ITrước Khi Đọc
Ở nhiều chùa Việt, tiếng chuông lúc bốn giờ sáng mở ra thời công phu khuya, và trong thời ấy có một bài mà người tụng lâu năm đọc thuộc không cần nhìn sách. Tám mươi tư câu, bốn trăm mười lăm chữ Hán, gần như không câu nào người tụng hiểu được theo nghĩa từng chữ, vậy mà đây là bài chú được thuộc lòng nhiều nhất trong Phật Giáo Bắc Tông ở Việt Nam. Nhiều người chỉ lên chùa ngày rằm cũng nhận ra ngay câu mở đầu: Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da.
Tên đầy đủ của bài là Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni 千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼, nghĩa là bài đà la ni về tấm lòng thương xót lớn, rộng khắp, tròn đầy, không ngăn ngại, của Bồ Tát Quán Thế Âm nghìn tay nghìn mắt. Người Việt gọi gọn là Chú Đại Bi. Chữ đà la ni là phiên âm chữ Phạn dhāraṇī, gốc từ động từ dhṛ là nắm giữ. Chữ chú 咒 là cách gọi quen trong tiếng Hán.
Điều quý vị cần biết trước khi đọc toàn văn: bài chú này không phải chữ Hán có nghĩa. Người dịch đời Đường dùng chữ Hán để ghi âm tiếng Phạn, và người Việt lại đọc những chữ Hán ấy bằng âm Hán Việt. Vì thế câu Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da là lớp âm thứ ba, cách tiếng Phạn gốc hai lần chuyển. Bản Phạn đi kèm bản Hán không còn, những gì người đời nay đọc được là bản phục dựng, và các học giả dựng lại không giống nhau.
Trang này bày bốn cột: chữ Hán, âm tụng quen ở chùa Việt, nghĩa tiếng Việt và nghĩa tiếng Anh. Hai cột nghĩa do thư viện tự dịch theo bản Phạn phục dựng, câu nào chỉ là danh hiệu hay tiếng gọi thì ghi đúng như vậy. Thư viện trình bày để quý vị hiểu điều mình nghe, không xác nhận hay bác bỏ niềm tin của ai.
Về lai lịch văn bản. Bài chú mà chùa Việt tụng nằm trong bộ kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh, xếp số 1060 trong Đại Chánh Tạng, đề tên người dịch là Già Phạm Đạt Ma 伽梵達摩, một vị sa môn người Tây Thiên Trúc. Các bảng tra cứu Đại Tạng xếp thời gian dịch của ngài vào quãng năm 650 tới 660, đời Đường. Bài chú không đứng riêng mà được đặt trong một câu chuyện: Bồ Tát Quán Thế Âm kể rằng ở một kiếp xa xưa ngài nghe bài chú này từ đức Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Như Lai 千光王靜住如來, phát nguyện làm lợi ích cho chúng sinh, và ngay khi phát nguyện thì thân đủ nghìn tay nghìn mắt. Đó là gốc của hình tượng Quán Âm nghìn tay nghìn mắt quen thấy ở chùa Việt.
Bản của ngài Già Phạm Đạt Ma không phải bản duy nhất. Theo các bảng tra cứu, ngài Trí Thông đã dịch một bài cùng hệ trong khoảng năm 627 tới 649, ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch năm 709, và về sau ngài Bất Không truyền một bản dài hơn, có kèm chữ Phạn viết bằng lối chữ Tất Đàm, xếp số 1113b. Chính bản dài có chữ Tất Đàm ấy là chỗ dựa chính khi người đời nay dựng lại bản Phạn. Nhưng bản được tụng khắp Trung Hoa, Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản là bản ngắn của ngài Già Phạm Đạt Ma.
Về số câu. Trong Đại Chánh Tạng, bài chú của kinh số 1060 được đánh 82 số, bản tụng thông dụng chia 84 câu. Tám mươi câu đầu trùng nhau, chỗ khác nằm ở đoạn cuối mà kinh số 1060 gộp làm một. Hai bản còn khác nhau ở vài mặt chữ và ở câu 16, được ghi ở phần giải.
IIToàn Văn Tám Mươi Bốn Câu
| Câu | Nguyên văn chữ Hán ghi âm Phạn | Âm tụng ở chùa Việt | Nghĩa theo bản Phạn phục dựng | Tiếng Anh |
|---|---|---|---|---|
| 1 | 南無喝囉怛那哆囉夜耶 | Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. | Kính lễ Ba Ngôi Báu. | Homage to the Three Jewels. |
| 2 | 南無阿唎耶 | Nam mô a rị da, | Kính lễ đấng Thánh | Homage to the noble |
| 3 | 婆盧羯帝爍鉢囉耶 | bà lô yết đế thước bát ra da, | Quán Tự Tại, | Avalokiteśvara, |
| 4 | 菩提薩埵婆耶 | bồ đề tát đỏa bà da, | bậc Bồ Tát, | the bodhisattva, |
| 5 | 摩訶薩埵婆耶 | ma ha tát đỏa bà da, | bậc đại sĩ, | the great being, |
| 6 | 摩訶迦盧尼迦耶 | ma ha ca lô ni ca da. | đấng có lòng thương xót lớn. | the one of great compassion. |
| 7 | 唵 | Án, | Án (oṃ), âm thiêng mở đầu, không dịch. | Oṃ, the sacred opening syllable, left untranslated. |
| 8 | 薩皤囉罰曳 | tát bàn ra phạt duệ, | Giữa mọi nỗi sợ hãi (các bản dựng lại đọc khác nhau), | Amid all fears (reconstructions differ here), |
| 9 | 數怛那怛寫 | số đát na đát tỏa. | là chỗ che chở, kính lễ đấng ấy (các bản đọc khác nhau). | the refuge, to that one be homage (readings differ). |
| 10 | 南無悉吉栗埵伊蒙阿唎耶 | Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da, | Kính lễ xong, tôi tụng bài này của đấng Thánh | Having paid homage, I recite this hymn of the noble |
| 11 | 婆盧吉帝室佛囉楞馱婆 | bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. | Quán Tự Tại (chữ cuối câu các bản đọc khác nhau), | Avalokiteśvara (the last word is read in several ways), |
| 12 | 南無那囉謹墀 | Nam mô na ra cẩn trì, | bài mang tên Nīlakaṇṭha, đấng Cổ Xanh, | named Nīlakaṇṭha, the Blue-Throated One, |
| 13 | 醯唎摩訶皤哆沙咩 | hê rị ma ha bàn đa sa mế, | tâm chú ấy, tôi sẽ tụng lên, | this heart of the spell I shall recite, |
| 14 | 薩婆阿他豆輸朋 | tát bà a tha đậu du bằng, | thành tựu mọi điều, tốt lành, | accomplishing every aim, auspicious, |
| 15 | 阿逝孕 | a thệ dựng, | không gì thắng được, | unconquerable, |
| 16 | 薩婆薩哆那摩婆薩哆那摩婆伽 | tát bà tát đa (na ma bà tát đa) na ma bà già, | cho mọi loài chúng sinh, con đường hiện hữu (đoạn trong ngoặc có bản có, có bản không), | for all beings, the path of existence (the part in brackets is missing in some versions), |
| 17 | 摩罰特豆 | ma phạt đạt đậu. | làm cho trong sạch (các bản đọc khác nhau). | making it pure (readings differ). |
| 18 | 怛姪他 | Đát điệt tha. | Chú rằng. | Thus it goes. |
| 19 | 唵阿婆盧醯 | Án a bà lô hê, | Án, hỡi đấng nhìn xuống, | Oṃ, O you who look down, |
| 20 | 盧迦帝 | lô ca đế, | nhìn thế gian, | upon the world, |
| 21 | 迦羅帝 | ca ra đế, | đấng vượt lên thế gian, | who have gone beyond the world, |
| 22 | 夷醯唎 | di hê rị, | hỡi Hari (một cách đọc khác là tiếng gọi e hrīḥ), | O Hari (another reading is the call e hrīḥ), |
| 23 | 摩訶菩提薩埵 | ma ha bồ đề tát đỏa, | bậc đại Bồ Tát, | great bodhisattva, |
| 24 | 薩婆薩婆 | tát bà tát bà, | tất cả, tất cả, | all, all, |
| 25 | 摩囉摩囉 | ma ra ma ra, | hãy nhớ, hãy nhớ (có bản đọc là mala mala), | remember, remember (some read mala mala), |
| 26 | 摩醯摩醯唎馱孕 | ma hê ma hê rị đà dựng, | cái tâm của đấng lớn lao, | the heart of the great one, |
| 27 | 俱盧俱盧羯蒙 | cu lô cu lô yết mông, | hãy làm, hãy làm việc ấy, | do, do the work, |
| 28 | 度盧度盧罰闍耶帝 | độ lô độ lô phạt xà da đế, | vững lên, vững lên, hỡi đấng chiến thắng, | hold firm, hold firm, O victorious one, |
| 29 | 摩訶罰闍耶帝 | ma ha phạt xà da đế, | hỡi đấng đại thắng, | O greatly victorious one, |
| 30 | 陀羅陀羅 | đà ra đà ra, | giữ lấy, giữ lấy, | hold, hold, |
| 31 | 地利尼 | địa rị ni, | hỡi đấng nâng giữ (một cách đọc là dharaṇī, mặt đất), | O upholder (one reading has dharaṇī, the earth), |
| 32 | 室佛囉耶 | thất Phật ra da, | bậc tự tại, | the sovereign lord, |
| 33 | 遮羅遮羅 | giá ra giá ra. | chuyển động, chuyển động, | move, move, |
| 34 | 摩摩罰摩囉 | Mạ mạ phạt ma ra, | hỡi đấng không vết nhơ (một cách đọc có chữ mama, của tôi), | O stainless one (one reading has mama, of me), |
| 35 | 穆帝隸 | mục đế lệ, | mang hình tướng giải thoát, | of liberated form, |
| 36 | 伊醯伊醯 | y hê y hê, | hãy đến, hãy đến, | come, come, |
| 37 | 室那室那 | thất na thất na, | tiếng gọi (một cách đọc là chặt đứt, chặt đứt), | a call (one reading is cut, cut), |
| 38 | 阿囉嘇佛囉舍利 | a ra sâm Phật ra xá lợi, | một cách đọc là xin tuôn ra, lan tỏa (các bản dựng lại khác nhau), | one reading is: pour forth, spread out (reconstructions differ), |
| 39 | 罰沙罰嘇 | phạt sa phạt sâm, | một cách đọc là chất độc, chất độc, cách khác là khắp cả, khắp cả, | one reading is poison, poison, another is all, all, |
| 40 | 佛囉舍耶 | Phật ra xá da, | hãy diệt trừ (một cách đọc khác là hãy lan khắp), | destroy it (another reading is spread everywhere), |
| 41 | 呼嚧呼嚧摩囉 | hô lô hô lô ma ra, | tiếng gọi hulu hulu, rồi mala (một cách đọc là hãy nhớ), | hulu hulu, a call, then mala (one reading is remember), |
| 42 | 呼嚧呼嚧醯利 | hô lô hô lô hê rị, | tiếng gọi hulu hulu, hỡi Hari, | hulu hulu, a call, O Hari, |
| 43 | 娑囉娑囉 | ta ra ta ra, | đi, đi, hãy trôi chảy, | go, go, flow on, |
| 44 | 悉利悉利 | tất rị tất rị, | tiếng gọi siri siri, không có nghĩa từ vựng rõ, | siri siri, a call with no clear lexical meaning, |
| 45 | 蘇嚧蘇嚧 | tô rô tô rô, | tiếng gọi suru suru, không có nghĩa từ vựng rõ, | suru suru, a call with no clear lexical meaning, |
| 46 | 菩提夜菩提夜 | bồ đề dạ bồ đề dạ, | hãy giác ngộ, hãy giác ngộ, | awaken, awaken, |
| 47 | 菩馱夜菩馱夜 | bồ đà dạ bồ đà dạ, | hãy làm cho giác ngộ, hãy làm cho giác ngộ, | cause to awaken, cause to awaken, |
| 48 | 彌帝利夜 | di đế rị dạ, | hỡi đấng từ ái, | O loving one, |
| 49 | 那囉謹墀 | na ra cẩn trì, | hỡi đấng Cổ Xanh, | O Blue-Throated One, |
| 50 | 地利瑟尼那 | địa rị sắc ni na, | bằng việc hiện ra cho thấy (một cách đọc), | by your appearing (one reading), |
| 51 | 婆夜摩那 | ba dạ ma na, | làm cho lòng hoan hỷ (một cách đọc), | gladden the mind (one reading), |
| 52 | 娑婆訶 | ta bà ha. | ta bà ha, lời kết nguyện: thành tựu thay. | svāhā, the closing word: may it be so. |
| 53 | 悉陀夜 | Tất đà dạ, | Kính dâng đấng thành tựu, | To the accomplished one, |
| 54 | 娑婆訶 | ta bà ha. | thành tựu thay. | svāhā. |
| 55 | 摩訶悉陀夜 | Ma ha tất đà dạ, | Kính dâng đấng đại thành tựu, | To the greatly accomplished one, |
| 56 | 娑婆訶 | ta bà ha. | thành tựu thay. | svāhā. |
| 57 | 悉陀喻藝 | Tất đà du nghệ, | Kính dâng đấng thành tựu du già, | To the one accomplished in yoga, |
| 58 | 室皤囉耶 | thất bàn ra dạ, | bậc tự tại, | the sovereign lord, |
| 59 | 娑婆訶 | ta bà ha. | thành tựu thay. | svāhā. |
| 60 | 那囉謹墀 | Na ra cẩn trì, | Kính dâng đấng Cổ Xanh, | To the Blue-Throated One, |
| 61 | 娑婆訶 | ta bà ha. | thành tựu thay. | svāhā. |
| 62 | 摩囉那囉 | Ma ra na ra, | Danh hiệu, các bản dựng lại đọc khác nhau, chưa dịch chắc được, | An epithet reconstructed in different ways, with no firm translation, |
| 63 | 娑婆訶 | ta bà ha. | thành tựu thay. | svāhā. |
| 64 | 悉囉僧阿穆佉耶 | Tất ra tăng a mục khê da, | Kính dâng đấng mặt sư tử, | To the lion-faced one, |
| 65 | 娑婆訶 | ta bà ha. | thành tựu thay. | svāhā. |
| 66 | 娑婆摩訶阿悉陀夜 | Ta bà ma ha a tất đà dạ, | Kính dâng đấng thành tựu lớn trong mọi sự (các bản đọc khác nhau), | To the one of every great accomplishment (readings differ), |
| 67 | 娑婆訶 | ta bà ha. | thành tựu thay. | svāhā. |
| 68 | 者吉囉阿悉陀夜 | Giả kiết ra a tất đà dạ, | Kính dâng đấng mang bánh xe (cakra), | To the bearer of the wheel (cakra), |
| 69 | 娑婆訶 | ta bà ha. | thành tựu thay. | svāhā. |
| 70 | 波陀摩羯悉陀夜 | Ba đà ma yết tất đà dạ, | Kính dâng đấng tay cầm hoa sen (padma), | To the one holding the lotus (padma), |
| 71 | 娑婆訶 | ta bà ha. | thành tựu thay. | svāhā. |
| 72 | 那囉謹墀皤伽囉耶 | Na ra cẩn trì bàn dà ra dạ, | Kính dâng đấng Cổ Xanh, kèm một danh hiệu mà các bản đọc khác nhau, | To the Blue-Throated One, with an epithet read in different ways, |
| 73 | 娑婆訶 | ta bà ha. | thành tựu thay. | svāhā. |
| 74 | 摩婆利勝羯囉夜 | Ma bà lợi thắng yết ra dạ, | Kính dâng đấng cầm tù và ốc (śaṅkha), theo nhiều bản dựng lại, | To the bearer of the conch (śaṅkha), in many reconstructions, |
| 75 | 娑婆訶 | ta bà ha. | thành tựu thay. | svāhā. |
| 76 | 南無喝囉怛那哆囉夜耶 | Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. | Kính lễ Ba Ngôi Báu. | Homage to the Three Jewels. |
| 77 | 南無阿唎耶 | Nam mô a rị da, | Kính lễ đấng Thánh | Homage to the noble |
| 78 | 婆嚧吉帝 | bà lô kiết đế, | Quán Tự Tại (nửa đầu danh hiệu), | Avalokiteśvara (first half of the name), |
| 79 | 爍皤囉夜 | thước bàn ra dạ, | (nửa sau danh hiệu), | (second half of the name), |
| 80 | 娑婆訶 | ta bà ha. | thành tựu thay. | svāhā. |
| 81 | 唵悉殿都 | Án, tất điện đô, | Án, nguyện được thành tựu | Oṃ, may they be accomplished, |
| 82 | 漫多囉 | mạn đà ra, | những câu chú | the mantra |
| 83 | 跋陀耶 | bạt đà dạ, | và từng lời của chú, | and its words, |
| 84 | 娑婆訶 | ta bà ha. | thành tựu thay. | svāhā. |
IIIGiải Nghĩa Các Cụm Then Chốt
Phần dưới chọn mười hai cụm dựng nên khung của bài chú, theo thứ tự toàn văn. Mỗi cụm nói chữ Hán ấy ghi âm chữ Phạn nào, nghĩa theo bản phục dựng ra sao, và chỗ các bản khác nhau. Mọi chữ Phạn nêu ở đây là chữ dựng lại, không chép từ một bản gốc còn giữ được.
Câu mở đầu là câu dễ đọc ra nghĩa nhất, và hầu như mọi bản phục dựng đều đồng ý: namo ratna-trayāya, kính lễ Ba Ngôi Báu, tức Phật, Pháp, Tăng. Chữ nam mô 南無 ghi âm namo, kính lễ, quy y. Bốn chữ 喝囉怛那 ghi âm ratna, báu vật, và ba chữ 哆囉夜 ghi âm traya, bộ ba.
Người Việt đọc là hắc ra vì chữ 喝 trong âm Hán Việt là hát hay hắc. Đó là dấu vết của ba lớp âm chồng lên nhau. Câu này lặp lại ở câu 76, và hai lần kính lễ ấy đóng khung bài chú.
阿唎耶 ghi âm ārya, bậc thánh. 婆盧羯帝爍鉢囉耶 ghi âm avalokiteśvarāya, danh hiệu mà người Việt biết qua hai lối dịch Quán Tự Tại và Quán Thế Âm. Tách thành avalokita và īśvara thì nghĩa là đấng tự tại nhìn xuống. Tên Quán Thế Âm được giới nghiên cứu cho là gắn với một dạng chữ có thành tố svara, âm thanh.
Kinh số 1060 viết 阿唎㖿, bản tụng viết 阿唎耶. Ở câu 4, kinh số 1060 viết 菩提薩跢婆㖿, bản tụng viết 菩提薩埵婆耶. Âm đọc không đổi.
Câu 6 ghi âm mahākāruṇikāya, kính dâng đấng có lòng thương xót lớn. 摩訶 là mahā, lớn. 迦盧尼迦 là kāruṇika, người có lòng bi, từ chữ karuṇā mà tiếng Hán dịch là bi 悲.
Tên gọi Đại Bi của cả bài chú đi ra từ chính chữ này. Trong giáo nghĩa Phật Giáo, từ là muốn cho người khác được vui, bi là muốn cho người khác thoát khổ. Sáu câu đầu có cấu trúc quen trong văn đà la ni: kính lễ Tam Bảo, rồi kính lễ vị Bồ Tát kèm chuỗi danh hiệu ở tặng cách, tức cách nói dâng lên ai.
Câu 7 chỉ một chữ, ghi âm oṃ, âm thiêng có từ trước Phật Giáo trong truyền thống Veda, về sau được dùng để mở đầu rất nhiều bài chú của Phật Giáo, Ấn Độ giáo và Kỳ Na giáo. Người Việt đọc chữ 唵 là án.
Âm này không có nghĩa từ vựng như một danh từ hay động từ, nên thư viện không dịch. Trong bài này chữ án xuất hiện ba lần, ở câu 7, câu 19 và câu 81, mỗi lần đánh dấu một chặng mới.
Đây là cụm quan trọng nhất cho việc hiểu bài chú theo bản Phạn. Ba chữ 那囉謹墀 ghi âm nīlakaṇṭha, trong đó nīla là xanh sẫm, kaṇṭha là cổ họng. Thư viện tạm dịch là đấng Cổ Xanh. Tên này lặp lại ở câu 49, câu 60 và câu 72, và giới nghiên cứu gọi cả bài chú là Nīlakaṇṭha dhāraṇī chính vì nó.
Các bản phục dựng đọc câu 10 tới câu 13 thành một mạch: kính lễ xong, tôi xin tụng tâm chú mang tên Nīlakaṇṭha của đấng Thánh Quán Tự Tại. Cái tên Cổ Xanh là chỗ các học giả hiểu khác nhau nhiều nhất. Trong thần thoại Ấn Độ giáo, Nīlakaṇṭha là danh hiệu của thần Śiva, người uống chất độc nổi lên khi chư thần khuấy biển sữa, giữ nó trong cổ nên cổ hóa xanh. Một số học giả, nổi bật là Lokesh Chandra, thấy ở đây dấu vết một bài tụng thần Ấn Độ giáo được Phật Giáo tiếp nhận. Truyền thống Phật Giáo hiểu Nīlakaṇṭha là một hóa thân của Quán Thế Âm.
Câu 16 là chỗ các bản khác nhau rõ nhất trong phần đầu. Kinh số 1060 chỉ có 薩婆薩哆那摩婆伽, còn bản tụng thông dụng có thêm đoạn 那摩婆薩哆 ở giữa. Các bản chữ Hán in hiện nay cũng không thống nhất ở đoạn thêm ấy, có bản viết 婆薩哆, có bản viết 婆薩多. Kinh tụng tiếng Việt đặt đoạn ấy trong ngoặc, (na ma bà tát đa), có chùa đọc, có chùa bỏ, như nghi thức cầu an trên Cổng thông tin Phật giáo chỉ đọc tát bà tát đa, na ma bà già.
Các bản phục dựng thường đọc cụm này gần với sarva-bhūtānāṃ bhava-mārga, con đường hiện hữu của mọi loài, nối với câu 17 thành ý làm trong sạch con đường ấy. Đối âm ở đây không khít, nên thư viện ghi đó là một cách đọc. Chỗ này còn làm lệch số câu trong một số sách tiếng Việt. Có sách đánh số 17 cho na ma bà già rồi gộp ma phạt đạt đậu với đát điệt tha làm số 18, tổng vẫn là 84. Trang này đánh số theo bản chữ Hán.
Câu 18 ghi âm tadyathā, nghĩa đen là như thế này. Đây là chữ báo chuyển đoạn: từ đây trở đi mới là thân bài chú. Bát Nhã Tâm Kinh làm cùng việc ấy bằng chữ Hán có nghĩa, 即說咒曰.
Từ câu 19, bài chú đổi giọng, thành chuỗi tiếng gọi và động từ mệnh lệnh lặp đôi. Câu 27 được dựng lại là kuru kuru karma, hãy làm, hãy làm việc ấy. Câu 28 là dhuru dhuru vijayate, gắng lên, hỡi đấng chiến thắng. Lặp đôi là để thúc giục, không để thêm nghĩa.
Đoạn này các bản khác nhau nhiều về mặt chữ: 羯懞 hay 羯蒙 ở câu 27, 摩麼 hay 摩摩 ở câu 34, 伊醯移醯 hay 伊醯伊醯 ở câu 36 (âm Việt y hê y hê theo lối sau), 參 hay 嘇 ở câu 38 và 39 (âm Việt đều là sâm).
Hulu hulu, siri siri, suru suru không phải những từ có nghĩa rõ trong tiếng Phạn. Các học giả xếp chúng vào loại âm chú, âm lặp có nhịp. Thư viện ghi thẳng là tiếng gọi, không gượng tìm nghĩa. Riêng câu 43, sara sara, có thể hiểu là đi, trôi chảy. Đoạn này cho thấy vì sao không dịch trọn được bài chú.
Câu 46 và câu 47 là hai câu dễ nhận nhất ở nửa sau bài chú, vì người tụng nghe ra ngay chữ bồ đề. Bodhiya bodhiya được hiểu là hãy giác ngộ, bodhaya bodhaya là hãy làm cho giác ngộ, hãy đánh thức. Một chữ nói về tự mình tỉnh, một chữ nói về làm cho người khác tỉnh.
Nhiều bản giảng thấy ở đây lý tưởng Bồ Tát tự giác và giác tha. Câu 48 tiếp theo, 彌帝利夜, được đọc là maitriya, từ chữ maitrī, lòng từ. Có người liên hệ với tên Bồ Tát Di Lặc, Maitreya, nhưng trong mạch câu thì đa số hiểu là một lời gọi đấng từ ái.
Từ câu 53 tới câu 75, bài chú là một chuỗi đều đặn: một danh hiệu ở tặng cách, rồi ta bà ha 娑婆訶, ghi âm svāhā, tiếng kết nguyện có từ thời Veda, gần nghĩa với xin được thành tựu, xin cho được như vậy. Thư viện dịch là thành tựu thay.
Các danh hiệu trong chuỗi này được dựng lại khá thống nhất ở mấy chỗ: siddhāya, kính dâng đấng thành tựu, mahāsiddhāya, đấng đại thành tựu, siddha-yogeśvarāya, bậc tự tại của du già thành tựu, nīlakaṇṭhāya, đấng Cổ Xanh, siṃha-mukhāya, đấng mặt sư tử, padma-hastāya, đấng tay cầm hoa sen, và danh hiệu có chữ cakra, bánh xe. Câu 74 được nhiều bản đọc là có chữ śaṅkha, tù và bằng vỏ ốc.
Bánh xe, hoa sen và tù và ốc là vật cầm tay quen thuộc của thần Viṣṇu, còn Cổ Xanh là danh hiệu của Śiva, nên đây là chứng cứ chính của những học giả thấy dấu vết Ấn Độ giáo trong bài chú. Truyền thống Phật Giáo hiểu chúng là pháp khí trên các cánh tay Quán Âm. Câu 62 và 72 có đối âm khó nên cột nghĩa chỉ ghi là danh hiệu.
Bốn câu cuối được dựng lại là oṃ sidhyantu mantra-padāya svāhā: Án, nguyện cho những câu chú này được thành tựu, thành tựu thay. 悉殿都 ghi âm sidhyantu, nguyện được thành tựu, 漫多囉 ghi âm mantra, câu chú, 跋陀耶 ghi âm padāya, những lời, những câu. Đây là câu kết quen gặp ở cuối nhiều bài đà la ni.
Kinh số 1060 ghi đoạn này khác bản tụng ở mặt chữ: 唵悉殿都曼哆囉鉢馱耶, dùng 曼哆囉 thay cho 漫多囉 và 鉢馱耶 thay cho 跋陀耶, và gộp cả đoạn làm một số. Âm tụng Việt đa số ghi mạn đà ra, có bản ghi mạng đa ra.
IVBản Phạn Dựng Lại Và Hai Lối Hiểu
Khi hỏi bài chú nghĩa là gì, quý vị sẽ gặp hai câu trả lời từ hai lối tiếp cận. Lối thứ nhất lần ngược về tiếng Phạn. Lối thứ hai theo truyền thống Hán Việt, hiểu mỗi câu là hình tượng của một vị Bồ Tát, thiên thần hay thần hộ pháp. Mục này bày cả hai.
Vì sao phải dựng lại
Bản Hán của ngài Già Phạm Đạt Ma không đi kèm chữ Phạn. Muốn biết âm gốc phải ghép từ cách đọc chữ Hán đời Đường, bản dài có chữ Tất Đàm do ngài Bất Không truyền, và các bản tiếng Tây Tạng. Không cứ liệu nào khớp trọn với bản ngắn được tụng, nên mọi bản Phạn hiện nay đều là bản phục dựng.
Học giả Ấn Độ Lokesh Chandra công bố một bản dựng lại năm 1979 và một công trình lớn hơn năm 1988 về Quán Âm nghìn tay. Ông phê bình nhận định của D. T. Suzuki, học giả Thiền người Nhật, rằng đà la ni phần lớn chỉ là tiếng gọi không truyền ý rõ ràng, và cho rằng bài chú có nghĩa, chủ yếu là chuỗi danh hiệu. Ông đọc cái tên Nīlakaṇṭha cùng những danh hiệu cầm bánh xe, cầm hoa sen, cầm tù và, mặt sư tử là dấu vết danh hiệu thần Śiva và thần Viṣṇu, được Phật Giáo tiếp nhận và quy về Quán Thế Âm. Không phải học giả nào cũng đi xa như ông, và các bản dựng lại khác vẫn khác ông ở nhiều câu.
Chỗ các bản dựng lại khác nhau có thể thấy ngay trong toàn văn. Câu 38 tới câu 40, 阿囉嘇佛囉舍利,罰沙罰嘇,佛囉舍耶, có bản đọc là lời xin tuôn ra, lan tỏa khắp cả, có bản đọc là lời xin diệt trừ chất độc, gần với một đoạn trong bản dài của ngài Bất Không nói về diệt trừ độc tham, độc sân, độc si. Câu 8 và câu 9 có bản đọc là lời kính lễ đấng che chở giữa mọi nỗi sợ, có bản đọc theo lối khác hẳn. Câu 62 và câu 72 thì đối âm khó tới mức thư viện chỉ ghi được là danh hiệu.
Vì thế hai cột nghĩa dùng những chữ như một cách đọc là và các bản đọc khác nhau, để mô tả đúng tình trạng hiểu biết hiện nay.
| Câu | Chữ Hán | Phạn dựng lại | Nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | 南無喝囉怛那哆囉夜耶 | namo ratna-trayāya | Kính lễ Ba Ngôi Báu |
| 3 | 婆盧羯帝爍鉢囉耶 | avalokiteśvarāya | Kính dâng Quán Tự Tại |
| 6 | 摩訶迦盧尼迦耶 | mahākāruṇikāya | Đấng có lòng thương xót lớn |
| 12 | 南無那囉謹墀 | nīlakaṇṭha | Đấng Cổ Xanh, tên của bài chú |
| 18 | 怛姪他 | tadyathā | Chú rằng |
| 27 | 俱盧俱盧羯蒙 | kuru kuru karma | Hãy làm, hãy làm việc ấy |
| 46, 47 | 菩提夜菩提夜,菩馱夜菩馱夜 | bodhiya bodhiya, bodhaya bodhaya | Hãy giác ngộ, hãy làm cho giác ngộ |
| 64 | 悉囉僧阿穆佉耶 | siṃha-mukhāya | Đấng mặt sư tử |
| 70 | 波陀摩羯悉陀夜 | padma-hastāya | Đấng tay cầm hoa sen |
| 81 tới 84 | 唵悉殿都,漫多囉,跋陀耶,娑婆訶 | oṃ sidhyantu mantra-padāya svāhā | Án, nguyện các câu chú thành tựu, thành tựu thay |
Lối hiểu thứ hai: mỗi câu là một hình tượng
Truyền thống Hán Việt hiểu bài chú theo một cách khác. Ở đây mỗi câu không được xem là một mảnh câu văn tiếng Phạn mà là danh hiệu hay hình tượng của một vị: Bồ Tát, thiên vương, quỷ thần vương, thần hộ pháp. Có một bộ tranh lưu hành rộng, mỗi câu một hình, và Cổng thông tin Phật giáo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã đăng lại bộ tám mươi tư hình ấy. Trong bộ ấy, chẳng hạn, câu 7 chữ án được vẽ là cảnh các vị quỷ thần vương chắp tay tụng chú. Hòa thượng Tuyên Hóa, vị cao tăng Trung Hoa hoằng pháp tại Hoa Kỳ, cũng có một bộ giảng từng câu Chú Đại Bi theo lối này.
Hai lối hiểu trả lời hai câu hỏi khác nhau. Lối phục dựng hỏi người soạn bài chú bằng tiếng Phạn muốn nói điều gì, và thuộc về ngữ văn học. Lối hình tượng hỏi người tụng nên quán tưởng điều gì khi đọc tới câu ấy, và thuộc về thực hành tâm linh của một truyền thống. Đem lối này ra bác lối kia là đặt sai chỗ. Thư viện dịch hai cột nghĩa theo lối phục dựng vì đó là lối cho biết chữ nghĩa, nhưng không coi đó là lối đúng duy nhất. Với phần lớn người tụng ở chùa Việt, lối hình tượng mới là lối họ được dạy.
Theo giáo nghĩa Đại Thừa, bài chú là lời của chính Bồ Tát Quán Thế Âm, và công năng của nó không phụ thuộc việc người tụng hiểu nghĩa từng chữ. Điều được coi trọng là tâm người tụng: kinh số 1060 dặn người trì chú trước hết phải khởi tâm từ bi đối với mọi loài.
VTín Đồ Tin Gì Và Vì Sao Giữ Âm
Chú Đại Bi được tụng nhiều không chỉ vì nó có mặt trong thời khóa, mà còn vì kinh gốc nói rất nhiều về công năng của nó. Mục này thuật lại những điều kinh nói và những điều tín đồ tin, rồi nói về một câu hỏi người mới đi chùa hay đặt ra: đã có nghĩa rồi, sao không tụng bản dịch.
Theo kinh số 1060, người thành tâm trì Chú Đại Bi sẽ được mười lăm điều sinh tốt lành và không phải chịu mười lăm cách chết dữ. Kinh nói người tụng đủ năm biến trong một đêm thì trừ được tội nặng sinh tử của trăm nghìn muôn ức kiếp. Kinh nói bài chú này do chín mươi chín ức hằng hà sa chư Phật quá khứ nói ra. Kinh chép lời nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm rằng người trì tụng Chú Đại Bi mà không được sinh về cõi Phật thì ngài thề không thành Chánh Giác.
Kinh cũng có nhiều phép dùng chú cho việc cụ thể, kèm số biến rõ ràng: tụng chú bảy biến lên thuốc bôi vào vết thương, tụng hai mươi mốt biến lên sợi chỉ rồi thắt hai mươi mốt nút đeo ở cổ, sắc thuốc bằng nước giếng rồi tụng một trăm lẻ tám biến trước tượng nghìn mắt mà uống. Tín đồ tin rằng trì chú với tâm thành thì được Bồ Tát che chở, bớt bệnh, qua nạn, và lòng được an. Thư viện thuật lại những điều ấy đúng như kinh chép và như tín đồ tin, không xác nhận hay bác bỏ.
Cũng cần đọc những lời hứa ấy trong mạch của chính bộ kinh. Kinh đặt điều kiện trước: người trì chú phải khởi tâm từ bi, và trong kinh có đoạn nói người trì chú mà còn nghi ngờ hay không chí thành thì không được như vậy. Nhiều vị giảng sư nhấn mạnh rằng Chú Đại Bi mang tên tấm lòng thương xót, nên tụng để cầu lợi riêng mà không có lòng thương người là đi ngược tên của nó.
Vì sao chùa giữ âm mà không tụng bản dịch
Đã dịch được phần lớn, vì sao chùa vẫn tụng Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da mà không tụng Kính lễ Ba Ngôi Báu. Lý do thứ nhất là nguyên tắc dịch thuật. Ngài Huyền Trang đời Đường đặt ra năm trường hợp giữ nguyên âm không dịch nghĩa, được sách Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập 翻譯名義集 đời Tống chép lại, và trường hợp đầu tiên là vì tính bí mật, lấy đà la ni làm ví dụ. Theo lối nhìn ấy, sức của bài chú gắn với chính chuỗi âm, dịch nghĩa thì âm mất.
Lý do thứ hai là như phần trên đã thấy, nhiều câu không dịch được một cách chắc chắn. Nếu chùa tụng một bản dịch thì phải chọn một bản phục dựng, tức là chọn một học giả, trong khi các bản còn khác nhau. Giữ âm thì tránh được việc ấy.
Lý do thứ ba là việc tụng chung: một chuỗi âm cố định thì cả đại chúng tụng cùng một nhịp, đời này qua đời khác không đổi. Cũng cần nói rằng âm tụng Việt đã cách âm Phạn khá xa. Một số người ngày nay tụng theo âm Phạn phục dựng, còn truyền thống chùa Việt vẫn giữ âm Hán Việt. Thư viện ghi cả hai hiện trạng, không đánh giá lối nào hơn.
VITín Đồ Đọc Khi Nào Và Ra Sao
Trong các chùa Bắc Tông ở Việt Nam, Chú Đại Bi có mặt ở nhiều nghi thức, từ thời khóa hằng ngày tới các lễ lớn. Dưới đây là những chỗ bài chú thường xuất hiện, mô tả như người quan sát thấy.
Thời tụng lúc sáng sớm, thường khoảng bốn giờ. Theo nghi thức phổ biến ở chùa Việt, thời này gồm Chú Lăng Nghiêm, Chú Đại Bi, Thập Chú và Bát Nhã Tâm Kinh, tụng theo nhịp mõ và chuông.
Nhiều Phật tử tại gia tụng mỗi ngày ba, bảy hay hai mươi mốt biến, có người một trăm lẻ tám biến, đếm bằng chuỗi hạt. Các con số ấy có gốc trong kinh số 1060, nơi các phép dùng chú ghi bảy, hai mươi mốt và một trăm lẻ tám biến.
Trong nghi thức cầu an đăng trên Cổng thông tin Phật giáo, Chú Đại Bi được tụng ba lần, sau câu Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát.
Ở nhiều chùa, vị sư tụng Chú Đại Bi nhiều biến trên một bình nước, gọi là chú nguyện nước Đại Bi, rồi Phật tử xin về uống hay dùng khi có người đau ốm. Tục này dựa trên các phép trong kinh số 1060 dùng chú trên nước và thuốc. Lễ sái tịnh mở đầu các đàn lễ lớn cũng rưới nước đã trì chú quanh đàn.
Đời Tống, ngài Tri Lễ của tông Thiên Thai soạn nghi thức sám hối lấy Chú Đại Bi làm trung tâm, thường gọi là Đại Bi Sám Pháp, nhiều chùa còn tổ chức vào các ngày vía Quán Thế Âm.
Dòng nhan đề và câu mở đầu
Chùa Việt không bắt đầu thẳng vào câu Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Theo bản kinh tụng đăng trên Cổng thông tin Phật giáo, trước bài chú là câu Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát 南無大悲會上佛菩薩, tụng ba lần, nghĩa là kính lễ chư Phật và Bồ Tát trong pháp hội Đại Bi. Tiếp đó là dòng nhan đề Thiên thủ thiên nhãn, vô ngại Đại Bi tâm đà la ni 千手千眼無礙大悲心陀羅尼, bài đà la ni tâm đại bi không ngăn ngại của đấng nghìn tay nghìn mắt. Rồi mới vào câu thứ nhất.
Hai dòng này không thuộc tám mươi tư câu nên không xếp vào bảng toàn văn, dù khi tụng được đọc liền với bài chú.
Khác nhau giữa các nơi
Cùng một bài chú mà nghe ở hai chùa có thể thấy khác. Lý do thứ nhất là các bản âm tụng tiếng Việt có chỗ ghi khác nhau: bà lô kiết đế hay bà lô yết đế ở câu 11, có hay không có đoạn na ma bà tát đa ở câu 16, bàn dà ra dạ hay bàn đà ra dạ ở câu 72, mạn đà ra hay mạng đa ra ở câu 82. Lý do thứ hai là giọng vùng miền và nhịp tụng, nhanh hay chậm tùy nơi.
Ra ngoài Việt Nam, bài chú này cũng được tụng ở Trung Hoa bằng âm Quan Thoại hay các phương ngữ, ở Triều Tiên dưới tên gọi Thần Diệu Chương Cú Đại Đà La Ni, ở Nhật Bản trong các tông Thiền Tào Động và Lâm Tế với tên Daihishin Darani, mỗi nơi đọc chữ Hán theo âm nước mình. Phật Giáo Nam Tông không có bài chú này trong thời khóa.
Tụng bản nào, mấy biến, lúc nào là việc của từng chùa và từng dòng tu. Thư viện chỉ mô tả để quý vị hiểu điều mình nghe.
VIINhững Chỗ Hay Hiểu Lầm
Vì Chú Đại Bi được tụng rộng mà ít người biết nghĩa, quanh nó có nhiều điều được nói lại mà không đúng với văn bản. Dưới đây là năm điểm gặp nhiều hơn cả.
Âm tụng ở chùa Việt là âm Hán Việt của chữ Hán ghi âm Phạn, tức lớp âm thứ ba. Câu Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da, theo bản phục dựng, vốn là namo ratna-trayāya.
Phần lớn bài chú có nghĩa đọc được: lời kính lễ, tên bài chú, lời gọi và động từ mệnh lệnh, chuỗi danh hiệu kèm ta bà ha. Chỉ một số câu là tiếng gọi thuần âm, và một số câu có đối âm khó.
Lối hiểu mỗi câu là hình tượng một vị Bồ Tát hay thần hộ pháp là một truyền thống quán tưởng có thật, nhưng đó không phải nghĩa chữ Phạn của câu. Hai lối hiểu trả lời hai câu hỏi khác nhau.
Bản kinh số 1060 trong Đại Chánh Tạng đánh 82 số. Con số 84 là lối chia của bản tụng thông dụng. Một số sách tụng tiếng Việt còn đánh số lệch với bản chữ Hán ở quãng câu 16 tới 18.
Chính các bản chữ Hán và âm Việt đã khác nhau ở nhiều chữ. Về công năng, thư viện không phán định, chỉ ghi rằng kinh số 1060 nhấn mạnh tâm từ bi và lòng chí thành của người tụng.
?Hỏi Đáp Nhanh
Chú Đại Bi là gì
Là bài đà la ni trong kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh, bản Hán của ngài Già Phạm Đạt Ma đời Đường, số 1060 trong Đại Chánh Tạng. Bài chú gồm chữ Hán ghi âm tiếng Phạn, nội dung chính là lời kính lễ Tam Bảo và Bồ Tát Quán Thế Âm, những lời gọi và một chuỗi danh hiệu. Giới nghiên cứu gọi nó là Nīlakaṇṭha dhāraṇī. Ở chùa Việt đây là bài chú được thuộc nhiều nhất, tụng trong thời công phu khuya và nhiều lễ khác.
Chú Đại Bi có bao nhiêu câu và bao nhiêu chữ
Bản tụng thông dụng chia 84 câu, và bản chữ Hán in ở trang này có 415 chữ, khớp con số các sách kinh tụng tiếng Việt vẫn ghi. Bản kinh số 1060 trong Đại Chánh Tạng đánh 82 số vì gộp đoạn cuối làm một câu. Trước bài chú, chùa Việt còn tụng câu Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát ba lần và dòng nhan đề, hai dòng này không tính vào 84 câu.
Chú Đại Bi nghĩa là gì
Theo các bản Phạn phục dựng, bài chú mở bằng lời kính lễ Ba Ngôi Báu và Bồ Tát Quán Tự Tại, đấng có lòng thương xót lớn, rồi xưng tên bài chú là tâm chú Nīlakaṇṭha, đấng Cổ Xanh. Thân bài là những lời gọi và động từ như hãy nhớ, hãy làm, hãy đến, hãy giác ngộ, tiếp theo là chuỗi danh hiệu kèm ta bà ha, nghĩa là thành tựu thay. Câu cuối nguyện cho các câu chú được thành tựu. Nhiều câu chỉ là tiếng gọi, và các học giả dựng lại không giống nhau ở mọi câu. Truyền thống Hán Việt còn có lối hiểu mỗi câu là hình tượng của một vị Bồ Tát hay thần hộ pháp.
Tụng Chú Đại Bi có công năng gì
Theo kinh số 1060, người thành tâm trì chú được mười lăm điều sinh tốt lành, không chịu mười lăm cách chết dữ, và kinh chép lời nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm rằng người trì chú mà không được sinh về cõi Phật thì ngài không thành Chánh Giác. Kinh cũng dạy nhiều phép dùng chú trên thuốc và nước với số biến bảy, hai mươi mốt, một trăm lẻ tám. Tín đồ tin rằng trì chú với lòng thành thì được che chở và lòng được an. Kinh đặt điều kiện là tâm từ bi và chí thành. Thư viện thuật lại niềm tin ấy, không xác nhận thay quý vị bất cứ hiệu nghiệm nào.
Vì sao chùa tụng âm mà không tụng bản dịch Chú Đại Bi
Có ba lý do thường được nêu. Truyền thống dịch kinh từ ngài Huyền Trang xếp đà la ni vào loại giữ nguyên âm không dịch nghĩa, vì cho rằng sức của chú gắn với âm. Nhiều câu không dịch được chắc chắn, vì bản Phạn gốc không còn và các bản dựng lại khác nhau. Và một chuỗi âm cố định giúp cả đại chúng tụng chung một nhịp, đời này qua đời khác không đổi.