VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Văn Chầu Mẫu Thượng Thiên

· Văn Mẫu Liễu Hạnh, Văn Địa Tiên Thánh Mẫu, bài Bóng gương loan

Ba mươi hai câu song thất lục bát kể lần giáng sinh của Mẫu Liễu Hạnh ở đất Vân Cát, theo bản in năm 1929, kèm nghĩa lời thường và giải nghĩa từng câu

Thuộc đạo
Đạo Mẫu Tứ Phủ
Niên đại
Bản in năm 1929, lời văn có từ trước đó
Bản dùng cho trang này nằm trong sách Văn chầu: Các bài văn chầu đủ các vị, in năm 1929, hiện thuộc Bộ sưu tập Sách Đông Dương của Thư viện Quốc gia Việt Nam. Năm in chỉ cho biết lúc bài văn đã thành hình và được đưa lên mặt giấy. Như phần lớn văn chầu cổ, bài không ghi tên người soạn và không có niên đại sáng tác chắc chắn, vì lời văn sống trong giới cung văn qua chép tay và truyền miệng từ trước khi được in.
Độ dài
32 câu song thất lục bát, trích
Trang này trích 32 câu đầu, tức tám khổ song thất lục bát, của phần văn Nôm trong bài. Trong sách năm 1929, bài mở bằng bốn câu thơ Hán Việt bảy chữ làm lời thỉnh, rồi tới phần kể bằng song thất lục bát dài hơn một trăm câu. Đoạn trích dừng ở chỗ khép lại lần giáng sinh thứ nhất được kể trong bài, trước khi lời văn chuyển sang những chuyện ở Đèo Ngang và Phố Cát.
Thường tụng khi
Hát trong lối hát văn thờ trước ban Mẫu ở phủ điện, nhất là dịp tiệc Mẫu tháng Ba âm lịch, và trong phần hát thỉnh hàng Mẫu của một vấn hầu

ITrước Khi Đọc

Ở một phủ thờ Mẫu vào ngày tiệc, trước ban thờ đỏ rực đèn nến, người cung văn ngồi xếp bằng trên chiếu, ôm cây đàn nguyệt, gõ nhẹ phách tre. Tiếng đàn dạo mấy câu rồi lời hát cất lên, chậm và rõ từng chữ: Bóng trăng loan mẫu đơn một đóa, gió lay mành hương xạ thoảng đưa. Đó là mở đầu của một bài văn kể về Mẫu Liễu Hạnh, vị được tôn cao nhất trong Đạo Mẫu Tứ Phủ. Trang này đưa ra ba mươi hai câu đầu của bài ấy.

Đạo Mẫu không có kinh sách theo nghĩa của Phật Giáo hay Công Giáo, cũng không có giáo hội đứng ra định bản. Cái gần nhất với kinh của tín ngưỡng này là văn chầu, tức những bài văn vần được cung văn hát trước ban thờ và trong các buổi hầu đồng. Mỗi vị thánh trong hệ Tứ Phủ có văn riêng, kể gốc tích, ca ngợi công đức, mô tả dung nhan, rồi cầu cho người dự lễ.

Bài được chọn ở đây là văn thờ Mẫu Liễu Hạnh. Trong hệ Tam Tòa Thánh Mẫu, vị ngồi giữa là Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên, cai quản miền trời, sắc đỏ, và ở phần lớn các phủ điện miền Bắc, Mẫu Đệ Nhất được đồng nhất với Mẫu Liễu Hạnh. Cách hiểu ấy không thống nhất ở mọi nơi, và trang trụ Đạo Mẫu của thư viện đã ghi rõ như vậy. Tên trang dùng chữ Mẫu Thượng Thiên theo cách gọi quen của nhà đền, còn lời văn thì nói về Mẫu Liễu Hạnh, gọi bà bằng những chữ Chầu, Tiên, Thánh, Chúa.

Trang này bày lời văn đúng như bản in, kèm một cột nghĩa bằng lời thường và một cột tiếng Anh do thư viện dịch, rồi giải nghĩa từng câu, nói về chầu văn, về điển tích Mẫu Liễu Hạnh và về dịp bài được hát. Thư viện tả và giải nghĩa, không đứng ra nói thay tín ngưỡng điều gì là đúng hay sai.

Theo sử liệu

Văn chầu thuộc lớp văn chương dân gian có chữ viết. Bài hệ thống bài bản của Viện Âm nhạc Việt Nam phân biệt hai dòng: văn bia là những bài đã được ghi lại bằng chữ Hán Nôm, và văn miệng là những bài truyền qua trí nhớ của cung văn. Hai dòng ấy đi song song và vay mượn lẫn nhau, nên cùng một bài có thể lưu hành với nhiều câu chữ khác nhau tùy dòng nghề, tùy vùng, tùy thầy truyền.

Tới nửa đầu thế kỷ hai mươi, khi chữ quốc ngữ lan rộng, đã có những tập văn chầu in bằng quốc ngữ. Sách Văn chầu: Các bài văn chầu đủ các vị, in năm 1929, là một tập như vậy, hiện còn trong Bộ sưu tập Sách Đông Dương của Thư viện Quốc gia Việt Nam. Bài văn Mẫu Liễu Hạnh trong sách mở bằng bốn câu thơ Hán Việt bảy chữ, bắt đầu bằng hai chữ thần kim, là lời thỉnh chung hay dùng ở đầu nhiều bài văn. Tiếp theo là phần kể bằng thể song thất lục bát, dài hơn một trăm câu.

Phần kể mở bằng hình ảnh hoa mẫu đơn và hương xạ, giới thiệu một vị tiên xưa ở cung trăng giáng xuống trần, sinh vào nhà họ Lê ở đất Phủ Dầy, lấy chồng, về trời năm hai mươi mốt tuổi, rồi trở lại thăm quê. Đoạn sau chuyển sang những lần hiện ra ở Đèo Ngang và Phố Cát, việc Ngọc Hoàng sai tiên nữ xuống thăm, việc lập đền thờ, và khép lại bằng lời cầu cho tín chủ. Trang này trích từ câu đầu phần song thất lục bát tới câu thứ ba mươi hai, trọn phần kể lần giáng sinh ở Vân Cát, vì đoạn ấy đứng thành một mạch riêng, gắn với chính vùng đất Phủ Dầy.

Bản cung văn hiện hành dùng để đối chiếu mang tên Văn Địa Tiên Thánh Mẫu, mở bằng chữ Bóng gương loan. Ba mươi hai câu của hai bản cùng mạch kể và cùng vần, nhưng khác chữ ở hơn hai mươi câu, phần giải nghĩa ghi từng chỗ.

IILời Văn, Ba Mươi Hai Câu Đầu

Đoạn dưới gồm tám khổ song thất lục bát, mỗi khổ bốn câu theo nhịp bảy, bảy, sáu, tám chữ. Lời văn giữ đúng chính tả của bản in năm 1929, kể cả những chữ nay đã khác cách viết. Cột nghĩa bên cạnh là lời giải của thư viện, viết bằng tiếng Việt thường ngày để quý vị theo kịp mạch kể, không phải một bản dịch thay thế lời văn.

Trích 32 câu đầu phần song thất lục bát của bài văn Mẫu Liễu Hạnh trong sách Văn chầu: Các bài văn chầu đủ các vị in năm 1929, chép theo bản đăng trên phuday.com và đối chiếu bản cung văn hiện hành của Hội Nhất Tâm, cột nghĩa do thư viện soạn.
CâuLời văn chầuNghĩa bằng lời thườngTiếng Anh
1Bóng trăng loan mẫu đơn một đóaDưới bóng trăng in hình chim loan, một đóa mẫu đơn nởBeneath a moon that casts the phoenix's shadow, a single peony blooms,
2Gió lay mành hương xạ thoảng đưagió lay tấm mành, mùi hương xạ thoang thoảng bay đưa.the wind stirs the blind, and the scent of musk drifts faintly by.
3Có Chầu Nguyệt-diện Tiên xưa,Có một vị Chầu, xưa là tiên nữ ở cung trăng,There is a Lady who of old was an Immortal of the Moon,
4Lánh về cõi tục, giáng sinh Nam thànhrời xuống cõi trần, giáng sinh nơi đất phương Nam.who left for the world of dust and was born in the southern land.
5Thánh hóa sinh vào nhà Lê thị,Bà hóa thân sinh ra trong nhà họ Lê,The Holy One took birth in the house of the Lê,
6Cải họ Trần dấu khí thiên hươngrồi về làm dâu họ Trần, giấu đi cái hương sắc trời ban.then took the name of Trần in marriage, hiding her heaven-sent grace.
7Bẩm sinh vẻ có phi phương,Từ lúc sinh ra đã có dáng vẻ khác thường,From birth her bearing was unlike any other,
8Giá danh đòi một hoa thơm trên đời.phẩm giá và tiếng tăm sánh với đóa hoa thơm nhất trên đời.her worth and renown matched the most fragrant flower on earth.
9Ngụ thai quê Phủ Dầy, Thiên bản,Bà thụ thai và ra đời ở quê Phủ Dầy, huyện Thiên Bản,She was conceived and born in Phủ Dầy, in Thiên Bản,
10Phủ Nghĩa Hưng là chốn Sơn nam,thuộc phủ Nghĩa Hưng, đất trấn Sơn Nam.in the prefecture of Nghĩa Hưng, in the land of Sơn Nam.
11Trẻ thơ chưa biết Thánh phàm,Thuở còn thơ, chưa ai biết bà là thánh hay người thường,As a child, none yet knew if she was holy or mortal,
12Treo kinh còn vết để làm dấu thiêng.chỉ còn một dấu vết lạ gọi là treo kinh để lại làm dấu thiêng.only a trace called the hanging of scripture remained as a sacred sign.
13Tuổi thiếu niên cài trâm giắt lược,Tới tuổi thiếu nữ cài trâm giắt lược,Grown to maidenhood, she wore the hairpin and the comb,
14Giá duyên lành khuê phước một nơi,bà được gả vào một nơi có phúc, thành một mối duyên lành.and was given in marriage to a blessed house, a good match.
15Gối chăn vừa được quen hơi,Chăn gối vợ chồng vừa mới quen hơi nhau,Pillow and blanket had only just grown familiar,
16Ai ngờ dưới nguyệt rẽ đôi tơ hường.ai ngờ sợi tơ hồng se dưới trăng đã rẽ làm đôi.when, who could have known, the red thread tied beneath the moon was split in two.
17Đạo cương thường đương thương đương nhớNghĩa vợ chồng đang lúc thương nhau nhớ nhau,While husband and wife were still deep in love and longing,
18Bỗng hoa hài lại trở gót Tiên,bỗng gót tiên trong đôi hài hoa quay trở về trời.suddenly the Immortal in her flowered slippers turned her steps back to heaven.
19Giờ Dần mồng ba tháng Thìn,Vào giờ Dần, ngày mồng ba tháng Thìn, tức tháng Ba âm lịch,At the hour of the Tiger, on the third day of the Dragon month,
20Đôi mươi mốt tuổi rẽ duyên trần phàm,năm hai mươi mốt tuổi, bà dứt duyên với cõi trần.at the age of twenty one she parted from her mortal bond.
21Ấy ai làm trêu thương gợi nhớ,Ai đã khiến người ở lại thương nhớ đến thế,Who was it that left those behind in such sorrow and longing,
22Chẳng hay là giang giở vì đâu,chẳng biết cơ sự dở dang là vì cớ gì.and why it all was left unfinished, no one could say.
23Lương quân ruột rối đòi nau,Người chồng ruột gan rối bời biết bao nhiêu,Her good husband's heart was tangled beyond measure,
24Mẹ cha nào biết thảm sầu mấy cơn.cha mẹ trải bao cơn sầu thảm không sao kể xiết.and her parents knew more bouts of grief than could be counted.
25Rày Chầu đã cung Tiên đền quế,Nay bà đã về cung tiên, nơi đền quế trên trăng,Now the Lady dwells in the Immortals' palace, the cassia hall of the moon,
26Biết đâu là trần thế xót xa,đâu hay cõi trần người ở lại còn xót xa,little knowing how the mortal world is left in sorrow.
27Có phen Tiên cũng nhớ nhà,Có những lúc tiên cũng nhớ nhà,Yet at times the Immortal too longs for home,
28Có ngày tháng ngự đường xa hiện về.có ngày từ nơi xa ngự giá hiện về.and on certain days she journeys from afar and appears again.
29Thăm bản quê mẹ cha đất nước,Bà về thăm quê cũ, thăm cha mẹ, thăm đất nước quê hương,She visits her native place, her father and mother, her homeland,
30Cửa nhà Chầu sau trước mọi nơi,thăm cửa nhà của mình, trước sau khắp mọi chốn.her own household, every corner of it, front and back.
31Thăm rồi chúa lại ra chơi,Thăm xong, bà lại ra đi ngao du,Her visits done, the Lady sets out once more to roam,
32Cây cao bóng mát là nơi duyên lành.chọn chốn cây cao bóng mát làm nơi duyên lành để dừng chân.to a place of tall trees and cool shade, a place of good affinity.

IIIGiải Nghĩa Từng Câu

Văn chầu là tiếng Việt của nhà đền và của văn chương cổ, dày điển cố, nhiều chữ nay đã đổi nghĩa hoặc đổi cách viết. Dưới đây là những chỗ người đọc hôm nay dễ vấp nhất, kèm cách bản cung văn hiện hành chép khác.

Bóng trăng loan mẫu đơn một đóa, Gió lay mành hương xạ thoảng đưa

Hai câu mở đầu chưa kể gì, chỉ dựng cảnh: ánh trăng, hoa mẫu đơn, tấm mành lay, mùi xạ hương, đặt người nghe vào một không gian thanh và sang trước khi vị thánh được gọi tên.

Chữ đầu tiên là chỗ các bản khác nhau rõ nhất. Bản in năm 1929 chép Bóng trăng loan, bản của Hội Nhất Tâm chép Bóng gương loan, có trang của giới cung văn chép Bóng giăng loan, giăng là cách nói cũ của trăng. Theo chữ gương thì đó là tấm gương tròn chạm chim loan trên ban thờ, ví với dung nhan của Mẫu. Theo chữ trăng thì đó là vầng trăng soi, báo trước chữ Nguyệt ở câu ba. Hai cách đọc đều đứng được. Mẫu đơn xưa gọi là hoa vương, chi tiết quay lại ở câu tám của bản hiện hành.

Có Chầu Nguyệt-diện Tiên xưa, Lánh về cõi tục, giáng sinh Nam thành

Chữ Chầu ở đây là tiếng tôn xưng vị nữ thần. Trong bài này, Chầu, Tiên, Thánh, Chúa đều chỉ cùng một vị là Mẫu Liễu Hạnh. Văn chầu đổi cách gọi liên tục, phần vì vần, phần vì mỗi chữ mang một sắc thái kính trọng khác.

Bản in chép Nguyệt-diện, nghĩa đen là mặt trăng, có thể hiểu là tiên có dung nhan như trăng. Bản hiện hành chép Nguyệt điện, tức cung trăng. Hai chữ diện và điện chỉ cách nhau một dấu, nên có thể một bên do in sai. Thư viện giữ nguyên bản in và ghi nghi vấn ở đây. Cõi tục là cõi trần, Nam thành là đất phương Nam. Bản hiện hành chép khác hẳn vế sau: Lánh miền cõi tục phận ưa nam thành.

Thánh hóa sinh vào nhà Lê thị, Cải họ Trần dấu khí thiên hương

Lê thị là họ Lê. Cải họ Trần là đổi sang họ Trần, cách nói xưa cho việc về làm dâu nhà chồng. Các lời kể gọi chồng bà là Đào Lang, có bản gọi Trần Đào Lang. Chữ dấu trong bản in là cách viết cũ của chữ giấu, thư viện giữ nguyên. Thiên hương nghĩa đen là hương trời, trong văn cổ chỉ nhan sắc trời phú. Câu văn nói bà sống như người thường, giấu gốc tiên của mình đi. Bản hiện hành mở câu năm bằng Kiếp giáng sinh thay cho Thánh hóa sinh, nghĩa chung không đổi.

Bẩm sinh vẻ có phi phương, Giá danh đòi một hoa thơm trên đời

Phi phương là khác thường. Giá danh là giá trị và danh tiếng. Chữ đòi trong tiếng Việt cổ có mấy nghĩa, như theo, sánh, hay nhiều. Thư viện hiểu cụm đòi một là sánh vào bậc nhất, nhưng đây là chỗ nghĩa chưa chắc chắn. Vế cuối câu tám, bản in chép hoa thơm trên đời, bản hiện hành chép hoa Vương khôn bì, tức đến hoa vương cũng không sánh bằng, nối lại với hình ảnh mẫu đơn ở câu đầu.

Ngụ thai quê Phủ Dầy, Thiên bản, Phủ Nghĩa Hưng là chốn Sơn nam

Đây là hai câu có giá trị địa danh rõ nhất trong đoạn trích. Ngụ thai nghĩa là gửi thai, tức thụ thai và sinh ra ở đó. Phủ Dầy là tên Nôm của vùng đất nay là xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định theo tên quen gọi, nơi có quần thể phủ Tiên Hương, phủ Vân Cát và lăng Mẫu. Thiên Bản là tên cũ của huyện Vụ Bản. Huyện này xưa thuộc phủ Nghĩa Hưng, và phủ Nghĩa Hưng thuộc trấn Sơn Nam. Chữ phủ ở câu mười là đơn vị hành chính thời trước, khác với chữ phủ trong Phủ Dầy là nơi thờ Mẫu. Bản hiện hành chép Phủ Dày và quán Sơn nam, chữ quán ở đây là quê quán.

Trẻ thơ chưa biết Thánh phàm, Treo kinh còn vết để làm dấu thiêng

Câu mười một nói lúc bà còn nhỏ thì chưa ai biết bà là thánh hay người phàm. Bản hiện hành chép chưa biết duyên phàm, tức còn nhỏ chưa biết chuyện duyên phận trần gian. Hai cách chép cho hai nghĩa khác nhau: một bên nói người khác chưa nhận ra bà, một bên nói bà chưa biết đời.

Câu mười hai là câu khó nhất của đoạn trích. Bản in chép Treo kinh, bản hiện hành chép Đeo kinh. Thư viện chưa tìm được lời giải có nguồn đáng tin cho cụm này, nên cột nghĩa chỉ tả sát chữ, và quý vị nên coi đây là một chỗ còn để ngỏ.

Tuổi thiếu niên cài trâm giắt lược, Giá duyên lành khuê phước một nơi

Cài trâm giắt lược là hình ảnh người con gái tới tuổi búi tóc, cài trâm, tức tuổi lấy chồng. Chữ giá 嫁 ở đầu câu mười bốn là chữ Hán Việt nghĩa là gả, lấy chồng, chứ không phải giá cả. Khuê phước có thể hiểu là chốn khuê các có phúc. Bản hiện hành chép Kết duyên lành quê phước một nơi. Khuê và quê gần âm, nên có thể một bên chép theo tai nghe. Câu mười ba ở bản hiện hành là Tuổi tới niên.

Ai ngờ dưới nguyệt rẽ đôi tơ hường, Bỗng hoa hài lại trở gót Tiên

Tơ hường là tơ hồng, cách nói cũ còn gặp trong văn Nôm. Điển tích Trung Hoa kể có ông già dưới trăng, tức Nguyệt Lão, lấy sợi tơ đỏ buộc chân những người sẽ thành vợ chồng. Dưới nguyệt rẽ đôi tơ hường là sợi duyên trời se nay bị rẽ đôi. Bản hiện hành chép sảy nơi tơ hồng.

Hoa hài là đôi hài thêu hoa. Trở gót Tiên là bà trở lại cõi tiên. Văn chầu không dùng chữ chết cho vị thánh, việc rời cõi trần được kể như một chuyến quay về, đặt vào đúng lúc tình vợ chồng còn đang nồng. Câu mười bảy ở bản hiện hành giản dị hơn: Đạo vợ chồng còn đang thương nhớ.

Giờ Dần mồng ba tháng Thìn, Đôi mươi mốt tuổi rẽ duyên trần phàm

Đây là câu có mốc thời gian duy nhất trong đoạn trích, và hai bản chép giống nhau từng chữ, chỉ khác cách viết hoa. Giờ Dần là khoảng từ ba tới năm giờ sáng. Tháng Thìn là tháng Ba âm lịch, vì theo lối gọi tháng bằng địa chi thì tháng Giêng là tháng Dần, tháng Hai là tháng Mão, tháng Ba là tháng Thìn. Bà rời trần năm hai mươi mốt tuổi.

Mốc này khớp với lời thần tích được Bách khoa Toàn thư Việt Nam tóm lại, rằng trong lần giáng sinh làm Lê Thị Thắng, bà mất ngày mồng ba tháng Ba năm hai mươi mốt tuổi. Đó là gốc của câu tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ, trong đó Mẹ là Mẫu Liễu Hạnh.

Lương quân ruột rối đòi nau, Mẹ cha nào biết thảm sầu mấy cơn

Lương quân là tiếng xưa người vợ gọi chồng, nghĩa đen là người chồng tốt. Bản in chép ruột rối đòi nau, bản hiện hành chép dạ rối đòi nao. Chữ nao trong bản hiện hành cho nghĩa rõ: đòi nao là biết bao nhiêu. Chữ nau trong bản in có thể là cách viết cũ hoặc in sai của chữ nao, thư viện chưa đủ cứ liệu để nói chắc nên giữ nguyên.

Câu hai mươi tư ở bản hiện hành mở bằng Xuân huyên thay cho Mẹ cha, xuân ví với cha, huyên ví với mẹ, lối nói quen trong truyện thơ Nôm. Hai câu này đặt trọng tâm vào nỗi đau của người ở lại, kể một chuyện rất người giữa bài văn thờ.

Rày Chầu đã cung Tiên đền quế, Biết đâu là trần thế xót xa

Rày là nay. Đền quế là cung trăng, theo điển cây quế mọc trên mặt trăng trong văn chương cổ. Bản hiện hành chép Rầy Thánh đã cung Tiên Nguyệt quế, chữ Nguyệt quế nói rõ hơn ý cung trăng, và nối về chữ Nguyệt điện ở câu ba.

Câu hai mươi sáu có hai cách hiểu: trên cung tiên đâu hay cõi trần còn xót xa, hoặc ai biết được nỗi xót xa của cõi trần. Bản hiện hành chép Dễ xui lòng trần thế xót xa. Cột nghĩa theo cách hiểu thứ nhất, vì nó nối được với câu sau, rằng tiên cũng có phen nhớ nhà.

Thăm bản quê mẹ cha đất nước, Cửa nhà Chầu sau trước mọi nơi, Thăm rồi chúa lại ra chơi, Cây cao bóng mát là nơi duyên lành

Khổ cuối của đoạn trích kể bà trở lại trần gian thăm quê. Bản quê là quê gốc. Câu ba mươi ở bản in chép Cửa nhà Chầu, tức nhà của bà, còn bản hiện hành chép Cửa nhà chồng, nói rõ bà về thăm cả gia đình nhà chồng. Câu hai mươi chín ở bản hiện hành cũng chép quê hương huyên, lại dùng chữ huyên chỉ mẹ.

Câu ba mươi hai là chỗ rẽ nhánh đáng chú ý nhất. Bản in chép Cây cao bóng mát là nơi duyên lành, bản hiện hành chép Đồi Ngang, Phố Cát là nơi duyên lành, gọi thẳng tên hai nơi mà trong bản in chỉ xuất hiện muộn hơn nhiều câu. Đoạn trích của thư viện dừng ở đây.

IVChầu Văn, Cung Văn Và Cây Đàn Nguyệt

Bài văn trên trang này không được đọc. Nó được hát. Muốn hiểu vì sao lời văn chầu có dạng như vậy, lặp nhiều, đổi cách gọi liên tục, câu nào cũng tròn vần, thì phải hiểu nó sống trong loại hình âm nhạc nào. Người Việt gọi loại hình ấy bằng nhiều tên: hát văn, chầu văn, hát chầu văn, và người hát gọi là cung văn.

Ba lối hát văn

Bài của Viện Âm nhạc Việt Nam về hệ thống bài bản trong hát văn hầu phân hát văn thành ba hình thức. Hát văn thờ là hát trước ban thờ để dâng lên các vị thánh, thường vào ngày tiệc tức ngày sinh hay ngày hóa của vị ấy, không cần có người ngồi đồng. Hát văn hầu là hát trong buổi hầu đồng, theo từng giá, từng vị được thỉnh. Hát văn thi là hát trong các cuộc thi tổ chức vào dịp lễ hội lớn. Cũng bài ấy ghi rằng ngày nay người ta chủ yếu còn biết tới hai hình thức chính là hát văn thờ và hát văn hầu.

Bài văn Mẫu Liễu Hạnh trên trang này thuộc về cả hai lối đầu. Trong lối hát văn thờ, cung văn có thể hát trọn bài từ đầu tới cuối trước ban Mẫu. Trong lối hát văn hầu, bài thường chỉ được hát một phần, vì mỗi giá có thời lượng riêng và cung văn phải theo nhịp của buổi lễ.

Hát văn thi vẫn còn dưới dạng hội thi hát chầu văn trong lễ hội Phủ Dầy, sẽ nói ở mục sau.

Người cung văn

Cung văn không phải ca sĩ đệm nhạc cho một nghi lễ. Trong buổi hầu, họ dẫn nhịp cho cả buổi, nhìn động tác của người ngồi đồng để đổi điệu, đổi bài cho kịp. Trang của Sở Văn hóa Nam Định mô tả người cung văn là người vừa hát giỏi, vừa biết nhiều làn điệu, vừa biết chơi nhạc cụ. Bài của Viện Âm nhạc còn nêu tên những người soạn thêm văn mới trong thế kỷ hai mươi, như ông Phạm Văn Kiêm, sinh năm 1921, mất năm 1998. Kho văn chầu vì thế không đóng lại ở một thời điểm nào.

Cây đàn nguyệt và dàn nhạc

Nhạc cụ chủ đạo của hát văn là đàn nguyệt, cây đàn hai dây có thùng đàn tròn như mặt trăng, cần dài, phím cao. Người cung văn chính thường vừa đàn nguyệt vừa hát. Trang của Sở Văn hóa Phú Thọ liệt kê dàn nhạc cơ bản gồm một đàn nguyệt, một đàn nhị, một trống nhỏ, một cảnh đôi và một phách. Phách và trống giữ nhịp, còn tiếng đàn nguyệt vừa dạo đầu, vừa đỡ giọng hát, vừa nối các câu với nhau.

Các làn điệu

Mỗi bài văn không có một giai điệu cố định. Cung văn chọn trong một bộ làn điệu, còn gọi là lối hát, rồi đặt lời văn vào. Cùng một câu lục bát có thể hát theo điệu này hay điệu kia tùy chỗ đứng của nó trong bài và trong buổi lễ. Trang của Sở Văn hóa Phú Thọ ghi hát văn có mười bốn điệu:

Bỉ

Lối ngâm không bó vào nhịp phách chặt, hay dùng ở chỗ mở bài. Những câu thơ Hán Việt đặt ở đầu các bài văn, như bốn câu mở bài văn Mẫu Liễu Hạnh trong sách năm 1929, thuộc loại câu thường được ngâm theo lối này.

Miễu và Thổng

Hai điệu có nhịp, gặp nhiều trong lối hát văn thờ, khi cung văn hát trước ban thờ mà không có giá hầu.

Bốn điệu Phú

Phú Bình, Phú Chênh, Phú Nói, Phú Rầu. Cùng một họ điệu nhưng sắc thái khác nhau, như chữ rầu trong Phú Rầu đã gợi. Những đoạn kể nhiều thương nhớ như đoạn trích trên trang này là chỗ các điệu Phú có đất dùng.

Đưa Thơ và Vãn

Hai điệu có tên trong danh sách, được dùng nhiều hay ít tùy dòng cung văn và tùy loại bài.

Dọc

Điệu nhịp đều, gặp nhiều trong hát văn hầu.

Cờn

Tên điệu thường được giải thích là gắn với đền Cờn ở Nghệ An. Điệu này có mặt trong nhiều giá hầu.

Hãm, Xá và Dồn

Những điệu mà người nghe dễ nhận ra nhờ nhịp nhanh và dồn hơn, hay gặp khi giá hầu vào phần múa.

Phần tả công dụng từng điệu ở trên chỉ là mô tả chung, vì mỗi dòng cung văn dùng điệu mỗi khác, và các nguồn không hoàn toàn thống nhất về số điệu và tên điệu.

Thể song thất lục bát trong bài này

Trang của Sở Văn hóa Phú Thọ ghi các giá văn cổ phần lớn viết ở thể lục bát, song thất lục bát, thất ngôn và bốn chữ. Bài văn Mẫu Liễu Hạnh trong đoạn trích là song thất lục bát, thể thơ Nôm quen từ Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm khúc. Mỗi khổ bốn câu: hai câu bảy chữ, một câu sáu chữ, một câu tám chữ.

Lấy khổ đầu làm ví dụ. Bóng trăng loan mẫu đơn một đóa bảy chữ, Gió lay mành hương xạ thoảng đưa bảy chữ, Có Chầu Nguyệt-diện Tiên xưa sáu chữ, Lánh về cõi tục, giáng sinh Nam thành tám chữ. Theo luật của thể thơ, chữ cuối câu bảy thứ nhất vần với chữ thứ năm câu bảy thứ hai, ở đây là đóa với xạ. Chữ cuối câu bảy thứ hai vần với chữ cuối câu sáu, ở đây là đưa với xưa. Chữ cuối câu sáu lại phải vần với chữ thứ sáu câu tám. Tới chỗ này thì hai bản khác nhau: bản in năm 1929 chép giáng sinh Nam thành, chữ thứ sáu là sinh, không vần với xưa, còn bản hiện hành chép phận ưa nam thành, chữ thứ sáu là ưa, vần đúng luật. Văn chầu là văn dân gian truyền qua nhiều tay, nên vần có chỗ lỏng, và mỗi lần chép lại có khi vần được sửa cho chặt hơn. Bài của Viện Âm nhạc gọi nguyên tắc nối vần giữa câu trên với câu dưới là thượng tùy hạ tiếp.

Nhờ nhịp bốn câu đều đặn, cung văn có thể dừng hay nối ở cuối một khổ mà bài vẫn tròn, và đó là một lý do văn chầu dễ được cắt ngắn hay kéo dài tùy buổi lễ.

Từ di sản quốc gia tới ghi danh của UNESCO

Theo sử liệu

Nghi lễ chầu văn của người Việt được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2012, theo trang của Sở Văn hóa Phú Thọ. Theo văn bản quyết định của UNESCO, tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia của Việt Nam năm 2013.

Tại kỳ họp thứ mười một của Ủy ban Liên Chính phủ về Bảo vệ Di sản Văn hóa Phi vật thể, họp ở Addis Ababa năm 2016, UNESCO thông qua Quyết định 11.COM 10.B.37, ghi danh Practices related to the Viet beliefs in the Mother Goddesses of Three Realms, tên tiếng Việt là Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt, vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Văn bản quyết định mô tả ba vị Mẫu đại diện cho trời, nước, và rừng núi, nêu tên Liễu Hạnh là Mẹ của thế gian, và kể các thành phần của di sản gồm việc thờ phụng hằng ngày, nghi lễ hầu đồng, các lễ hội như hội Phủ Dầy, trang phục, âm nhạc và múa, cùng việc truyền dạy giữa thủ nhang, thầy cúng, người ngồi đồng và nhạc công. Quyết định ghi thực hành này có từ thế kỷ mười sáu.

Như vậy âm nhạc của cung văn nằm trong chính phần được ghi danh.

VMẫu Liễu Hạnh Trong Thần Tích Và Trong Sử Liệu

Ba mươi hai câu trên kể một đời người: sinh ra, lấy chồng, mất sớm, rồi trở về thăm nhà. Người nghe văn chầu hiểu rằng đó là đời trần gian của một vị tiên. Người đọc sử thì hỏi câu chuyện ấy được ghi lại từ bao giờ, ở đâu. Hai cách nhìn ấy đều chính đáng, và mục này đặt chúng cạnh nhau, không trộn vào nhau.

Theo giáo nghĩa

Theo lời thần tích và lời truyền trong giới thờ Mẫu, Mẫu Liễu Hạnh vốn là con gái Ngọc Hoàng. Bách khoa Toàn thư Việt Nam tóm lại rằng bà làm vỡ chén ngọc trên thiên đình nên bị đày xuống trần gian. Bà giáng trần nhiều lần, và các lời kể không thống nhất về số lần cũng như tên gọi mỗi lần.

Theo bản tóm của Bách khoa Toàn thư Việt Nam, lần thứ nhất bà sinh làm Phạm Tiên Nga, không lấy chồng, nổi tiếng hiếu thảo. Lần thứ hai bà sinh năm 1557 làm Lê Thị Thắng, lấy Đào Lang, có hai con, và mất năm 1577 vào ngày mồng ba tháng Ba, khi hai mươi mốt tuổi ta. Lần thứ ba bà hiện ra ở Thanh Hóa. Nhiều lời kể khác gộp hay đổi thứ tự các lần, và có bản gọi lần sinh ở Vân Cát là lần giáng trần đầu tiên.

Đoạn văn chầu trên trang này khớp với lần sinh làm người họ Lê: sinh ở Phủ Dầy, làm dâu họ Trần, về trời năm hai mươi mốt tuổi ngày mồng ba tháng Thìn. Người thờ Mẫu tôn bà là một trong Tứ Bất Tử, bốn vị bất tử của người Việt, và là vị nữ duy nhất trong bốn vị ấy. Ở phần lớn phủ điện miền Bắc, bà được tôn là Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên, đứng đầu Tam Tòa Thánh Mẫu. Trong quan niệm của người thờ, Mẫu gần gũi và thương con, người dự lễ xưng con với Mẫu.

Theo sử liệu

Về phần giới nghiên cứu khảo được, văn bản sớm nhất kể chuyện Liễu Hạnh mà các nhà nghiên cứu hay dẫn là truyện Vân Cát thần nữ trong tập Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm, soạn vào thế kỷ mười tám. Bách khoa Toàn thư Việt Nam nêu thêm những nguồn đời sau như Tiên phả dịch lục của Kiều Oánh Mậu. Các mốc năm 1557 và 1577 nói ở trên thuộc lớp thần tích, không phải sử biên niên.

Nhà sử học Olga Dror, trong sách Cult, Culture, and Authority: Princess Liễu Hạnh in Vietnamese History in năm 2007, theo dõi hình tượng Liễu Hạnh qua nhiều loại văn bản khác nhau, và cho thấy mỗi thời, mỗi nhóm người kể lại bà theo mối quan tâm của mình.

Quyết định của UNESCO năm 2016 ghi thực hành thờ Mẫu có từ thế kỷ mười sáu. Đó là mốc ước định dựa trên thần tích, sắc phong và văn bia, như trang trụ Đạo Mẫu của thư viện đã ghi.

Đặt vào bức tranh ấy, bài văn in năm 1929 là một chứng liệu riêng. Nó cho thấy vào đầu thế kỷ hai mươi, giới cung văn vùng đồng bằng Bắc Bộ kể chuyện Mẫu ra sao, bằng chữ gì, nhấn vào những chi tiết nào. Trong đoạn trích, lời văn dành hẳn một khổ cho nỗi thương nhớ của người chồng và của cha mẹ, một chi tiết rất người đặt giữa câu chuyện về một vị tiên.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ cần tách bạch, gọn trong một câu: những gì bài văn kể, từ gốc tiên ở cung trăng tới giờ Dần mồng ba tháng Thìn, là lời của tín ngưỡng về vị thánh của mình, còn điều giới sử học khảo được là lịch sử của những văn bản kể về bà, từ truyện của Đoàn Thị Điểm ở thế kỷ mười tám tới tập văn chầu in năm 1929. Hai lớp ấy cùng có giá trị, nhưng là hai loại giá trị khác nhau.

VITín Đồ Nghe Hát Khi Nào Và Ra Sao

Văn chầu khác kinh ở chỗ người thường ít khi tự đọc. Tín đồ nghe văn, thuộc văn, nhưng người cất lời là cung văn. Vì vậy câu hỏi bài này được đọc khi nào thực ra là câu hỏi cung văn hát nó vào những dịp nào.

Hát văn thờ ngày tiệc Mẫu

Dịp quan trọng nhất là tiệc Mẫu tháng Ba âm lịch, quanh ngày mồng ba, ngày giỗ Mẫu theo lời thần tích. Cung văn ngồi trên chiếu trước ban thờ Mẫu, hát văn thờ Mẫu, và bài văn Mẫu Liễu Hạnh có thể được hát trọn trong dịp này. Người dự lễ ngồi hay đứng phía sau, chắp tay nghe.

Giá Mẫu trong một vấn hầu

Một vấn hầu đi từ hàng cao xuống hàng thấp và mở bằng hàng Mẫu. Theo mô tả chung của trang trụ Đạo Mẫu, hàng Mẫu thường chỉ giáng mà không mở khăn: người ngồi đồng trùm khăn đỏ, không múa, không ngự lâu như các giá dưới. Vì giá Mẫu ngắn, phần văn Mẫu cung văn hát trong lúc ấy thường ngắn hơn bài trọn vẹn.

Mùa hội Phủ Dầy

Mùa hội Phủ Dầy rơi vào tháng Ba âm lịch. Theo Sở Văn hóa Nam Định, hằng năm ngày mồng bốn tháng Ba có hội thi hát chầu văn tại phủ Tiên Hương và phủ Vân Cát, nơi các cung văn trình diễn các bài văn chầu cổ và bài mới.

Mùng một và ngày rằm

Ở những phủ thờ Mẫu giữa đô thị như Phủ Tây Hồ ở Hà Nội, người đi lễ lui tới đều đặn vào ngày mùng một và ngày rằm âm lịch, không chỉ vào mùa hội. Phủ Tây Hồ là nơi có nghi thức hầu đồng và chầu văn, như trang Phủ Tây Hồ của thư viện đã tả, nên người đi lễ ở đây có dịp nghe văn thờ Mẫu ngoài mùa hội tháng Ba.

Ngoài nghi lễ

Văn chầu còn được hát trên sân khấu, trong các chương trình giới thiệu di sản và trong các cuộc thi. Khi đó lời văn có thể giữ nguyên nhưng không còn đi kèm nghi thức thờ.

Khác nhau giữa các nơi và các dòng

Không có một bản văn Mẫu nào được hát giống nhau ở mọi phủ. Thứ nhất là chọn bài: cùng thờ Mẫu Liễu Hạnh, nơi này hát bài Bóng gương loan, nơi khác hát bài khác. Một trang của giới cung văn đặt dưới nhan đề Bóng giăng loan lại chép những câu thất ngôn mở bằng chữ Xe phượng từ vâng sắc Ngọc Hoàng, cho thấy dưới cùng một tên gọi, các nơi có thể hát những lời không giống nhau. Thứ hai là câu chữ: mỗi dòng cung văn giữ bản của thầy mình. Thứ ba là làn điệu: cùng một lời văn, mỗi cung văn có thể chọn điệu và đổi điệu ở chỗ khác nhau.

Thư viện ghi lại những khác biệt ấy để quý vị hiểu điều mình nghe, không đứng ra chỉ dẫn nghi thức. Chuyện hát bài nào, hát thế nào là việc của mỗi phủ và mỗi dòng cung văn.

VIINhững Chỗ Hay Hiểu Lầm

Văn chầu nằm giữa nghi lễ, âm nhạc và văn chương, nên dễ bị nhìn qua lăng kính của một trong ba thứ ấy mà bỏ quên hai thứ kia. Năm điểm dưới đây là những chỗ thư viện gặp thường hơn cả.

Văn chầu có một bản chuẩn như kinh

Không có. Đạo Mẫu không có giáo hội đứng ra định bản. Ngay trong ba mươi hai câu trên trang này, bản in năm 1929 và bản cung văn hiện hành đã khác chữ ở hơn hai mươi câu. Cái được giữ là mạch kể và vần, không phải từng chữ.

Chầu trong văn chầu là hàng Chầu Bà

Chữ Chầu có hai cách dùng. Nó là tên một hàng thánh, Tứ Phủ Chầu Bà, đứng dưới hàng Mẫu. Nhưng trong lời văn, Chầu còn là tiếng tôn xưng chung cho vị nữ thần đang được hát. Bài văn trên trang này gọi Mẫu Liễu Hạnh là Chầu, mà không có nghĩa bà thuộc hàng Chầu Bà. Còn chữ chầu trong tên gọi chầu văn thường được hiểu là chầu hầu, tức hát để hầu thánh.

Mẫu Thượng Thiên và Mẫu Liễu Hạnh ở đâu cũng là một

Ở phần lớn phủ điện miền Bắc, hai danh xưng được đồng nhất, và nhiều trang về Đạo Mẫu viết như vậy. Nhưng cách hiểu ấy không thống nhất khắp nơi: có nơi coi Mẫu Liễu Hạnh là một vị giáng trần riêng, phân biệt với Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên trên ngôi Tam Tòa. Trang này dùng tên Mẫu Thượng Thiên theo cách gọi quen và ghi rõ chỗ khác nhau ấy.

Văn chầu chỉ hát khi hầu đồng

Hát văn hầu chỉ là một lối. Hát văn thờ trước ban thờ không cần người ngồi đồng, và theo bài của Viện Âm nhạc thì đây là một trong hai hình thức chính còn lại ngày nay.

Lời văn chầu toàn là lời cầu xin

Trong bài văn này, lời cầu cho tín chủ chỉ nằm ở mấy câu cuối. Phần lớn bài là kể chuyện và tả cảnh, và ba mươi hai câu trên trang này không có câu cầu xin nào. Đọc văn chầu như một truyện thơ Nôm là một cách đọc đứng được, bên cạnh cách nghe nó như lời thờ.

?Hỏi Đáp Nhanh

Văn chầu Mẫu Thượng Thiên là gì

Là bài văn vần được cung văn hát để thờ Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên, vị đứng đầu Tam Tòa Thánh Mẫu, mà ở phần lớn phủ điện miền Bắc được đồng nhất với Mẫu Liễu Hạnh. Bài trên trang này là văn Mẫu Liễu Hạnh, mở bằng câu Bóng trăng loan mẫu đơn một đóa, hay chép là Bóng gương loan, viết theo thể song thất lục bát. Bài kể gốc tiên của Mẫu, lần giáng sinh ở đất Phủ Dầy, việc lấy chồng, về trời năm hai mươi mốt tuổi và trở lại thăm quê.

Lời văn trên trang này lấy theo bản nào

Theo sách Văn chầu: Các bài văn chầu đủ các vị, in năm 1929, lưu trong Bộ sưu tập Sách Đông Dương của Thư viện Quốc gia Việt Nam, qua bản chép lại trên trang phuday.com. Từng câu được đối chiếu với bản cung văn hiện hành mang tên Văn Địa Tiên Thánh Mẫu của Hội Nhất Tâm. Hai bản cùng mạch kể và cùng vần nhưng khác chữ ở hơn hai mươi trong ba mươi hai câu, mọi chỗ khác được ghi trong phần giải nghĩa. Cột nghĩa và cột tiếng Anh do thư viện soạn.

Mẫu Thượng Thiên và Mẫu Liễu Hạnh có phải là một

Ở phần lớn phủ điện miền Bắc thì được coi là một: Mẫu Liễu Hạnh được tôn là Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên, cai quản miền trời, sắc đỏ, ngồi giữa Tam Tòa Thánh Mẫu. Nhưng cách hiểu này không thống nhất khắp nơi, có nơi phân biệt vị Mẫu trên ngôi Tam Tòa với vị tiên giáng trần là Mẫu Liễu Hạnh. Thư viện ghi cả hai cách hiểu và không chọn thay.

Câu Giờ Dần mồng ba tháng Thìn nghĩa là gì

Giờ Dần là khoảng từ ba tới năm giờ sáng. Tháng Thìn là tháng Ba âm lịch, vì tháng Giêng là tháng Dần, tháng Hai là tháng Mão, tháng Ba là tháng Thìn. Câu văn nói Mẫu rời cõi trần vào sáng sớm ngày mồng ba tháng Ba năm hai mươi mốt tuổi, khớp với lời thần tích được Bách khoa Toàn thư Việt Nam tóm lại. Đây là gốc của câu tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ, và là lý do mùa hội Phủ Dầy rơi vào tháng Ba âm lịch.

Chầu văn có được UNESCO ghi danh không

UNESCO không ghi danh riêng chầu văn, mà ghi danh Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2016, theo Quyết định 11.COM 10.B.37 tại kỳ họp ở Addis Ababa. Văn bản quyết định kể âm nhạc, trang phục, múa và nghi lễ hầu đồng trong các thành phần của di sản. Trước đó, nghi lễ chầu văn đã vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2012.

›Đọc Tiếp