không phạm tới, các bậc thánh giữ cửa. | will not be touched by calamity or hindrance, and the host of sages will guard the gate. |
| 63 | 神升上界,朝拜高尊。 | Thần thăng thượng giới, triều bái cao tôn. | Thần lên cõi trên, chầu lạy các đấng cao tôn. | The spirit will rise to the upper realm to pay court to the High Honored Ones. |
| 64 | 功滿德就,相感帝君。 | Công mãn đức tựu, tương cảm Đế Quân. | Công đầy đức trọn, cảm ứng tới Đế Quân. | When merit is full and virtue complete, one will be in resonance with the Imperial Lord. |
| 65 | 誦持不退,身騰紫雲。 | Tụng trì bất thoái, thân đằng tử vân. | Tụng giữ không lui, thân cưỡi mây tía bay lên. | Reciting and holding to it without falling back, one's body will rise upon purple clouds. |
IIIGiải Nghĩa Từng Câu
Phần dưới lấy mười hai cụm then chốt ra giải, giữ đúng thứ tự trong bài. Chỗ các bản chép khác nhau hay các nhà chú giải hiểu khác nhau được ghi ngay ở câu ấy.
Ba câu mở đầu dựng theo cùng một khuôn: Đại Đạo thiếu một thứ, vậy mà làm được một việc lớn. Không hình mà sinh ra trời đất, không tình riêng mà vận hành mặt trời mặt trăng, không tên mà nuôi muôn vật. Ba chữ vô không phải lời chê Đạo thiếu sót. Chính vì không bị một hình, một tình, một tên nào giới hạn nên Đạo làm được việc của nó ở khắp nơi.
Chữ vô tình 無情 dễ đọc lệch nhất. Trong tiếng Việt hôm nay, vô tình gần nghĩa với lạnh lùng hay sơ ý. Ở đây nó nghĩa là không thiên lệch yêu ghét, gần với câu thiên địa bất nhân ở chương 5 mà trang Đạo Đức Kinh chương 1 tới 9 đã giải.
Câu ngô bất tri kỳ danh, cưỡng danh viết Đạo gần như lấy thẳng từ chương 25 Đạo Đức Kinh: 吾不知其名,字之曰道,強為之名曰大.
Hai cặp làm trục cho cả bài: thanh và trọc, trong và đục, động và tĩnh, xếp lên trời đất và nam nữ theo lối vũ trụ luận quen thuộc của Trung Hoa, khí trong nhẹ bốc lên thành trời, khí đục nặng lắng xuống thành đất. Giáng bản lưu mạt, từ gốc giáng xuống chảy ra ngọn, là chiều sinh ra muôn vật. Người tu đi ngược chiều ấy.
Câu nam thanh nữ trọc được hiểu khác nhau. Nhiều bản chú theo lối nội đan coi nam nữ ở đây là dương khí và âm khí có trong mỗi người, không xếp hạng hai giới. Lối đọc sát chữ hơn thấy ở đây quan niệm xã hội thời soạn kinh. Thư viện ghi cả hai.
Câu cuối có dị bản. Bản hiệu đính của Tưởng Môn Mã, lấy bia khắc năm 980 đời Tống làm gốc, chép 靜者動之基, bản chép Triệu Mạnh Phủ cũng vậy. Bản công khóa, bản kinh chú khuyết danh trên ctext.org và các bản chú của Bạch Ngọc Thiềm, Vương Nguyên Huy chép 動者靜之基, chữ trang này theo.
Câu được trích nhiều nhất, cũng là bản lề: từ đây bài thôi nói về trời đất, quay sang con người. Chữ thường 常 là then chốt, vì bài nói tới sự trong lặng giữ được thường xuyên, không phải một lúc.
Vế thiên địa tất giai quy có hai cách hiểu. Một là trời đất đều theo về với người ấy. Hai, gặp nhiều trong các bản chú theo lối nội đan, là trời đất trong thân người, tức cái trong cái đục, cái động cái tĩnh bên trong, trở về đúng chỗ của nó.
Đây là chẩn đoán trung tâm của bài, gọi tên ba thứ xếp từ trong ra ngoài: thần 神, tâm 心 và dục 欲. Thần sâu nhất, vốn ưa trong. Tâm ở giữa, vốn ưa lặng. Dục ở ngoài cùng, kéo tâm đi, rồi tâm bị kéo lại quấy thần. Bài không nói bản tính con người là xấu: cái trong cái lặng mới là chỗ tự nhiên, sự đục và sự động đến sau, như bùn bị khuấy lên trong nước.
Theo bản hiệu đính của Tưởng Môn Mã, bản bia đời Tống chép 而情擾之, chữ tình thay chữ tâm. Các bản khác chép chữ tâm như trang này.
Khiển 遣 là sai đi, tiễn đi, không phải đánh đuổi. Trừng 澄 là để nước lắng trong: người xưa làm trong nước bằng cách để yên cho cặn chìm, càng khuấy càng đục. Và hai chữ tự 自: tâm tự lặng, thần tự trong. Bài không bảo phải làm cho tâm lặng, mà bảo gỡ cái đang quấy đi, sự lặng sẽ tự có.
Kết quả là lục dục bất sinh, tam độc tiêu diệt, hai bộ thuật ngữ vay từ Phật học, giải ở mục Chữ Thanh, Chữ Tĩnh, Ba Độc Và Sáu Dục bên dưới.
Đây là phần phương pháp. Ba lượt quán đi từ gần ra xa: vào trong xét tâm, ra ngoài xét thân, ra xa xét vật. Mỗi lượt kết bằng một khuôn: tâm vô kỳ tâm, tìm một cái tâm cố định đứng yên đó thì không thấy, chỉ thấy ý nghĩ nối nhau đi qua. Thân và vật cũng vậy. Ba điều ấy đã tỏ thì duy kiến ư không, chỉ còn thấy cái không, nhưng theo mạch bài đó chưa phải chỗ dừng.
Đoạn khó đọc nhất, vì chữ không và chữ vô chồng lên nhau. Đọc chậm thì thấy một cái thang đi xuống, mỗi bậc gỡ bỏ chính cái vừa đạt ở bậc trước: thấy không rồi thì cái không cũng phải không, tới khi cả cái chẳng còn cũng chẳng còn thì chỉ còn trạm nhiên thường tịch, lặng trong mà thường vắng.
Lý do rất gần Bát Nhã Tâm Kinh: còn giữ cái không như thứ mình đã đạt thì cái không ấy lại thành vật để bám. Chuỗi vô vô diệc vô gợi tới 無無明,亦無無明盡 trong Tâm Kinh. Có người đọc đoạn này theo tánh không của Phật học, người theo lối nội đan thì gắn nó với các tầng lắng dần của tâm trong tĩnh tọa.
Chữ chân tĩnh 真靜 phân biệt hai thứ lặng. Cái lặng còn biết mình đang lặng vẫn là một thứ bám. Lặng thật là vắng mà không có gì để vắng, nên ham muốn không có chỗ bám mà sinh.
Rồi chân thường ứng vật quay hẳn chiều: sau bao nhiêu chữ không, bài đưa người đọc trở lại với vật, với đời. Cái chân thường vẫn tiếp xúc, đáp lại, làm việc, và đây là chỗ bài tự chặn cách hiểu thanh tĩnh là rút khỏi đời. Theo Tưởng Môn Mã, bản bia đời Tống chép 真靜應物 ở vế đầu.
Bài vừa gọi việc vào Đạo thật là đắc Đạo, rồi lập tức rút lại: tuy gọi là được, thật ra không được gì, cái tên ấy chỉ đặt ra để hóa chúng sinh, tức để có lời mà dạy người. Nếu có một món gọi là Đạo để giành lấy thì người tu lại mang nguyên lòng tham cầu, chỉ đổi đối tượng. Câu thực vô sở đắc gần sát 無智亦無得,以無所得故 của Tâm Kinh.
Chữ Lão Quân viết lần thứ hai mở phần hai, chuyển từ phương pháp sang phân tích vì sao người ta không tới được. Bất tranh vốn là ý trọng của Đạo Đức Kinh, chương 8 có câu 夫唯不爭,故無尤.
Câu thượng đức bất đức lấy từ chương 38: 上德不德,是以有德,下德不失德,是以無德. Đạo Đức Kinh nói đức bậc dưới là không để mất đức. Thanh Tĩnh Kinh đổi thành chấp đức, bám lấy đức, rồi nói kẻ bám chấp thì không gọi là có Đạo có Đức. Chữ chấp ở đây nối thẳng với chữ trước ở đoạn sau.
Một chuỗi nhân quả nối vòng: vọng tâm, kinh thần, trước vạn vật, tham cầu, phiền não, rồi lưu lãng sinh tử. Lối nối và phần lớn thuật ngữ là của kinh Phật. Mắt xích lạ nhất là kinh kỳ thần, làm thần giật mình: một ý nghĩ sai lệch như hòn đá ném vào mặt nước lặng, thần bị động, rồi người ta bám vào ngoại vật.
Hai chỗ dị bản. Bản quanxue.cn và nhiều bản in ngày nay chép 但遭濁辱, còn bản chép Triệu Mạnh Phủ, bản taolibrary.com và bản công khóa chép 便遭濁辱. Tưởng Môn Mã ghi bản bia đời Tống chép khác hẳn ở đầu chuỗi: 謂見妄心。既見妄心,即矜其身.
Chính văn kết ở câu đắc ngộ Đạo giả, thường thanh tĩnh hĩ. Ba đoạn sau là lời của ba vị khác, người tụng gọi là ba đoạn kệ, các nhà hiệu đính gọi là bạt văn. Tiên nhân Cát Ông là Cát Huyền 葛玄, đạo sĩ sống quãng năm 200 theo Komjathy, được tôn là Cát Tiên Ông. Đoạn của ông kể dòng truyền từ Tây Vương Mẫu qua Kim Khuyết Đế Quân, Đông Hoa Đế Quân tới ông, là lời tự thuật theo giáo nghĩa. Danh hiệu Chính Nhất Chân Nhân thường được hiểu là chỉ Trương Đạo Lăng, tổ Thiên Sư Đạo. Tả Huyền Chân Nhân là ai thì các nguồn thư viện tra được không nói rõ.
Chữ ba đoạn này khác nhau nhiều giữa các bản. Bản chép Triệu Mạnh Phủ ghi 仙人葛玄曰, 衛護其人, 災障不生. Theo Tưởng Môn Mã, bản Đạo Tạng ghi 仙人葛仙翁. Có bản chép 擁護其神 thay 擁護其身, và 朝拜高真 thay 朝拜高尊. Trang này chọn 其身 theo bản công khóa của Bắc Cực Huyền Nguyên Cung, và 高尊 theo bản chép Triệu Mạnh Phủ cùng các bản trên quanxue.cn và lurenjiaweb.
IVChữ Thanh, Chữ Tĩnh, Ba Độc Và Sáu Dục
Hai chữ trong nhan đề thuộc về hai chỗ khác nhau trong bài. Câu nhân thần hiếu thanh gán chữ thanh cho thần. Câu nhân tâm hiếu tĩnh gán chữ tĩnh cho tâm. Vậy thanh tĩnh theo nghĩa của bài là thần trong và tâm lặng.
Chữ thanh
Chữ thanh 清 có bộ thủy, nghĩa gốc là nước trong. Hình ảnh quanh chữ này trong bài đều là hình ảnh nước: chữ trừng 澄 và chữ trạm 湛 cũng mang bộ thủy. Nước đục không cần lọc bằng sức, chỉ cần để yên. Đối cực là trọc 濁, đục. Trong đoạn vũ trụ luận, trọc không phải thứ cần diệt, đất đục mà nuôi muôn loài. Nhưng khi nói về thần, sự đục là trạng thái thần bị quấy, và câu tiện tao trọc nhục dùng lại đúng chữ này.
Chữ tĩnh
Chữ tĩnh 靜 là tĩnh trong yên tĩnh, không phải tịnh 淨 trong thanh tịnh, trong sạch, vốn quen hơn trong văn Phật Giáo tiếng Việt. Nhan đề là trong và lặng, không phải trong và sạch, và cặp đối của nó là động 動.
Thuyết Văn Giải Tự đời Hán xếp chữ 靜 vào loại hình thanh, lấy 青 làm phần nghĩa và 爭 làm phần âm. Có lối chiết tự về sau đọc chữ tĩnh là thôi tranh, rồi nối với câu thượng sĩ vô tranh. Lối ấy dễ nhớ và hợp ý bài, nhưng đó là cách giảng về sau, không phải phép phân tích chữ của Thuyết Văn.
Ba độc
Câu lục dục bất sinh, tam độc tiêu diệt dùng hai bộ thuật ngữ bài không giải thích, vì người đọc đời Đường đã quen chúng từ kinh Phật. Ba độc theo cách hiểu phổ biến, cũng là cách Komjathy ghi, gồm ba thứ dưới đây.
| Tên | Chữ Hán | Nghĩa thường dùng |
|---|---|---|
| Tham | 貪 | Lòng ham muốn chiếm lấy, giữ lấy, muốn thêm mãi |
| Sân | 嗔 | Lòng giận ghét, bực bội khi không được như ý |
| Si | 痴 | Sự mê mờ, không thấy đúng bản chất của sự việc |
Sáu dục
Sáu dục theo cách hiểu phổ biến là ham muốn sinh từ sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Komjathy cũng giải như vậy. Nhưng chữ lục dục đã có trong sách Trung Hoa trước khi Phật Giáo vào: thiên Quý Sinh của Lã Thị Xuân Thu nói người giữ trọn sự sống là người để sáu dục đều được chừng mực, và Cao Dụ đời Hán chú sáu dục là sống, chết, tai, mắt, miệng, mũi. Bài đặt lục dục cạnh tam độc nên đọc theo nghĩa Phật học tự nhiên hơn, nhưng lớp nghĩa cũ giải thích vì sao chữ này không lạ với người đọc Trung Hoa.
Gọn trong một câu: theo chính bài kinh, thanh là thần trong, tĩnh là tâm lặng, và cả hai không đạt được bằng cách thêm vào mà bằng cách gỡ đi cái đang quấy, như để nước tự lắng. Còn lặng thật thì vẫn ứng với vật, vì bài đã nói thường ứng thường tĩnh.
VGiữa Đạo Đức Kinh Và Tâm Kinh
Đặt cạnh hai bộ kinh thư viện đã có, Thanh Tĩnh Kinh cho thấy hai dòng chảy gặp nhau. Khung tư tưởng và nhiều câu chữ lấy từ Đạo Đức Kinh. Lối lập luận bằng chuỗi phủ định và một phần thuật ngữ gần với Bát Nhã Tâm Kinh. Komjathy tóm lại rằng bài kết hợp thế giới quan của Đạo Đức Kinh với cấu trúc, và một phần nội dung, của Tâm Kinh.
Những câu vọng lại Đạo Đức Kinh
| Thanh Tĩnh Kinh | Đạo Đức Kinh | Chỗ đổi |
|---|---|---|
| 吾不知其名,強名曰道 | Chương 25: 吾不知其名,字之曰道,強為之名曰大 | Rút gọn, và gượng đặt tên là Đạo chứ không phải Đại |
| 大道無形, 大道無名 | Chương 41: 大象無形, 道隱無名 | Hai ý rời được gom vào một chuỗi ba câu |
| 天清地濁 | Chương 39: 天得一以清,地得一以寧 | Đất ở đây là đục, không phải yên |
| 人能常清靜 | Chương 45: 清靜為天下正 | Cụm thanh tĩnh thành trục của cả bài |
| 上士無爭 | Chương 8: 夫唯不爭,故無尤 | Không tranh thành dấu hiệu của người bậc trên |
| 上德不德,下德執德 | Chương 38: 上德不德,是以有德,下德不失德,是以無德 | Không để mất đức đổi thành bám lấy đức |
Quý vị đọc các chương gốc ở trang Đạo Đức Kinh chương 19 tới 27 và chương 37 tới 45. Chỗ khác căn bản nằm ở người được nói tới. Đạo Đức Kinh có nhiều chương bàn về trị thiên hạ, về thánh nhân và hầu vương. Thanh Tĩnh Kinh gần như không nói chuyện trị nước, chỉ bàn chuyện bên trong một con người, nên trời đất, trong đục, động tĩnh đều thành chuyện của thần và tâm.
Những chỗ gần Tâm Kinh
| Thanh Tĩnh Kinh | Bát Nhã Tâm Kinh | Chỗ gần |
|---|---|---|
| 內觀其心,心無其心 | 照見五蘊皆空 | Mở bằng một cái nhìn thẳng vào chính mình, thấy cái tưởng là vững thì không có lõi |
| 觀空亦空,空無所空 | 是故空中無色,無受想行識 | Chuỗi phủ định đi từng bậc |
| 無無亦無 | 無無明,亦無無明盡 | Phủ định cả chính cái phủ định |
| 雖名得道,實無所得 | 無智亦無得,以無所得故 | Không có món gì để được |
Chỗ khác cũng rõ. Tâm Kinh đi hết chuỗi phủ định rồi khép bằng một câu chú giữ nguyên âm Phạn, không đặt ra cái chân thường nào đứng sau. Thanh Tĩnh Kinh đi hết chuỗi phủ định rồi quay về chân thường và đắc tính, gọi cái đích bằng tên Đạo. Có người thấy đây là vay mượn khung lập luận Phật học, có người thấy hai truyền thống tả những chặng gần nhau của việc tu tâm bằng hai bộ chữ.
Theo giáo nghĩa Đạo Giáo, bài kinh là lời Thái Thượng Lão Quân, được các vị tiên chân truyền lại như đoạn kệ của Cát Ông kể. Người trong đạo đọc các chữ không, chúng sinh, phiền não trong bài theo nghĩa của đạo mình, gắn với việc giữ thần, lặng tâm và trở về Đạo.
Về sử liệu, sự gần gũi này có dấu vết cụ thể trong phái Toàn Chân. Tổ khai phái là Vương Triết, hiệu Trùng Dương, sống ở thế kỷ 12, chủ trương tam giáo cùng gốc. Komjathy ghi rằng các chỗ nhắc tới Thanh Tĩnh Kinh có mặt khắp trước tác của Vương Triết, và bài kinh là văn bản trung tâm của Toàn Chân buổi đầu. Kim Liên Chính Tông Ký, sách truyện ký Toàn Chân đời Nguyên, chép rằng ông khuyên người đọc Bát Nhã Tâm Kinh, Đạo Đức Thanh Tĩnh Kinh và Hiếu Kinh. Cụm Đạo Đức Thanh Tĩnh Kinh có người đọc là hai bộ, có người đọc là một nhan đề.
VITín Đồ Đọc Khi Nào Và Ra Sao
Bài kinh được tụng đều đặn chủ yếu nhờ chỗ đứng trong công khóa hằng ngày của các cung quán Toàn Chân. Sách công khóa quen dùng là Huyền Môn Nhật Tụng Tảo Vãn Công Khóa Kinh 玄門日誦早晚功課經, gồm tảo đàn công khóa buổi sáng và vãn đàn công khóa buổi chiều tối. Trung tâm Văn hóa Đạo Giáo ghi rằng phái Toàn Chân lấy việc tụng tập kinh này làm công phu bắt buộc hằng ngày của đạo sĩ.
Trong tảo khóa
Trong bản công khóa thư viện đối chiếu, đăng trên trang của Bắc Cực Huyền Nguyên Cung, Thanh Tĩnh Kinh nằm trong phần tảo khóa và là bài kinh đầu tiên sau chuỗi thần chú mở đầu. Thứ tự của phần ấy như sau.
Trừng Thanh Vận, xưng danh hiệu Thiên Tôn, rồi các đoạn điếu quải, đề cương và tiểu khải thỉnh để mở đàn.
Tịnh Tâm, Tịnh Khẩu, Tịnh Thân, An Thổ Địa, Tịnh Thiên Địa, Chúc Hương, Kim Quang thần chú, rồi Huyền Uẩn Chú, để làm sạch thân, miệng, tâm và đàn tràng.
Bài kinh đầu tiên của phần tụng kinh, tụng trọn chính văn và ba đoạn kệ.
Trong bản này là Tiêu Tai Hộ Mệnh Diệu Kinh, Nhương Tai Độ Ách Chân Kinh, rồi Ngọc Hoàng Tâm Ấn Diệu Kinh. Số bài có thể khác đôi chút giữa các bản in.
Các bài xưng tán danh hiệu và công đức thần tiên, rồi phần kết của thời khóa.
Còn vãn khóa
Có một chỗ cần nói rõ: theo bản công khóa ấy, Thanh Tĩnh Kinh không nằm trong vãn khóa. Buổi chiều tối, đạo sĩ tụng những kinh khác như Cứu Khổ Kinh 太上洞玄靈寶救苦拔罪妙經, Sinh Thiên Kinh 元始天尊說生天得道真經 và Giải Oan Bạt Tội Kinh 太上道君說解冤拔罪妙經. Nói công khóa sáng tối thì đúng với cả bộ công khóa, còn riêng bài này thuộc về buổi sáng. Từng cung quán có thể có lệ riêng, thư viện không khẳng định thay cho mọi nơi.
Cách tụng
Người quan sát một thời tảo khóa ở cung quán Toàn Chân thường thấy các đạo sĩ mặc đạo phục, đứng thành hàng trong chính điện, hướng về bàn thờ. Một vị dẫn tụng, cả đàn tụng theo làn điệu riêng của phái, có nhịp của pháp khí như mõ, khánh và chuông. Kinh được tụng bằng âm Hán, không tụng bản dịch, và ba đoạn kệ được tụng liền với chính văn.
Ngoài cung quán
Bài ngắn nên cũng là đề tài quen của thư pháp: Triệu Mạnh Phủ đời Nguyên chép bài này trên lụa khoảng năm 1292, Văn Trưng Minh đời Minh có một tập chép nay ở Bảo tàng Cố Cung Đài Bắc. Ở Việt Nam, thư viện chưa có nguồn đáng tin về việc bài này được tụng chung định kỳ tại các đền quán, nên không mô tả thêm.
VIINhững Chỗ Hay Hiểu Lầm
Vì bài ngắn, mang tên Lão Quân và dùng nhiều chữ nghe như chữ nhà Phật, Thanh Tĩnh Kinh hay bị hiểu lệch theo mấy hướng. Sáu điểm dưới đây ghi lại để quý vị đối chiếu khi đọc lại toàn văn.
Nhan đề nói Lão Quân thuyết, và theo giáo nghĩa đó là lời Thái Thượng Lão Quân. Theo sử liệu, bài được soạn quãng đời Đường, nhiều thế kỷ sau Đạo Đức Kinh, người soạn không rõ. Hai điều ấy thuộc hai lối kể khác nhau.
Chữ trong nhan đề là tĩnh 靜, lặng, không phải tịnh 淨, sạch. Trong tiếng Việt vẫn gặp cách gọi Thanh Tịnh Kinh, nhưng đọc như vậy là trượt sang một chữ khác và làm mờ ý trục của bài là cặp động tĩnh.
Bài kinh tự chặn cách hiểu ấy bằng câu chân thường ứng vật và câu thường ứng thường tĩnh: cái lặng thật vẫn ứng với vật. Điều cần gạt đi là ham muốn quấy tâm, không phải công việc hay các mối quan hệ.
Câu này nằm trong đoạn vũ trụ luận xếp các cặp âm dương, và ngay sau đó bài nói cái trong là nguồn của cái đục, cái động là nền của cái tĩnh, tức hai mặt nương nhau. Nhiều bản chú đọc nam nữ ở đây là dương khí và âm khí trong mỗi người, cũng có người đọc như dấu vết quan niệm xã hội thời soạn kinh.
Hai bài có nhiều chỗ gần, nhưng Thanh Tĩnh Kinh đi qua cái không để tới chân tĩnh và chân thường, rồi gọi cái đích bằng tên Đạo. Tâm Kinh không đặt ra một cái chân thường như thế.
Con số vạn lượt nằm trong đoạn kệ của Cát Ông, là lời kể theo giáo nghĩa về chính ông. Chính văn lại nói tuy gọi là được Đạo, thật ra không được gì. Thư viện thuật lại cả hai, không xác nhận thay quý vị hiệu nghiệm nào của việc tụng.
?Hỏi Đáp Nhanh
Thanh Tĩnh Kinh là kinh gì
Là bài kinh ngắn của Đạo Giáo, tên đầy đủ Thái Thượng Lão Quân Thuyết Thường Thanh Tĩnh Kinh 太上老君說常清靜經. Chính văn 391 chữ Hán nói rằng thần người vốn ưa trong, tâm người vốn ưa lặng, và chỉ cách gạt ham muốn để trở về cái trong cái lặng ấy. Đây là bài kinh đầu tiên trong công khóa buổi sáng của các cung quán Toàn Chân.
Thanh Tĩnh Kinh có phải do Lão Tử viết không
Theo giáo nghĩa, bài kinh là lời Thái Thượng Lão Quân, danh hiệu tôn thần của Lão Tử trong Đạo Giáo. Theo sử liệu, bài được soạn quãng đời Đường, nhà nghiên cứu Louis Komjathy cho là có lẽ thế kỷ 8, người soạn không rõ, vì bài dựa nhiều vào ý niệm và thuật ngữ Phật học. Bản chú xưa nhất được biết mang tên Đỗ Quang Đình, sống từ năm 850 tới năm 933.
Nhân năng thường thanh tĩnh, thiên địa tất giai quy nghĩa là gì
Nghĩa là người giữ được sự trong và lặng một cách thường xuyên thì trời đất thảy đều quy về. Có hai cách hiểu chữ quy: trời đất theo về với người ấy, hoặc trời đất trong thân người, tức các cặp trong đục và động tĩnh bên trong, trở về đúng chỗ của chúng. Chữ thường là then chốt, vì bài nói về sự trong lặng giữ được lâu dài chứ không phải một phút yên lặng.
Lục dục tam độc trong Thanh Tĩnh Kinh là gì
Tam độc là ba độc tham, sân, si. Lục dục theo cách hiểu phổ biến là ham muốn sinh từ sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Cả hai là thuật ngữ vay từ Phật học. Chữ lục dục cũng có trong sách Lã Thị Xuân Thu từ trước, với lời chú của Cao Dụ đời Hán là sống, chết, tai, mắt, miệng, mũi.
Thanh Tĩnh Kinh được tụng khi nào
Trong bản Huyền Môn Nhật Tụng Tảo Vãn Công Khóa Kinh mà thư viện đối chiếu, bài kinh nằm trong công khóa buổi sáng, là kinh đầu tiên sau chuỗi thần chú tịnh tâm, tịnh khẩu, tịnh thân. Công khóa buổi chiều tối dùng những kinh khác như Cứu Khổ Kinh và Sinh Thiên Kinh. Ngoài cung quán, bài kinh còn được chép tay thành thư pháp và đọc riêng.