Bước qua tam quan vào sân chùa, việc đầu tiên quý vị nhận ra là một ngọn núi. Không phải núi thật mà là một khối núi giả cao ngang mấy tầng nhà, phủ cây xanh, giữa lòng núi mở ra một cái hang. Trong hang, một pho tượng đá đỏ đứng lặng, đầu tượng xếp nhiều tầng mặt. Người đứng dưới chân chỉ thấy được mấy mặt phía trước, phải lên tầng trên mới thấy trọn.
Đây là Tổ đình Quán Thế Âm ở Phú Nhuận, ngôi chùa Bắc Tông dòng Lâm Tế lập năm 1920 để thờ Bồ Tát Quán Thế Âm, cũng là ngôi chùa cuối cùng mà Hòa thượng Thích Quảng Đức trụ trì từ cuối năm 1959 tới năm 1963. Chùa buổi đầu nhỏ, được dựng lại kiên cố từ năm 1966 dưới thời Hòa thượng Thích Thông Bửu, và pho tượng trong hang núi giả An Lạc sơn là tượng Quán Thế Âm thập nhất diện, tức mười một mặt, tạc bằng đá hồng hoa cương nguyên khối.

IBồ Tát Quán Thế Âm và hình tượng mười một mặt
Tên chùa cũng là tên vị Bồ Tát được thờ. Quán là nhìn, là lắng nghe bằng cả tâm. Thế âm là tiếng của cõi đời, tức tiếng kêu khổ của chúng sinh. Quán Thế Âm là vị Bồ Tát lắng nghe tiếng kêu của đời để cứu độ. Tên Sanskrit của ngài là Avalokiteshvara. Người Việt quen gọi gọn là Quan Âm hay Quán Âm. Chữ Hán ở đầu trang chép theo tên ghi trong bảng dữ kiện của thư viện, chúng tôi chưa đối chiếu với biển chùa.
Ngôi chùa ra đời để thờ chính vị Bồ Tát này, nên từ tên gọi tới pho tượng trong hang núi giả, trục thờ tự ở đây xoay quanh hạnh nguyện cứu khổ của Quán Thế Âm bên cạnh điện Phật Thích Ca và không gian tưởng niệm chư tổ trụ trì.
Theo giáo nghĩa Phật Giáo Bắc Tông, hạnh nguyện của Quán Thế Âm được nói rõ nhất trong phẩm Phổ Môn của kinh Pháp Hoa. Kinh dạy rằng ai gặp nạn mà nhất tâm niệm danh hiệu ngài thì ngài nghe tiếng mà đến, và ngài hiện ra trong ba mươi ba thân khác nhau tùy người cần độ. Ý của kinh không chỉ dừng ở sự cầu cứu khi hữu sự, mà hướng người niệm danh hiệu học lấy chính lòng từ bi không bỏ sót ai của vị Bồ Tát.
Hình tượng thập nhất diện, mười một mặt, là một trong những cách diễn tả hạnh nguyện ấy. Theo cách giải thường gặp, các mặt xếp thành tầng trên đầu tượng, mặt trên cùng là mặt Phật, những mặt còn lại nhìn ra các hướng, tượng trưng cho việc Bồ Tát thấu suốt nỗi khổ ở mọi phương. Trong truyền thống Tây Tạng có truyện kể rằng đầu ngài vỡ ra vì thương xót chúng sinh quá nhiều, và Đức Phật A Di Đà gom các mảnh lại thành mười một mặt. Đây là truyện kể biểu trưng trong truyền thống tôn giáo, không phải sử liệu.
Người Việt quen gọi Phật Bà Quan Âm và nhiều người hiểu ngài là một vị Phật nữ. Có hai chỗ cần phân biệt. Thứ nhất, Quán Thế Âm là một vị Bồ Tát, bậc đã phát nguyện ở lại cứu độ chúng sinh, chứ không phải một vị Phật lịch sử. Thứ hai, trong kinh điển Ấn Độ ngài mang thân nam hoặc vượt lên tướng nam nữ, còn dáng người nữ hiền từ mặc áo trắng là hình tượng phát triển về sau ở Đông Á. Pho tượng mười một mặt ở đây theo lối tạo hình thập nhất diện cổ, khác với dáng Quan Âm áo trắng thường gặp, nên người lần đầu thấy thường chú ý.
IITừ ngôi chùa nhỏ năm 1920 tới chốn tổ Lâm Tế
Thanh Niên, Giác Ngộ Online và Chốn Thiêng cùng ghi chùa được lập năm 1920. Buổi đầu chùa nhỏ và từng bị hư hại qua thời gian. Cuối năm 1959, Hòa thượng Thích Quảng Đức (thế danh Nguyễn Văn Khiết, 1897 tới 1963, quê ở Vạn Ninh, Khánh Hòa) được ông bà Lý Văn Lang thỉnh về làm trụ trì. Trong những năm 1960 tới 1961, ngài tổ chức trùng tu lại ngôi chùa. Theo tư liệu trên Chốn Thiêng, trên bước đường hành đạo Hòa thượng đã kiến tạo và trùng tu 14 ngôi chùa ở miền Trung cùng 17 ngôi chùa ở miền Nam, và chùa Quán Thế Âm là ngôi chùa thứ 31, cũng là trú xứ cuối cùng trước khi ngài vị pháp thiêu thân ngày 11 tháng 6 năm 1963 (nhằm ngày 20 tháng 4 nhuần năm Quý Mão).
Đến năm 1966, ông bà Lý Văn Lang chính thức làm giấy hiến cúng ngôi chùa qua Hòa thượng Thích Thông Bửu (1935 tới 2007), trưởng tử kế thừa của Hòa thượng Thích Quảng Đức. Hòa thượng Thích Thông Bửu thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 43, đã chủ trì các đợt đại trùng tu trên khu đất khoảng 1.000 mét vuông để tạo nên diện mạo kiên cố của tổ đình hôm nay. Bài kệ đặt pháp danh cụ thể của chùa thì chúng tôi chưa tra được có nguồn, nên không ghi.
Về người lập chùa năm 1920, nguồn ghi nhận câu chuyện truyền lại ở chùa. Theo Giác Ngộ Online và tư liệu của Võ Văn Tường trên Chốn Thiêng, chùa do một nhóm sĩ quan và binh lính thuộc binh chủng lính thủy, gồm cả người Việt và người Pháp, lập nên để tạ ơn Bồ Tát Quán Thế Âm sau một lần tàu bị bắn thủng trên biển, thượng sĩ Dương Phong Quang cùng mọi người trên tàu nhất tâm niệm danh hiệu Bồ Tát mà thoát nạn. Khi vào đất liền, họ góp tiền mua đất dựng chùa và lập hội lính thủy (tiếng Pháp là matelot), nên dân quanh vùng từng gọi là chùa Mạch Lô (hay Manh Lô), về sau gọi thêm là chùa Bạch Lô (mũ trắng, vì cả tượng Bồ Tát và lính thủy đều đội mũ trắng). Một bài khác nhắc tới việc người dân địa phương góp sức lập chùa. Thư viện ghi lại đầy đủ tích truyện này đúng như một lời kể gắn với tên gọi dân gian của chùa.
Về năm tạo tác và an vị pho tượng Quán Thế Âm thập nhất diện, các nguồn ghi lệch nhau. Tư liệu của Võ Văn Tường trên Chốn Thiêng và một số báo ghi ngọn giả sơn An Lạc sơn dựng năm 1972, còn pho tượng Quán Thế Âm 11 mặt do điêu khắc gia Lý Dũng cùng nhóm thợ tạc tròn một năm và được an vị tại động An Lạc sơn vào năm 1994. Trong khi đó, một số bài giới thiệu khác ghi pho tượng được tạo vào năm 1983. Thư viện chép rõ cả hai mốc 1983 và 1994 theo từng nguồn.
- 1920Lập chùaChùa được lập để thờ Bồ Tát Quán Thế Âm, dân gian từng gọi là chùa Mạch Lô hay Bạch Lô theo tích nhóm lính thủy thoát nạn trên biển.
- 1959 tới 1963Hòa thượng Thích Quảng Đức trụ trìCuối năm 1959 ông bà Lý Văn Lang thỉnh Hòa thượng Thích Quảng Đức về trụ trì. Ngài trùng tu chùa trong các năm 1960 tới 1961 trước khi vị pháp thiêu thân ngày 11 tháng 6 năm 1963.
- 1966 tới 1972Đại trùng tu và đắp núi giả An Lạc sơnHòa thượng Thích Thông Bửu kế thừa trụ trì, năm 1966 xây nhà tăng ba tầng, năm 1969 xây giảng đường và khởi công chánh điện, năm 1971 xây phòng lưu niệm, năm 1972 đắp núi giả An Lạc sơn cao hơn 20 mét.
- 1983 hoặc 1994Tượng Quán Thế Âm thập nhất diệnTượng Quán Thế Âm mười một mặt bằng đá hồng hoa cương do điêu khắc gia Lý Dũng thực hiện đặt trong động An Lạc sơn. Nguồn ghi vênh giữa năm tạo 1983 và năm an vị 1994.
- 1993 tới 2000Bảo tháp Lửa Từ Bi và tượng đồng Phật Thích CaNăm 1993 khánh thành bảo tháp Lửa Từ Bi (tượng đồng Hòa thượng Thích Quảng Đức đúc năm 1999). Đêm giao thừa năm 1999 sang 2000 đúc tượng đồng Đức Phật Thích Ca nặng 4 tấn tại chánh điện.
- 2015Xếp hạng di tích cấp thành phốỦy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 3086/QĐ-UBND ngày 25 tháng 6 năm 2015 công nhận tổ đình là di tích lịch sử cấp thành phố.
IIINhà nhiều tầng, núi giả và hang tượng
Theo Giác Ngộ Online và Chốn Thiêng, trên khu đất khoảng 1.000 mét vuông, chùa được bố trí thành khối nhà nhiều tầng gồm tam quan, chánh điện, giảng đường, nhà tăng ba tầng và phòng lưu niệm, kết hợp với ngọn núi giả An Lạc sơn (còn gọi là núi Phổ Đà) cao hơn 20 mét và ngôi bảo tháp chánh điện hình bát giác bảy tầng cao 28 mét. Lối xây chồng tầng là lời giải quen của chùa phố trên khuôn đất hẹp khi không mở rộng được theo chiều ngang thì vươn lên theo chiều cao. Phần lớn công trình kiến trúc hiện nay hình thành từ các đợt xây dựng bắt đầu năm 1966.
Núi giả cao hơn 20 mét dựng năm 1972 bằng hơn 3.000 bao xi măng theo Chốn Thiêng, phủ cây xanh, giữa lòng núi mở động thờ Bồ Tát Quán Thế Âm.
Tạc bằng đá hồng hoa cương nguyên khối, cao 3,2 mét, nặng 5 tấn, do điêu khắc gia Lý Dũng cùng nhóm thợ thực hiện, đặt trong động An Lạc sơn.
Khối chánh điện và giảng đường khởi dựng từ năm 1969, có bảo tháp bát giác 7 tầng cao 28 mét, trên đỉnh tháp đặt bàn tay Pháp Ấn cao 2 mét.
Cao 2,8 mét, nặng 4 tấn, đặt trên tòa sen đồng cao 0,7 mét nặng 1,1 tấn, tay kiết ấn Xuất Địa, do điêu khắc gia Thụy Lam tạo mẫu và nghệ nhân Nguyễn Văn Kim đúc đêm giao thừa năm 1999 sang 2000.
Phòng lưu niệm dựng năm 1971 và bảo tháp Lửa Từ Bi khánh thành năm 1993, nơi tôn trí tượng đồng Hòa thượng Thích Quảng Đức cao 1,82 mét nặng 1 tấn đúc năm 1999 cùng các kỷ vật của ngài.
Đặt tượng Quán Âm trong lòng núi không phải lựa chọn ngẫu nhiên. Theo kinh Hoa Nghiêm, nơi Bồ Tát Quán Thế Âm ngự là núi Potalaka, người Việt đọc là Phổ Đà hay Bổ Đà Lạc Ca, một ngọn núi bên biển. Nhiều chùa Bắc Tông dựng hòn non bộ hay núi giả để gợi cảnh ấy, và chính Giác Ngộ Online cũng gọi ngọn núi giả ở đây là núi Phổ Đà bên cạnh tên An Lạc sơn. Ở đây núi được đắp cao hơn 20 mét, và pho tượng đá hoa cương đỏ được đặt vào trong động giữa cây xanh, như Bồ Tát đang ngự trong núi của mình.
Cách xem tượng cũng đáng chú ý. Người vào lễ đứng ở tầng trệt nhìn lên chỉ thấy thân tượng và gương mặt chính phía trước. Lên tầng lầu, các tầng mặt nhỏ xếp trên đầu tượng mới hiện ra trọn vẹn. Lối đi hai tầng ấy biến việc chiêm bái thành một chặng bước từ thấp lên cao, từ thấy một phần tới thấy đủ mười một diện tướng.
Nhiều bài viết gọi đây là ngôi chùa hơn một trăm năm tuổi, và điều ấy đúng nếu tính từ mốc lập chùa năm 1920. Nhưng tuổi của chùa khác với tuổi của công trình hiện hữu. Các nguồn cùng ghi ngôi chùa buổi đầu nhỏ, qua đợt trùng tu năm 1960 tới 1961 rồi được xây mới kiên cố từ năm 1966 trở đi. Từ khối nhà nhiều tầng, ngọn giả sơn năm 1972, bảo tháp năm 1993 cho tới pho tượng đồng đúc năm 2000 đều thuộc giai đoạn kiến thiết về sau, nên người tìm dấu vết kiến trúc cổ đầu thế kỷ 20 sẽ không thấy nhiều.
IVThế đất và hướng
Đoạn này là kiến giải của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều chép trong văn bản của chùa. Chùa nằm giữa khu dân cư Phú Nhuận, trên đất bằng, không núi không sông lớn, mặt tiền quay về hướng tây nam nhìn ra đường Thích Quảng Đức theo tư liệu trên Chốn Thiêng. Điều đáng đọc ở đây vì thế không nằm ở địa hình tự nhiên mà ở chỗ con người đã tự dựng lấy một thế sơn thủy ngay trong khuôn viên.
Trong phép xem đất, một nơi thờ tự đẹp cần có sơn làm chỗ tựa và thủy làm chỗ tụ. Đất Phú Nhuận không cho sẵn núi. Ngọn An Lạc sơn cao hơn 20 mét, vì vậy, có thể đọc như một lời đáp của người dựng chùa cho cái thiếu ấy, khi không có núi tự nhiên thì đắp núi nhân tạo. Lối làm này có gốc lâu đời trong sân vườn Việt, nơi hòn non bộ đặt giữa bể nước là cả một cảnh sơn thủy thu nhỏ.
Chỗ đặt tượng trong núi cũng hợp với lối nghĩ cổ truyền. Hang là chỗ tàng khí, nơi khí được cất giữ chứ không phơi ra. Đặt pho tượng chính vào lòng hang, chứ không đặt giữa sân trống, là đặt nó vào chỗ kín và tĩnh nhất của khuôn viên, dù bốn bề là phố.
Việc xây nhà nhiều tầng quanh núi giả cũng tạo một thế khép. Khối nhà ôm lấy khoảng sân và ngọn núi, giữ cho bên trong một lòng riêng, tách khỏi nhịp đường phố bên ngoài. Trong đô thị, đó là cách gần nhất để có được cái mà sách phong thủy gọi là tàng phong tụ khí, giấu gió và giữ khí.
Cuối cùng, cách đây chừng 820 mét là Tịnh xá Trung Tâm, ngôi tịnh xá của Hệ phái Khất Sĩ dựng năm 1965. Hai nơi gần nhau nhưng khác truyền thống, một bên là chùa Bắc Tông dòng Lâm Tế, một bên theo nếp khất sĩ, mỗi nơi xử lý đất đô thị theo cách của mình.
VBa ngày vía Quán Âm và lễ trong năm
Với một ngôi chùa lấy hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, những ngày lễ lớn trong năm là ba ngày vía của ngài cùng ngày lễ tưởng niệm Hòa thượng Thích Quảng Đức (20 tháng 4 âm lịch) theo nếp Phật Giáo Bắc Tông Việt Nam. Bảng dưới đây ghi các ngày lễ chính tính theo âm lịch.
| Ngày âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| 19 tháng 2 | Vía Quán Âm đản sanh | Ngày kỷ niệm Bồ Tát Quán Thế Âm đản sanh theo nếp Bắc Tông, Phật tử về chùa lễ bái và tụng phẩm Phổ Môn. |
| Rằm tháng 4 | Phật Đản | Lễ mừng ngày Đức Phật đản sinh, có nghi thức tắm Phật. |
| 20 tháng 4 | Lễ tưởng niệm Bồ Tát Thích Quảng Đức | Tưởng niệm ngày Hòa thượng Thích Quảng Đức, vị trụ trì của chùa giai đoạn 1959 tới 1963, vị pháp thiêu thân năm Quý Mão (1963). |
| 19 tháng 6 | Vía Quán Âm thành đạo | Ngày kỷ niệm Bồ Tát thành đạo theo nếp Bắc Tông. |
| Rằm tháng 7 | Vu Lan | Lễ báo hiếu cha mẹ, cũng là ngày tự tứ kết thúc mùa an cư. |
| 19 tháng 9 | Vía Quán Âm xuất gia | Ngày kỷ niệm Bồ Tát xuất gia theo nếp Bắc Tông. |
Ba ngày vía mười chín tháng hai, tháng sáu, tháng chín là nếp riêng của Phật Giáo Đông Á, gắn với truyện tích Quán Âm được lưu truyền ở Trung Hoa và Việt Nam, không có trong kinh điển Ấn Độ. Người đi lễ ngày ấy thường tụng phẩm Phổ Môn, và ở một ngôi chùa có pho tượng mười một mặt trong lòng núi, phẩm kinh ấy có một hình ảnh trực quan để chiêm nghiệm.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Số 90 đường Thích Quảng Đức, phường Đức Nhuận (phường 5 quận Phú Nhuận cũ), Thành phố Hồ Chí Minh
- Đường tới
- Chùa ở số 90 đường Thích Quảng Đức, phường Đức Nhuận (phường 5 quận Phú Nhuận cũ), Thành phố Hồ Chí Minh. Tịnh xá Trung Tâm ở cách chừng 820 mét.
- Toạ độ
- 10.8057, 106.6823
Tổ đình Quán Thế Âm là chùa có tăng chúng tu học, lệ của nhà chùa là lệ phải theo. Quý vị nên ăn mặc kín đáo, bỏ mũ và cởi giày dép trước khi vào chánh điện và phòng lưu niệm. Lối lên xem tượng trong hang đi qua hai tầng, xin đi theo lối sẵn có, không trèo lên núi giả, không chạm tay vào tượng đá. Vào các ngày vía Quán Âm, chùa thường đông người, xin nhường lối cho người đang lễ.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tổ đình Quán Thế Âm
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Tổ đình Quán Thế Âm Phú Nhuận ở đâu
Chùa ở số 90 đường Thích Quảng Đức, phường Đức Nhuận, tức phường 5 quận Phú Nhuận cũ, Thành phố Hồ Chí Minh, mặt tiền quay hướng tây nam. Từ ngoài đường bước qua tam quan vào sân là thấy ngọn núi giả An Lạc sơn và khối chánh điện nhiều tầng.
Chùa Quán Thế Âm được xây năm nào và gắn với vị cao tăng nào
Chùa được lập năm 1920, dân gian từng gọi là chùa Mạch Lô hay Bạch Lô. Cuối năm 1959, Hòa thượng Thích Quảng Đức về làm trụ trì, trùng tu chùa trong các năm 1960 tới 1961 trước khi vị pháp thiêu thân ngày 11 tháng 6 năm 1963. Từ năm 1966, Hòa thượng Thích Thông Bửu kế thừa trụ trì và xây dựng lại chùa kiên cố như hiện nay.
Tượng Quán Âm mười một mặt ở chùa làm bằng gì và tạo năm nào
Tượng tạc bằng đá hồng hoa cương nguyên khối, cao 3,2 mét, nặng 5 tấn, đặt trong hang núi giả An Lạc sơn dựng năm 1972. Tư liệu trên Chốn Thiêng ghi tượng do điêu khắc gia Lý Dũng thực hiện trong một năm và an vị năm 1994, trong khi một số bài giới thiệu khác ghi năm tạo tượng là 1983.
Tổ đình Quán Thế Âm thuộc tông phái nào
Chùa thuộc Phật Giáo Bắc Tông, dòng Lâm Tế. Hòa thượng Thích Thông Bửu (1935 tới 2007), vị trụ trì chủ trì các đợt xây dựng từ năm 1966, thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 43. Chùa được xếp hạng di tích lịch sử cấp thành phố theo Quyết định số 3086/QĐ-UBND ngày 25 tháng 6 năm 2015.
Ngày vía Quán Thế Âm là ngày nào
Theo nếp Phật Giáo Bắc Tông Việt Nam, có ba ngày vía Quán Âm trong năm tính theo âm lịch, gồm 19 tháng 2 là vía đản sanh, 19 tháng 6 là vía thành đạo và 19 tháng 9 là vía xuất gia. Ngoài ra ngày 20 tháng 4 âm lịch hằng năm là lễ tưởng niệm Hòa thượng Thích Quảng Đức.