Bước qua tam quan vào sân chùa, việc đầu tiên quý vị nhận ra là một ngọn núi. Không phải núi thật mà là một khối núi giả cao ngang mấy tầng nhà, phủ cây xanh, giữa lòng núi mở ra một cái hang. Trong hang, một pho tượng đá đỏ đứng lặng, đầu tượng xếp nhiều tầng mặt. Người đứng dưới chân chỉ thấy được mấy mặt phía trước, phải lên tầng trên mới thấy trọn.
Đây là Tổ đình Quán Thế Âm ở Phú Nhuận, ngôi chùa Bắc Tông dòng Lâm Tế lập năm 1920 để thờ Bồ Tát Quán Thế Âm. Chùa buổi đầu nhỏ, được dựng lại gần như toàn bộ từ cuối thập niên 1960, và pho tượng trong hang là tượng Quán Thế Âm thập nhất diện, tức mười một mặt, tạc bằng đá hoa cương đỏ năm 1983.
IBồ Tát Quán Thế Âm Và Hình Tượng Mười Một Mặt
Tên chùa cũng là tên vị Bồ Tát được thờ. Quán là nhìn, là lắng nghe bằng cả tâm. Thế âm là tiếng của cõi đời, tức tiếng kêu khổ của chúng sinh. Quán Thế Âm là vị Bồ Tát lắng nghe tiếng kêu của đời để cứu độ. Tên Sanskrit của ngài là Avalokiteshvara. Người Việt quen gọi gọn là Quan Âm hay Quán Âm. Chữ Hán ở đầu trang chép theo tên ghi trong bảng dữ kiện của thư viện, chúng tôi chưa đối chiếu với biển chùa.
Ngôi chùa ra đời để thờ chính vị Bồ Tát này, nên từ tên gọi tới pho tượng trung tâm, mọi thứ ở đây đều xoay quanh Quán Thế Âm chứ không xoay quanh một vị tổ khai sơn.
Theo giáo nghĩa Phật Giáo Bắc Tông, hạnh nguyện của Quán Thế Âm được nói rõ nhất trong phẩm Phổ Môn của kinh Pháp Hoa: ai gặp nạn mà nhất tâm niệm danh hiệu ngài thì ngài nghe tiếng mà đến, và ngài hiện ra trong ba mươi ba thân khác nhau tùy người cần độ. Ý của kinh không phải là cầu xin cho được, mà là lòng từ bi không bỏ sót ai, và người niệm danh hiệu thì học lấy chính lòng từ ấy.
Hình tượng thập nhất diện, mười một mặt, là một trong những cách diễn tả hạnh nguyện ấy. Theo cách giải thường gặp, các mặt xếp thành tầng trên đầu tượng, mặt trên cùng là mặt Phật, những mặt còn lại nhìn ra các hướng, tượng cho việc Bồ Tát thấy nỗi khổ ở mọi phương. Trong truyền thống Tây Tạng có truyện kể rằng đầu ngài vỡ ra vì thương xót chúng sinh quá nhiều, và Đức A Di Đà gom các mảnh lại thành mười một mặt. Đây là truyện kể trong truyền thống tôn giáo, không phải sử liệu.
Người Việt quen gọi Phật Bà Quan Âm và nhiều người hiểu ngài là một vị Phật nữ. Có hai chỗ cần phân biệt. Thứ nhất, Quán Thế Âm là một vị Bồ Tát, bậc đã phát nguyện ở lại cứu độ chúng sinh, chứ không phải một vị Phật. Thứ hai, trong kinh ngài không được định là nam hay nữ, còn dáng người nữ hiền từ quen thuộc là hình tượng phát triển về sau ở Đông Á. Pho tượng mười một mặt ở đây theo một lối tạc khác với dáng Quan Âm áo trắng quen thuộc, nên người lần đầu thấy thường ngạc nhiên.
IITừ Ngôi Chùa Nhỏ Năm 1920
Thanh Niên và Giác Ngộ Online cùng ghi chùa được lập năm 1920. Chùa không có tổ khai sơn là một vị sư cụ thể, và về người lập chùa thì có hai cách kể, trình bày ở hộp dưới đây. Buổi đầu chùa nhỏ, có lúc xuống cấp. Hòa thượng Thích Quảng Đức từng trụ trì ở đây.
Diện mạo chùa hôm nay gắn với Hòa thượng Thích Thông Bửu (1935 tới 2007), vị trụ trì chủ trì các đợt xây dựng từ năm 1966. Theo trang Phật Giáo Việt Nam, ngài thuộc Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 43. Chùa vì thế thuộc Phật Giáo Bắc Tông, dòng Lâm Tế, và được gọi là tổ đình. Bài kệ đặt pháp danh cụ thể của chùa thì chúng tôi chưa tra được có nguồn, nên không ghi.
Về người lập chùa, nguồn không thống nhất. Theo lời kể mà Thanh Niên và một bài của Giác Ngộ Online ghi lại, chùa do một nhóm sĩ quan ngành hải quân, cả người Việt lẫn người Pháp, lập năm 1920 để thờ Bồ Tát Quán Thế Âm sau khi thoát nạn trên biển. Một bài khác của Giác Ngộ Online ghi chùa do người dân địa phương lập. Chúng tôi chưa thấy văn bản gốc nào như bia hay sổ bộ để chọn một bên, nên ghi cả hai, và gọi cách kể thứ nhất đúng như nó là: một lời kể.
Hai cách kể không hẳn loại trừ nhau. Câu chuyện người đi biển thoát nạn rồi lập chùa thờ Quán Âm là mẫu chuyện quen ở nhiều nơi ven biển Á Đông, vì trong phẩm Phổ Môn, gặp nạn sóng gió là một trong những nạn được kể tên. Chính sự quen thuộc ấy là lý do nên đọc nó với chút dè dặt.
- 1920Lập chùaChùa được lập để thờ Bồ Tát Quán Thế Âm, theo Thanh Niên và Giác Ngộ Online. Nguồn vênh về người lập.
- 1966Đặt đá trùng tuHòa thượng Thích Thông Bửu chủ trì lễ đặt đá, mở đầu việc dựng lại chùa theo diện mạo mới.
- 1969Khởi công chánh điệnChánh điện mới được khởi công, theo trang Phật Giáo Việt Nam.
- 1983Tạo tượng Quán Âm thập nhất diệnPho tượng Quán Thế Âm mười một mặt bằng đá hoa cương đỏ được tạo và đặt trong hang núi giả.
- 2000Đúc tượng đồng Đức Phật Thích CaPho tượng đồng nặng chừng 4 tấn được đúc, theo trang Phật Giáo Việt Nam.
- 2015Xếp hạng di tích cấp thành phốỦy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ký Quyết định 3086 ngày 25 tháng 6 năm 2015, xếp hạng chùa là di tích lịch sử cấp thành phố.
IIINhà Hai Tầng, Núi Giả Và Hang Tượng
Theo Giác Ngộ Online, chùa là một khối nhà hai tầng gồm tam quan, chánh điện và giảng đường, cùng một ngọn núi giả tên An Lạc sơn cao chừng 20 mét. Lối bố trí hai tầng là lời giải quen của chùa phố trên khuôn đất hẹp: không mở được theo chiều ngang thì mở theo chiều cao. Phần lớn công trình quý vị thấy hôm nay có từ các đợt xây dựng bắt đầu năm 1966, không phải từ năm 1920.
Núi giả cao chừng 20 mét theo Giác Ngộ Online, phủ cây xanh, giữa núi mở một hang đặt tượng Quán Âm. Tên núi nghĩa là núi an vui.
Đá hoa cương đỏ, cao chừng 3,2 mét, nặng 5 tấn, tạo năm 1983, theo Thanh Niên và trang Phật Giáo Việt Nam.
Tượng đặt trong động giữa cây xanh, xem được từ tầng trệt rồi lên tầng một mới thấy trọn các mặt tượng.
Nặng chừng 4 tấn, đúc năm 2000, theo trang Phật Giáo Việt Nam.
Chánh điện khởi công năm 1969, cùng giảng đường nằm trong khối nhà hai tầng của chùa.
Đặt tượng Quán Âm trong lòng núi không phải lựa chọn ngẫu nhiên. Theo kinh Hoa Nghiêm, nơi Bồ Tát Quán Thế Âm ngự là núi Potalaka, người Việt đọc là Phổ Đà hay Bổ Đà Lạc Ca, một ngọn núi bên biển. Nhiều chùa Bắc Tông dựng hòn non bộ hay núi giả để gợi cảnh ấy. Ở đây núi được làm lớn, và pho tượng được đặt vào trong, như Bồ Tát đang ở giữa núi của mình. Đó là cách đọc của chúng tôi dựa trên kinh điển, nguồn về chùa không ghi ý người dựng.
Cách xem tượng cũng đáng nói. Người vào lễ đứng ở tầng trệt nhìn lên, thấy dáng tượng và mấy mặt phía trước. Lên tầng một, các tầng mặt trên đầu tượng mới hiện ra đủ. Lối đi hai tầng ấy biến việc chiêm bái thành một chặng đi, từ thấp lên cao, từ thấy một phần tới thấy trọn.
Nhiều bài viết gọi đây là ngôi chùa hơn một trăm năm tuổi, và điều ấy đúng nếu tính từ năm lập chùa 1920. Nhưng tuổi của chùa khác tuổi của công trình. Các nguồn cùng ghi chùa buổi đầu nhỏ, và phần lớn những gì quý vị thấy, từ khối nhà hai tầng, chánh điện, núi giả cho tới hai pho tượng lớn, đều được dựng hoặc tạo từ năm 1966 trở đi. Người tìm dấu kiến trúc đầu thế kỷ 20 ở đây sẽ không thấy nhiều.
IVThế Đất Và Hướng
Đoạn này là kiến giải của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều chép trong văn bản của chùa. Chùa nằm giữa khu dân cư Phú Nhuận, trên đất bằng, không núi không sông lớn, và các nguồn chúng tôi đọc không ghi hướng chánh điện. Điều đáng đọc ở đây vì thế không nằm ở thế đất tự nhiên mà ở chỗ con người đã tự dựng lấy một thế đất.
Trong phép xem đất, một nơi thờ tự đẹp cần có sơn làm chỗ tựa và thủy làm chỗ tụ. Đất Phú Nhuận không cho sẵn núi. Ngọn An Lạc sơn cao chừng 20 mét, vì vậy, có thể đọc như một lời đáp của người dựng chùa cho cái thiếu ấy: không có núi thì đắp núi. Lối làm này có gốc lâu đời trong sân vườn Việt, nơi hòn non bộ đặt giữa bể nước là cả một cảnh sơn thủy thu nhỏ.
Chỗ đặt tượng trong núi cũng hợp với lối nghĩ cổ truyền. Hang là chỗ tàng khí, nơi khí được cất giữ chứ không phơi ra. Đặt pho tượng chính vào lòng hang, chứ không đặt giữa sân trống, là đặt nó vào chỗ kín và tĩnh nhất của khuôn viên, dù bốn bề là phố.
Việc xây nhà hai tầng quanh núi giả cũng tạo một thế khép. Khối nhà ôm lấy khoảng sân và ngọn núi, giữ cho bên trong một lòng riêng, tách khỏi nhịp đường phố bên ngoài. Trong đô thị, đó là cách gần nhất để có được cái mà sách phong thủy gọi là tàng phong tụ khí, giấu gió và giữ khí.
Cuối cùng, cách đây chừng 820 mét là Tịnh xá Trung Tâm, ngôi tịnh xá của Hệ phái Khất Sĩ dựng năm 1965. Hai nơi gần nhau nhưng khác truyền thống, một bên là chùa Bắc Tông dòng Lâm Tế, một bên theo nếp khất sĩ, mỗi nơi xử lý đất đô thị theo cách của mình.
VBa Ngày Vía Quán Âm Và Lễ Trong Năm
Với một ngôi chùa lấy tên Bồ Tát Quán Thế Âm, những ngày quan trọng nhất trong năm là ba ngày vía của ngài theo nếp chung của Phật Giáo Bắc Tông Việt Nam. Chúng tôi không tra được lịch lễ riêng của chùa có nguồn, nên bảng dưới đây ghi các ngày theo nếp chung, tính theo âm lịch.
| Ngày âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| 19 tháng 2 | Vía Quán Âm đản sanh | Ngày kỷ niệm Bồ Tát Quán Thế Âm đản sanh theo nếp Bắc Tông, có tụng phẩm Phổ Môn. |
| Rằm tháng 4 | Phật Đản | Lễ mừng ngày Đức Phật đản sinh, có nghi thức tắm Phật. |
| 19 tháng 6 | Vía Quán Âm thành đạo | Ngày kỷ niệm Bồ Tát thành đạo theo nếp Bắc Tông. |
| Rằm tháng 7 | Vu Lan | Lễ báo hiếu cha mẹ, cũng là ngày tự tứ kết thúc mùa an cư. |
| 19 tháng 9 | Vía Quán Âm xuất gia | Ngày kỷ niệm Bồ Tát xuất gia theo nếp Bắc Tông. |
Ba ngày vía mười chín tháng hai, tháng sáu, tháng chín là nếp riêng của Phật Giáo Đông Á, gắn với truyện tích Quán Âm được kể ở Trung Hoa và Việt Nam, không có trong kinh điển Ấn Độ. Người đi lễ ngày ấy thường tụng phẩm Phổ Môn, và ở một ngôi chùa có pho tượng mười một mặt trong lòng núi, phẩm kinh ấy có một hình ảnh để nhìn vào.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Số 90 đường Thích Quảng Đức, phường Đức Nhuận (phường 5 quận Phú Nhuận cũ), Thành phố Hồ Chí Minh
- Đường tới
- Chùa ở số 90 đường Thích Quảng Đức, phường Đức Nhuận (phường 5 quận Phú Nhuận cũ), Thành phố Hồ Chí Minh. Tịnh xá Trung Tâm ở cách chừng 820 mét.
- Toạ độ
- 10.8057, 106.6823
Tổ đình Quán Thế Âm là chùa có tăng chúng tu học, lệ của nhà chùa là lệ phải theo. Quý vị nên ăn mặc kín đáo, bỏ mũ và cởi giày dép trước khi vào chánh điện. Lối lên xem tượng trong hang đi qua hai tầng, xin đi theo lối sẵn có, không trèo lên núi giả, không chạm tay vào tượng đá. Vào các ngày vía Quán Âm, chùa thờ Quán Âm thường đông người, xin nhường lối cho người đang lễ.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tổ đình Quán Thế Âm
Contribute photos, information or video for Quan The Am PagodaThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Quán Thế Âm Phú Nhuận ở đâu
Chùa ở phường Đức Nhuận, tức phường 5 quận Phú Nhuận cũ, Thành phố Hồ Chí Minh, giữa khu dân cư. Số nhà và tên đường ghi ở phần đường tới cuối trang. Từ ngoài đường đã thấy tam quan, vào sân là thấy ngọn núi giả An Lạc sơn.
Chùa Quán Thế Âm được xây năm nào
Chùa được lập năm 1920, theo Thanh Niên và Giác Ngộ Online. Buổi đầu chùa nhỏ. Diện mạo hôm nay có từ các đợt xây dựng bắt đầu năm 1966, chánh điện khởi công năm 1969, tượng Quán Âm mười một mặt tạo năm 1983, tượng đồng Đức Phật Thích Ca đúc năm 2000.
Tượng Quán Âm mười một mặt ở chùa Quán Thế Âm làm bằng gì
Tượng tạc bằng đá hoa cương đỏ, cao chừng 3,2 mét, nặng 5 tấn, tạo năm 1983, theo Thanh Niên và trang Phật Giáo Việt Nam. Tượng đặt trong hang của núi giả An Lạc sơn, xem từ tầng trệt rồi lên tầng một mới thấy trọn các mặt.
Chùa Quán Thế Âm thuộc tông phái nào
Chùa thuộc Phật Giáo Bắc Tông, dòng Lâm Tế. Hòa thượng Thích Thông Bửu, vị trụ trì chủ trì các đợt xây dựng từ năm 1966, thuộc Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 43 theo trang Phật Giáo Việt Nam. Chùa được gọi là tổ đình.
Ngày vía Quán Thế Âm là ngày nào
Theo nếp Phật Giáo Bắc Tông Việt Nam, có ba ngày vía Quán Âm trong năm, tính theo âm lịch: 19 tháng 2 là vía đản sanh, 19 tháng 6 là vía thành đạo, 19 tháng 9 là vía xuất gia. Các chùa thờ Quán Âm thường đông người vào ba ngày ấy.