ITrước Khi Đọc
Nếu Mul Mantar và Japji Sahib là những âm thanh đầu tiên mở ra bình minh của người Sikh vào giờ cam lộ tĩnh lặng trước khi mặt trời mọc, thì Ardas và Kirtan Sohila chính là hai nhịp cầu khép lại mọi khóa lễ cộng đồng và đưa tâm thức người tín đồ vào giấc ngủ bình an mỗi đêm. Trong bất kỳ ngôi đền gurdwara nào trên thế giới, khoảnh khắc toàn thể hội chúng từ cụ già tới em nhỏ đồng loạt đứng dậy, tháo giày, phủ khăn kín đầu, chắp hai bàn tay trước ngực và hướng mắt về tòa kinh Guru Granth Sahib để lắng nghe lời xướng Ardas luôn là giây phút trang nghiêm bậc nhất của Đạo Sikh.
Danh từ Ardas (ਅਰਦਾਸ) trong tiếng Punjabi bắt nguồn từ chữ Ba Tư arz-dasht, nghĩa gốc là bản tấu trình hay lời thỉnh nguyện dâng lên bậc quân vương, đồng thời cũng được giới học giả Sikh liên hệ với gốc tiếng Phạn ardati (cầu khẩn). Khác với phần lớn kinh văn cố định tuyệt đối tới từng dấu nguyên âm trong Guru Granth Sahib, Ardas là một văn bản phụng vụ vừa có phần gốc bất biến của Guru Gobind Singh vừa có phần thân tích hợp ký ức lịch sử sống động của cộng đồng Khalsa qua nhiều thế kỷ. Khi đọc Ardas, người Sikh không cầu xin một mình cho bản thân mình trước một đấng thần linh xa cách; họ tự đặt mình đứng sau lưng mười vị Guru, đứng cạnh năm người con yêu dấu (Panj Pyare), bốn người con trai tử đạo của Guru thứ mười (Char Sahibzade) và hàng vạn nam nữ tín đồ đã chịu cưa xẻ, lột da đầu để bảo vệ tự do tín ngưỡng, rồi từ điểm tựa ký ức ấy mới cất lời cầu xin một tinh thần vươn cao không bao giờ suy sụp (Chardi Kala) và phúc lành cho toàn thể nhân loại (Sarbat Da Bhala).
Đi liền với Ardas trong nếp sống cuối ngày là Kirtan Sohila (ਕੀਰਤਨ ਸੋਹਿਲਾ), thường gọi gọn là Sohila Sahib, bài kinh cuối cùng trong bộ kinh nhật tụng hàng ngày (Nitnem). Chữ sohila trong phương ngữ vùng Punjab xưa vừa có nghĩa là khúc ca ngợi khen, vừa chỉ những bài hát mừng vui vang lên trong đêm tiễn cô dâu về nhà chồng. Năm bài thơ ngắn của ba vị Guru nằm ở trang 12 và 13 của bộ Guru Granth Sahib đã mượn chính hình ảnh đám cưới thiêng liêng và vũ trụ dâng đèn ấy để dạy người đọc nhìn mỗi giấc ngủ ban đêm như một cuộc tập dượt nhẹ nhàng cho chuyến đi xa cuối đời, và nhìn cái chết không phải là vực thẳm kinh hoàng mà là ngày linh hồn về sum họp với Đấng Tạo Hóa.
Chuyên khảo này trình bày nguyên văn chữ Gurmukhi, phiên âm Latinh chuẩn quốc tế cùng bản dịch tiếng Việt và tiếng Anh của trọn mạch chính bài Ardas và các khổ cốt lõi của Kirtan Sohila. Tiếp theo là phần giải nghĩa chi tiết từng câu, khảo cứu văn bản học về sự tiến hóa của bài Ardas qua các biến cố lịch sử, phân tích cấu trúc âm nhạc Raga của năm bài Sohila và mô tả nghi thức tiễn kinh nghỉ đêm (Sukhasan) tại Đền Vàng Amritsar.
Xét về lịch sử văn bản, Kirtan Sohila thuộc lớp kinh điển cổ xưa và ổn định nhất của Đạo Sikh. Khi Guru Arjan Dev, vị Guru thứ năm, biên soạn bộ Adi Granth tại Amritsar vào năm 1604 (bản chép tay Kartarpur Bir do Bhai Gurdas chấp bút), ngài đã đặt một cụm kinh phụng vụ hàng ngày ngay ở phần mở đầu bộ kinh, trước khi đi vào ba mươi mốt chương chia theo điệu nhạc (Raga). Cụm mở đầu ấy gồm ba phần nối tiếp nhau từ trang 1 tới trang 13: bài Japu (Japji Sahib, trang 1 tới 8) đọc lúc rạng sáng, cụm So Dar và So Purakh (trang 8 tới 12) làm hạt nhân cho bài Rehras đọc lúc hoàng hôn, và cụm Sohila (trang 12 tới 13) gồm năm bài thơ ngắn đọc trước khi đi ngủ. Năm bài của Sohila gồm ba bài đầu của Guru Nanak (trong các điệu Raga Gauri Dipaki, Raga Asa và Raga Dhanasari), bài thứ tư của Guru Ram Das (Raga Gauri Purbi) và bài thứ năm của chính Guru Arjan (Raga Gauri Purbi).
Ngược lại, Ardas có một lịch sử hình thành nhiều tầng lớp rất độc đáo. Trong truyền thống sớm thời các vị Guru đầu tiên, tín đồ đến thưa chuyện hoặc dâng lời cầu nguyện bằng những câu thơ Gurbani tự chọn. Đến thời Guru Gobind Singh (vị Guru thứ mười, tại vị từ năm 1675 tới năm 1708), ngài sáng tác khổ thơ mở đầu của tác phẩm Chandi di Var (còn gọi là Var Sri Bhagauti Ji Ki, nằm trong bộ Dasam Granth), trong đó điểm danh lần lượt từ Guru Nanak tới vị Guru thứ chín là Guru Tegh Bahadur. Sau khi Guru Gobind Singh viên tịch năm 1708 và trao quyền Guru vĩnh cửu cho bộ kinh Guru Granth Sahib, cộng đồng Khalsa đã thêm câu tôn vinh vị Guru thứ mười và câu tôn vinh ánh sáng của mười vị Guru nơi Guru Granth Sahib, biến đoạn thơ này thành phần mở đầu bắt buộc không được phép thay đổi của mọi lời cầu nguyện Ardas.
Phần văn xuôi kế tiếp của Ardas được đúc kết qua các cuộc bức hại đẫm máu thế kỷ 18 dưới thời tổng trấn Mughal là Zakariya Khan, Yahya Khan và Mir Mannu, rồi qua phong trào cải cách Gurdwara đầu thế kỷ 20. Khi Ủy ban Quản trị Đền đài Sikh (SGPC) soạn thảo bộ quy tắc chung Sikh Rehat Maryada từ năm 1931 và phê chuẩn chính thức năm 1945, toàn văn bài Ardas được chuẩn hóa để dùng thống nhất trên toàn thế giới. Sau biến cố chia cắt Ấn Độ và Pakistan tháng 8 năm 1947 khiến nơi sinh của Guru Nanak là Nankana Sahib cùng nhiều đền thiêng nằm lại bên lãnh thổ Pakistan, SGPC đã chính thức bổ sung câu cầu nguyện xin được tự do chiêm bái và chăm sóc Nankana Sahib, và sau năm 1966 cập nhật cụm từ bốn tòa Takht thành năm tòa Takht khi Takht Sri Damdama Sahib tại Talwandi Sabo được công nhận đầy đủ.
IIVăn Bản Ardas Và Khổ Cốt Lõi Kirtan Sohila
Bảng bốn cột dưới đây chia làm hai phần liên hoàn đúng theo nhịp phụng vụ cuối ngày của người Sikh: từ mục 1 tới mục 13 là toàn bộ khung chuẩn của bài Ardas (mở bằng lời tuyên xưng chiến thắng của Waheguru, khổ Pauri đầu bài Chandi di Var, ba đoạn tưởng niệm lịch sử kèm tiếng đáp đồng thanh Waheguru của hội chúng, và phần cầu nguyện chung khép bằng câu Nanak Naam Chardi Kala, Tere Bhane Sarbat Da Bhala); từ mục 14 tới mục 19 là các khổ thơ tiêu biểu nhất của Kirtan Sohila tại trang 12 và 13 Guru Granth Sahib; mục 20 là lời chào Khalsa và tiếng hô kết lễ.
| Câu | Nguyên văn Gurmukhi | Phiên âm quốc tế | Tiếng Việt | Tiếng Anh |
|---|---|---|---|---|
| 1 | ੴ ਵਾਹਿਗੁਰੂ ਜੀ ਕੀ ਫ਼ਤਹਿ ॥ ਸ੍ਰੀ ਭਗੌਤੀ ਜੀ ਸਹਾਇ ॥ ਵਾਰ ਸ੍ਰੀ ਭਗੌਤੀ ਜੀ ਕੀ ਪਾਤਿਸ਼ਾਹੀ ੧੦ ॥ | Ik Oaṅkār Vāhigurū jī kī fatahi. Srī Bhagautī jī sahāi. Vār Srī Bhagautī jī kī Pātishāhī Dasvīṅ. | [Ardas - Khai từ] Chỉ có Một Thực Tại Tối Cao, mọi chiến thắng đều thuộc về Đấng Waheguru tôn kính. Xin quyền năng sáng tạo thiêng liêng (Sri Bhagauti) phù trợ. Trích khúc ca Sri Bhagauti của Đức Vua tinh thần thứ mười. | [Ardas - Invocation] There is Only One Supreme Reality; all victory belongs to the revered Waheguru. May the Revered Creative Power of the Divine (Sri Bhagauti) be our support. From the Ballad of Sri Bhagauti, composed by the Tenth Spiritual Sovereign. |
| 2 | ਪ੍ਰਿਥਮ ਭਗੌਤੀ ਸਿਮਰਿ ਕੈ ਗੁਰ ਨਾਨਕ ਲਈਂ ਧਿਆਇ ॥ ਫਿਰ ਅੰਗਦ ਗੁਰ ਤੇ ਅਮਰਦਾਸੁ ਰਾਮਦਾਸੈ ਹੋਈਂ ਸਹਾਇ ॥ | Pritham Bhagautī simari kai Gur Nānak laīṅ dhiāi. Phir Aṅgad Gur te Amardāsu Rāmdāsai hoīṅ sahāi. | [Ardas - Khổ Pauri] Trước hết tưởng niệm quyền năng tối cao của Thượng Đế (Bhagauti), rồi hướng tâm suy niệm về Guru Nanak. Tiếp đến, xin Guru Angad, Guru Amar Das và Guru Ram Das ban ơn nâng đỡ. | [Ardas - Opening Pauri] Having first remembered the Supreme Divine Power (Bhagauti), let us meditate upon Guru Nanak. Then may Guru Angad, Guru Amar Das, and Guru Ram Das grant us their support and grace. |
| 3 | ਅਰਜਨ ਹਰਿਗੋਬਿੰਦ ਨੋ ਸਿਮਰੌ ਸ੍ਰੀ ਹਰਿਰਾਇ ॥ ਸ੍ਰੀ ਹਰਿਕ੍ਰਿਸ਼ਨ ਧਿਆਈਐ ਜਿਸ ਡਿੱਠੇ ਸਭਿ ਦੁਖ ਜਾਇ ॥ | Arjan Harigobind no simrau Srī Harirāi. Srī Harikrishan dhiāīai jis ḍiṭhe sabhi dukh jāi. | Hãy tưởng nhớ Guru Arjan, Guru Hargobind và Đức Sri Har Rai. Hãy chuyên tâm niệm tưởng Đức Sri Har Krishan, đấng mà chỉ cần được chiêm ngưỡng dung nhan là mọi khổ đau đều tan biến. | Let us remember Guru Arjan, Guru Hargobind, and the revered Guru Har Rai. Let us meditate upon the revered Guru Har Krishan, by whose very sight all sorrows vanish away. |
| 4 | ਤੇਗ ਬਹਾਦਰ ਸਿਮਰਿਐ ਘਰ ਨਉ ਨਿਧਿ ਆਵੈ ਧਾਇ ॥ ਸਭ ਥਾਈਂ ਹੋਇ ਸਹਾਇ ॥ | Tegh Bahādar simariai ghar nau nidhi āvai dhāi. Sabh thāīṅ hoi sahāi. | Hãy tưởng nhớ Guru Tegh Bahadur, nhờ niệm tưởng ngài mà chín kho báu thiêng liêng ùa về tràn ngập mái nhà. Xin các ngài ở khắp mọi nơi đều ra tay hộ trì. | Let us remember Guru Tegh Bahadur, through whose remembrance the nine spiritual treasures come hastening into one's home. May they assist and protect us everywhere. |
| 5 | ਦਸਵਾਂ ਪਾਤਿਸ਼ਾਹ ਸ੍ਰੀ ਗੁਰੂ ਗੋਬਿੰਦ ਸਿੰਘ ਸਾਹਿਬ ਜੀ! ਸਭ ਥਾਈਂ ਹੋਇ ਸਹਾਇ ॥ | Dasvāṅ Pātishāh Srī Gurū Gobind Siṅgh Sāhib jī! Sabh thāīṅ hoi sahāi. | Đức Vua tinh thần thứ mười, Sri Guru Gobind Singh Sahib tôn kính! Xin ngài ở khắp mọi nơi đều ra tay hộ trì. | May the Tenth Spiritual Sovereign, the revered Sri Guru Gobind Singh Sahib, assist and protect us everywhere. |
| 6 | ਦਸਾਂ ਪਾਤਿਸ਼ਾਹੀਆਂ ਦੀ ਜੋਤ ਸ੍ਰੀ ਗੁਰੂ ਗ੍ਰੰਥ ਸਾਹਿਬ ਜੀ ਦੇ ਪਾਠ ਦੀਦਾਰ ਦਾ ਧਿਆਨ ਧਰ ਕੇ ਬੋਲੋ ਜੀ ਵਾਹਿਗੁਰੂ! ॥ | Dasāṅ Pātishāhīāṅ dī jot Srī Gurū Granth Sāhib jī de pāṭh dīdār dā dhiān dhar ke bolo jī Vāhigurū! | Hướng trọn tâm trí vào việc tụng đọc và chiêm ngưỡng Sri Guru Granth Sahib, ngọn đèn ánh sáng sống động của cả mười vị Guru, xin toàn thể hãy đồng thanh xướng lên: Waheguru! | Fixing your mind on the reading and blessed sight of Sri Guru Granth Sahib, the living spiritual light of all ten Sovereign Gurus, let the congregation say aloud: Waheguru! |
| 7 | ਪੰਜਾਂ ਪਿਆਰਿਆਂ, ਚੌਹਾਂ ਸਾਹਿਬਜ਼ਾਦਿਆਂ, ਚਾਲ੍ਹੀਆਂ ਮੁਕਤਿਆਂ, ਹਠੀਆਂ, ਜਪੀਆਂ, ਤਪੀਆਂ, ਜਿਨ੍ਹਾਂ ਨਾਮ ਜਪਿਆ, ਵੰਡ ਛਕਿਆ, ਦੇਗ ਚਲਾਈ, ਤੇਗ ਵਾਹੀ, ਦੇਖ ਕੇ ਅਣਡਿੱਠ ਕੀਤਾ, ਤਿਨ੍ਹਾਂ ਪਿਆਰਿਆਂ, ਸਚਿਆਰਿਆਂ ਦੀ ਕਮਾਈ ਦਾ ਧਿਆਨ ਧਰ ਕੇ, ਖਾਲਸਾ ਜੀ! ਬੋਲੋ ਜੀ ਵਾਹਿਗੁਰੂ! ॥ | Pañjāṅ Piāriāṅ, Chauhāṅ Sāhibzādiāṅ, Chālhīāṅ Muktiāṅ, haṭhīāṅ, japīāṅ, tapīāṅ, jinhāṅ Nām japiā, vaṇḍ chhakiā, deg chalāī, teg vāhī, dekh ke aṇḍiṭh kītā, tinhāṅ piāriāṅ, sachiāriāṅ dī kamāī dā dhiān dhar ke, Khālsā jī! Bolo jī Vāhigurū! | [Tưởng niệm các bậc tiền nhân] Tưởng nhớ Năm Người Yêu Dấu (Panj Pyare), Bốn Hoàng Tử của Guru (Char Sahibzade), Bốn Mươi Vị Giải Thoát (Chali Mukte), cùng những bậc kiên định, chuyên niệm, khổ hạnh; những người đã hằng niệm Danh Ngài, san sẻ miếng ăn, nổi lửa chảo cơm từ thiện (Deg), vung gươm bảo vệ kẻ yếu (Teg), thấy lỗi lầm của người mà lượng thứ bỏ qua; hướng tâm về công đức của những bậc chí tình và chân thật ấy, hỡi hội chúng Khalsa, hãy đồng thanh xướng lên: Waheguru! | [Remembrance of the Faithful] Calling to mind the Five Beloved Ones (Panj Pyare), the Four Princes of the Guru (Char Sahibzade), the Forty Liberated Ones (Chali Mukte), and those souls of steadfast resolve, constant meditation, and spiritual discipline; those who chanted the Divine Name, shared their earnings and food with others, kept the community cauldron of charity (Deg) running, wielded the sword (Teg) in defense of the weak, and overlooked the faults of others with magnanimity; reflecting on the spiritual earnings of those beloved and truthful ones, O Khalsa, say aloud: Waheguru! |
| 8 | ਜਿਨ੍ਹਾਂ ਸਿੰਘਾਂ ਸਿੰਘਣੀਆਂ ਨੇ ਧਰਮ ਹੇਤ ਸੀਸ ਦਿੱਤੇ, ਬੰਦ ਬੰਦ ਕਟਾਏ, ਖੋਪਰੀਆਂ ਲੁਹਾਈਆਂ, ਚਰਖੜੀਆਂ ਤੇ ਚੜ੍ਹੇ, ਆਰਿਆਂ ਨਾਲ ਚਿਰਾਏ ਗਏ, ਗੁਰਦੁਆਰਿਆਂ ਦੀ ਸੇਵਾ ਲਈ ਕੁਰਬਾਨੀਆਂ ਕੀਤੀਆਂ, ਧਰਮ ਨਹੀਂ ਹਾਰਿਆ, ਸਿੱਖੀ ਕੇਸਾਂ ਸੁਆਸਾਂ ਨਾਲ ਨਿਭਾਈ, ਤਿਨ੍ਹਾਂ ਦੀ ਕਮਾਈ ਦਾ ਧਿਆਨ ਧਰ ਕੇ ਬੋਲੋ ਜੀ ਵਾਹਿਗੁਰੂ! ॥ | Jinhāṅ Siṅghāṅ Siṅghaṇīāṅ ne dharam het sīs ditte, band band kaṭāe, khoparīāṅ luhāīāṅ, charkhaṛīāṅ te chaṛhe, āriāṅ nāl chirāe gae, gurduāriāṅ dī sevā laī kurbānīāṅ kītīāṅ, dharam nahīṅ hāriā, Sikkhī kesāṅ suāsāṅ nāl nibhāī, tinhāṅ dī kamāī dā dhiān dhar ke bolo jī Vāhigurū! | [Tưởng niệm các vị tử đạo] Tưởng nhớ những nam tín đồ (Singh) và nữ tín đồ (Singhani) đã vì chính pháp mà hiến dâng mái đầu, chịu chặt từng đốt xương khớp, chịu lột da đầu, chịu trói lên bánh xe răng cưa nghiền nát, chịu cưa xẻ thân mình làm đôi, hy sinh mạng sống để phụng sự và gìn giữ các ngôi đền gurdwara, quyết không phản bội đức tin, giữ trọn đạo Sikh cùng mái tóc nguyên vẹn tới hơi thở cuối cùng; hướng tâm về công đức của các bậc ấy, hãy đồng thanh xướng lên: Waheguru! | [Remembrance of the Martyrs] Calling to mind those Sikh men (Singhs) and Sikh women (Singhanis) who gave their heads for righteousness, who had their bodies cut joint by joint, who had their scalps chiselled off, who were broken upon turning toothed wheels, who were sawn in half with wooden saws, who made supreme sacrifices for the service and reform of the gurdwaras, never surrendering their faith and upholding Sikhi with their unshorn hair until their final breath; reflecting on their heroic deeds, say aloud: Waheguru! |
| 9 | ਪੰਜਾਂ ਤਖ਼ਤਾਂ, ਸਰਬੱਤ ਗੁਰਦੁਆਰਿਆਂ ਦਾ ਧਿਆਨ ਧਰ ਕੇ ਬੋਲੋ ਜੀ ਵਾਹਿਗੁਰੂ! ॥ | Pañjāṅ Takhtāṅ, sarbatt gurduāriāṅ dā dhiān dhar ke bolo jī Vāhigurū! | Hướng tâm tưởng nhớ tới Năm Tòa Bảo Tọa Quyền Uy (Panj Takht) và tất cả các ngôi đền gurdwara khắp muôn nơi, hãy đồng thanh xướng lên: Waheguru! | Turning your thoughts toward the Five Thrones of Spiritual Authority (Panj Takht) and all gurdwaras everywhere, say aloud: Waheguru! |
| 10 | ਪ੍ਰਿਥਮੇ ਸਰਬੱਤ ਖਾਲਸਾ ਜੀ ਕੀ ਅਰਦਾਸ ਹੈ ਜੀ, ਸਰਬੱਤ ਖਾਲਸਾ ਜੀ ਕੋ ਵਾਹਿਗੁਰੂ, ਵਾਹਿਗੁਰੂ, ਵਾਹਿਗੁਰੂ ਚਿੱਤ ਆਵੇ, ਚਿੱਤ ਆਵਨ ਕਾ ਸਦਕਾ ਸਰਬ ਸੁਖ ਹੋਵੇ ॥ | Prithame sarbatt Khālsā jī kī ardās hai jī, sarbatt Khālsā jī ko Vāhigurū, Vāhigurū, Vāhigurū chitt āve, chitt āvan kā sadkā sarab sukh hove. | [Lời cầu nguyện chung] Trước hết là lời cầu nguyện của toàn thể cộng đồng Khalsa: nguyện cho trong tâm khảm của toàn thể Khalsa luôn nhớ niệm tiếng Waheguru, Waheguru, Waheguru, và nhờ phước lành của sự nhớ niệm ấy mà mọi an vui viên mãn đều nảy nở. | [Universal Supplication] First of all is the supplication of the entire Khalsa commonwealth: may the remembrance of Waheguru, Waheguru, Waheguru ever abide in the heart of the entire Khalsa, and by the grace of that remembrance, may all peace and true happiness flourish. |
| 11 | ਸਿੱਖਾਂ ਨੂੰ ਸਿੱਖੀ ਦਾਨ, ਕੇਸ ਦਾਨ, ਰਹਿਤ ਦਾਨ, ਬਿਬੇਕ ਦਾਨ, ਵਿਸਾਹ ਦਾਨ, ਭਰੋਸਾ ਦਾਨ, ਦਾਨਾਂ ਸਿਰ ਦਾਨ ਨਾਮ ਦਾਨ, ਸ੍ਰੀ ਅੰਮ੍ਰਿਤਸਰ ਜੀ ਦੇ ਇਸ਼ਨਾਨ, ਚੌਕੀਆਂ, ਝੰਡੇ, ਬੁੰਗੇ, ਜੁਗੋ ਜੁਗ ਅਟੱਲ, ਧਰਮ ਕਾ ਜੈਕਾਰ, ਬੋਲੋ ਜੀ ਵਾਹਿਗੁਰੂ! ॥ | Sikkhāṅ nūṅ Sikkhī dān, kes dān, rahit dān, bibek dān, visāh dān, bharosā dān, dānāṅ sir dān Nām dān, Srī Amritsar jī de ishnān, chaukīāṅ, jhaṇḍe, buṅge, jugo jug aṭall, dharam kā jaikār, bolo jī Vāhigurū! | Xin ban cho người Sikh hồng ân sống trọn đạo Sikh, hồng ân giữ mái tóc nguyên vẹn, hồng ân giữ giới luật, hồng ân trí tuệ phân định đúng sai, hồng ân niềm tin, hồng ân lòng phó thác, và hồng ân cao quý nhất trên mọi hồng ân là Hồng Ân Danh Ngài (Naam Dan) cùng ân phước được tắm gội tâm linh nơi hồ thiêng Sri Amritsar. Nguyện cho các đoàn hành hương, ngọn cờ đạo, các học viện tháp đài mãi vững bền qua muôn kỷ nguyên, và chính pháp luôn toàn thắng. Hãy đồng thanh xướng lên: Waheguru! | Grant unto Sikhs the gift of the Sikh way of life, the gift of unshorn hair, the gift of ethical discipline, the gift of spiritual discernment, the gift of trust, the gift of unshakeable confidence, and the supreme gift above all gifts, the gift of the Divine Name (Naam Dan), together with sacred bathing in the pool of Sri Amritsar. May the hymn-singing choirs, the banners, and the residential towers abide forever through the ages, and may righteousness ever triumph. Say aloud: Waheguru! |
| 12 | ਸਿੱਖਾਂ ਦਾ ਮਨ ਨੀਵਾਂ, ਮਤ ਉੱਚੀ, ਮਤ ਦਾ ਰਾਖਾ ਆਪਿ ਵਾਹਿਗੁਰੂ ॥ ਹੇ ਅਕਾਲ ਪੁਰਖ! ਆਪਣੇ ਪੰਥ ਦੇ ਸਦਾ ਸਹਾਈ ਦਾਤਾਰ ਜੀਓ! ਸ੍ਰੀ ਨਨਕਾਣਾ ਸਾਹਿਬ ਤੇ ਹੋਰ ਗੁਰਦੁਆਰਿਆਂ ਗੁਰਧਾਮਾਂ ਦੇ, ਜਿਨ੍ਹਾਂ ਤੋਂ ਪੰਥ ਨੂੰ ਵਿਛੋੜਿਆ ਗਿਆ ਹੈ, ਖੁੱਲ੍ਹੇ ਦਰਸ਼ਨ ਦੀਦਾਰ ਤੇ ਸੇਵਾ ਸੰਭਾਲ ਦਾ ਦਾਨ ਖਾਲਸਾ ਜੀ ਨੂੰ ਬਖ਼ਸ਼ੋ ॥ | Sikkhāṅ dā man nīvāṅ, mat uchchī, mat dā rākhā āpi Vāhigurū. He Akāl Purakh! Āpṇe Panth de sadā sahāī dātār jīo! Srī Nankāṇā Sāhib te hor gurduāriāṅ gurdhāmāṅ de, jinhāṅ toṅ Panth nūṅ vichhoṛiā giā hai, khullhe darshan dīdār te sevā sambhāl dā dān Khālsā jī nūṅ bakhsho. | Nguyện cho tâm người Sikh luôn khiêm hạ, trí người Sikh luôn cao thượng, và chính Đấng Waheguru là người canh giữ trí tuệ ấy. Lạy Đấng Akal Purakh vượt ngoài thời gian, Đấng Ban Phát hằng nâng đỡ cộng đồng của Ngài! Xin ban cho Khalsa hồng ân được tự do chiêm bái và trực tiếp phụng sự, chăm sóc Sri Nankana Sahib cùng những ngôi đền, thánh địa khác mà cộng đồng đã bị chia lìa. | May the mind of Sikhs ever remain humble, and their wisdom exalted, with Waheguru Himself as the guardian of that wisdom. O Timeless Being (Akal Purakh), ever-helping Benefactor of Your Panth! Bestow upon the Khalsa the gift of unhindered pilgrimage, blessed sight, and loving service and stewardship of Sri Nankana Sahib and those other gurdwaras and sacred shrines from which the community has been separated. |
| 13 | ਹੇ ਨਿਮਾਣਿਆਂ ਦੇ ਮਾਣ, ਨਿਤਾਣਿਆਂ ਦੇ ਤਾਣ, ਨਿਓਟਿਆਂ ਦੀ ਓਟ, ਸੱਚੇ ਪਿਤਾ, ਵਾਹਿਗੁਰੂ! ਆਪ ਦੇ ਹਜ਼ੂਰ ਅਰਦਾਸ ਹੈ ਜੀ, ਅੱਖਰ ਵਾਧਾ ਘਾਟਾ ਭੁੱਲ ਚੁੱਕ ਮਾਫ਼ ਕਰਨੀ, ਸਰਬੱਤ ਦੇ ਕਾਰਜ ਰਾਸ ਕਰਨੇ ॥ ਸੇਈ ਪਿਆਰੇ ਮੇਲ, ਜਿਨ੍ਹਾਂ ਮਿਲਿਆਂ ਤੇਰਾ ਨਾਮ ਚਿੱਤ ਆਵੇ ॥ ਨਾਨਕ ਨਾਮ ਚੜ੍ਹਦੀ ਕਲਾ ॥ ਤੇਰੇ ਭਾਣੇ ਸਰਬੱਤ ਦਾ ਭਲਾ ॥ | He nimāṇiāṅ de māṇ, nitāṇiāṅ de tāṇ, nioṭiāṅ dī oṭ, sachche Pitā, Vāhigurū! Āp de hazūr ardās hai jī, akkhar vādhā ghāṭā bhull chukk māf karnī, sarbatt de kāraj rās karne. Seī piāre mel, jinhāṅ miliāṅ terā Nām chitt āve. Nānak Nām chaṛhdī kalā. Tere bhāṇe sarbatt dā bhalā. | [Kết bài Ardas] Hỡi Đấng là niềm vinh dự của kẻ thấp hèn, là sức mạnh của người yếu thế, là nơi nương tựa của kẻ không chốn dung thân, Lạy Người Cha Chân Thật, Đấng Waheguru! Trước tôn nhan Ngài chúng con dâng lời cầu nguyện: xin tha thứ mọi chỗ thừa thiếu chữ nghĩa hay lầm lỗi trong khi đọc, và xin cho công việc thiện lành của muôn người đều thành tựu. Xin cho chúng con được gặp gỡ những người bạn đạo yêu dấu mà khi gần họ, Danh Ngài lại sáng lên trong tâm trí. Qua lời Nanak, nhờ Danh Ngài mà tinh thần vươn cao mãi mãi (Chardi Kala); và trong thánh ý Ngài, cầu xin phúc lành cho toàn thể muôn loài (Sarbat Da Bhala). | [Conclusion of Ardas] O Honor of the unhonored, Strength of the powerless, Shelter of the shelterless, True Father, Waheguru! Before Your presence we offer this prayer: forgive any omissions, additions, or errors in our recitation, and bring the rightful endeavors of all to fulfillment. Unite us with those beloved companions in whose company Your Name comes into the heart. Through Nanak, may the Divine Name keep our spirit ever ascending (Chardi Kala); and in Your sweet will, may blessings and welfare come to all creation (Sarbat Da Bhala). |
| 14 | ਸੋਹਿਲਾ ਰਾਗੁ ਗਉੜੀ ਦੀਪਕੀ ਮਹਲਾ ੧ ॥ ੴ ਸਤਿਗੁਰ ਪ੍ਰਸਾਦਿ ॥ ਜੈ ਘਰਿ ਕੀਰਤਿ ਆਖੀਐ ਕਰਤੇ ਕਾ ਹੋਇ ਬੀਚਾਰੋ ॥ ਤਿਤੁ ਘਰਿ ਗਾਵਹੁ ਸੋਹਿਲਾ ਸਿਵਰਿਹੁ ਸਿਰਜਣਹਾਰੋ ॥੧॥ | Sohilā Rāgu Gauṛī Dīpakī Mahalā Pehilā. Ik Oaṅkār Satigur Prasādi. Jai ghari kīrati ākhīai karte kā hoi bīchāro. Titu ghari gāvahu sohilā sivarihu sirjaṇhāro. (1) | [Kirtan Sohila - Bài 1, Ang 12] Khúc ca Sohila, điệu Raga Gauri Dipaki, sáng tác của Guru thứ nhất (Guru Nanak). Chỉ có Một Thực Tại, được nhận biết nhờ ân điển của Chân Sư. Trong ngôi nhà nào mà lời tán dương vang lên và công cuộc của Đấng Tạo Hóa được suy ngẫm, ngay trong ngôi nhà tâm thức ấy hãy hát khúc ca mừng Sohila và tưởng nhớ Đấng Sáng Tạo. (1) | [Kirtan Sohila - Hymn 1, Ang 12] Sohila, in the measure Raga Gauri Dipaki, by the First Guru (Guru Nanak). There is One Supreme Reality, realized through the grace of the True Guru. In that house where the praises of the Creator are spoken and His deeds are contemplated, in that very house of the heart sing the bridal song of praise (Sohila) and remember the Fashioner of all. (1) |
| 15 | ਤੁਮ ਗਾਵਹੁ ਮੇਰੇ ਨਿਰਭਉ ਕਾ ਸੋਹਿਲਾ ॥ ਹਉ ਵਾਰੀ ਜਿਤੁ ਸੋਹਿਲੈ ਸਦਾ ਸੁਖੁ ਹੋਇ ॥੧॥ ਰਹਾਉ ॥ | Tum gāvahu mere nirbhau kā sohilā. Hau vārī jitu sohilai sadā sukhu hoi. (1) Rahāu. | Hãy hát lên khúc ca ngợi khen Đấng Vô Úy không chút sợ hãi của lòng tôi. Tôi xin hiến dâng trọn đời mình cho khúc ca Sohila ấy, khúc ca mang lại niềm an lạc vĩnh hằng. (1) [Điệp khúc dừng nghỉ] | Sing the song of praise of my Fearless Lord! I am a sacrifice to that song of Sohila through which everlasting peace is found. (1) [Pause and Refrain] |
| 16 | ਗਗਨ ਮੈ ਥਾਲੁ ਰਵਿ ਚੰਦੁ ਦੀਪਕ ਬਣੇ ਤਾਰਿਕਾ ਮੰਡਲ ਜਨਕ ਮੋਤੀ ॥ ਧੂਪੁ ਮਲਆਨਲੋ ਪਵਣੁ ਚਵਰੋ ਕਰੇ ਸਗਲ ਬਨਰਾਇ ਫੂਲੰਤ ਜੋਤੀ ॥੧॥ ਕੈਸੀ ਆਰਤੀ ਹੋਇ ॥ ਭਵ ਖੰਡਨਾ ਤੇਰੀ ਆਰਤੀ ॥ ਅਨਹਤਾ ਸਬਦ ਵਾਜੰਤ ਭੇਰੀ ॥੧॥ ਰਹਾਉ ॥ | Gagan mai thālu ravi chandu dīpak baṇe tārikā maṇḍal janak motī. Dhūpu malaānalo pavaṇu chavaro kare sagal banrāi phūlant jotī. (1) Kaisī ārtī hoi. Bhav khaṇḍanā terī ārtī. Anahatā sabad vājant bherī. (1) Rahāu. | [Kirtan Sohila - Bài 3, Raga Dhanasari, Ang 13] Bầu trời bao la là chiếc mâm lễ bằng đồng, mặt trời và mặt trăng làm đôi ngọn đèn dầu, muôn vàn chòm sao rải rác như những hạt ngọc trai. Làn gió thổi qua rừng đàn hương núi Malaya làm khói trầm thơm ngát, gió trời phe phẩy làm chiếc phất trần kính dâng, và toàn bộ cỏ cây rừng thẳm đang nở hoa dâng hiến ánh sáng. (1) Ôi nghi lễ dâng đèn Arti ấy mới kỳ vĩ làm sao! Hỡi Đấng Phá Tan Vòng Sinh Tử, đó chính là lễ Arti dâng lên Ngài, trong khi âm thanh vô thanh bất diệt (Anahad Shabad) đang ngân vang như tiếng trống trời. (1) [Điệp khúc] | [Kirtan Sohila - Hymn 3, Raga Dhanasari, Ang 13] The sky Vault is the salver, the sun and moon are the lamps, and the constellations of stars are set like pearls. The breeze from the sandalwood forests of the Malaya mountains is the incense, the wind waves the royal fly-whisk, and all the flowering forests of the earth offer their blossoms of light. (1) What a wondrous worship with lamps (Arti) is taking place! O Destroyer of the cycle of birth and death, this is Your true Arti, while the unstruck cosmic sound (Anahata Shabad) resounds as the temple drums. (1) [Pause and Refrain] |
| 17 | ਰਾਗੁ ਗਉੜੀ ਪੂਰਬੀ ਮਹਲਾ ੫ ॥ ਕਰਉ ਬੇਨੰਤੀ ਸੁਣਹੁ ਮੇਰੇ ਮੀਤਾ ਸੰਤ ਟਹਲ ਕੀ ਬੇਲਾ ॥ ਈਹਾ ਖਾਟਿ ਚਲਹੁ ਹਰਿ ਲਾਹਾ ਆਗੈ ਬਸਨੁ ਸੁਹੇਲਾ ॥੧॥ ਅਉਧ ਘਟੈ ਦਿਨੁ ਰਾਤਿ ॥ ਮਨ ਗੁਰ ਮਿਲਿ ਕਾਜ ਸਵਾਰੇ ॥੧॥ ਰਹਾਉ ॥ | Rāgu Gauṛī Pūrbī Mahalā Pañjvāṅ. Karau benantī suṇahu mere mītā sant ṭahal kī belā. Īhā khāṭi chalahu hari lāhā āgai basanu suhelā. (1) Audh ghaṭai dinu rāti. Man gur mili kāj savāre. (1) Rahāu. | [Kirtan Sohila - Bài 5 Khổ kết, Ang 13] Điệu Raga Gauri Purbi, sáng tác của Guru thứ năm (Guru Arjan). Tôi thiết tha khẩn cầu, xin hãy lắng nghe hỡi những người bạn hiền của tôi: đây chính là thời khắc để phụng sự các bậc thánh thiện! Ngay tại cõi đời này hãy thu góp hành trang lợi lạc của Danh Chúa, để chốn dừng chân phía trước được thảnh thơi an lành. (1) Tuổi đời đang vơi cạn dần qua từng ngày từng đêm. Hỡi tâm kia, hãy tìm gặp Guru để hoàn tất công việc cốt tử của đời mình! (1) [Điệp khúc] | [Kirtan Sohila - Hymn 5 Closing Hymn, Ang 13] In the measure Raga Gauri Purbi, by the Fifth Guru (Guru Arjan). I make this humble plea, listen, O my dear friends: now is the time to serve the saintly ones! In this world, earn the spiritual profit of the Divine Name before you depart, so that your dwelling hereafter may be peaceful and blessed. (1) Life's span diminishes day and night. O my mind, meet the Guru and fulfill the true purpose of your existence! (1) [Pause and Refrain] |
| 18 | ਇਹੁ ਸੰਸਾਰੁ ਬਿਕਾਰੁ ਸੰਸੇ ਮਹਿ ਤਰਿਓ ਬ੍ਰਹਮ ਗਿਆਨੀ ॥ ਜਿਸਹਿ ਜਗਾਇ ਪੀਆਵੈ ਇਹੁ ਰਸੁ ਅਕਥ ਕਥਾ ਤਿਨਿ ਜਾਨੀ ॥੨॥ ਜਾ ਕਉ ਆਏ ਸੋਈ ਬਿਹਾਝਹੁ ਹਰਿ ਗੁਰ ਤੇ ਮਨਹਿ ਬਸੇਰਾ ॥ ਨਿਜ ਘਰਿ ਮਹਲੁ ਪਾਵਹੁ ਸੁਖ ਸਹਜੇ ਬਹੁਰਿ ਨ ਹੋਇਗੋ ਫੇਰਾ ॥੩॥ | Ihu saṅsāru bikāru saṅse mahi tario braham giānī. Jisahi jagāi pīāvai ihu rasu akath kathā tini jānī. (2) Jā kau āe soī bihājhahu hari gur te manahi baserā. Nij ghari mahalu pāvahu sukh sahaje bahuri na hoigo pherā. (3) | Thế gian này chìm đắm trong biến hoại và nghi ngờ, chỉ bậc thông suốt Thực Tại Tối Cao (Braham Giani) mới bơi qua được bờ bên kia. Người nào được Ngài đánh thức và cho uống giọt cam lộ này, người ấy mới thấu hiểu câu chuyện khôn tả bằng lời. (2) Điều mà vì nó bạn bước vào cuộc đời này, hãy lo trao đổi và đón nhận lấy; nhờ ân điển Guru, Đấng Tối Cao sẽ ngự trị ngay trong tâm khảm bạn. Bạn sẽ tìm lại được cung điện ngay trong ngôi nhà chân thật của chính mình với niềm an lạc tự nhiên, và sẽ không còn phải quay lại vòng luân hồi sinh tử nữa. (3) | This world is entangled in corruption and doubt; only the knower of the Supreme Reality (Braham Giani) swims across. Only one whom the Lord awakens and causes to drink this ambrosial nectar comes to know the ineffable story. (2) Purchase that true commodity for which you came into the world, and through the Guru's grace let the Divine abide within your mind. Within your own true inner home you shall find the Mansion of the Lord in natural, effortless peace, and you shall not be cast into the wheel of rebirth again. (3) |
| 19 | ਅੰਤਰਜਾਮੀ ਪੁਰਖ ਬਿਧਾਤੇ ਸਰਧਾ ਮਨ ਕੀ ਪੂਰੇ ॥ ਨਾਨਕ ਦਾਸੁ ਇਹੈ ਸੁਖੁ ਮਾਗੈ ਮੋ ਕਉ ਕਰਿ ਸੰਤਨ ਕੀ ਧੂਰੇ ॥੪॥੫॥ | Antarjāmī purakh bidhāte sardhā man kī pūre. Nānak dāsu ihai sukhu māgai mo kau kari santan kī dhūre. (4)(5) | Lạy Đấng Thấu Suốt Nội Tâm (Antarjami), Đấng Tạo Hóa an bài vận mệnh, xin làm viên mãn lòng thành kính thiết tha của tâm con. Người tôi tớ Nanak chỉ cầu xin duy nhất niềm hạnh phúc này: xin hãy biến con thành hạt bụi dưới chân các bậc thánh nhân. (4)(5) | O Inner Knower of all hearts (Antarjami), All-Pervading Architect of destiny, fulfill the yearning faith of my mind. Your servant Nanak asks for this one happiness alone: make me the dust of the feet of the saints. (4)(5) |
| 20 | ਵਾਹਿਗੁਰੂ ਜੀ ਕਾ ਖਾਲਸਾ ॥ ਵਾਹਿਗੁਰੂ ਜੀ ਕੀ ਫ਼ਤਹਿ ॥ ਬੋਲੇ ਸੋ ਨਿਹਾਲ, ਸਤਿ ਸ੍ਰੀ ਅਕਾਲ! ॥ | Vāhigurū jī kā Khālsā. Vāhigurū jī kī fatahi. Bole so nihāl, Sati Srī Akāl! | [Lời chào và tiếng hô kết lễ] Cộng đồng Khalsa thuộc về Đấng Waheguru! Mọi chiến thắng đều thuộc về Đấng Waheguru! Ai cất tiếng hô vang sẽ được tràn ngập phúc lạc: Đấng Tối Cao Vượt Thời Gian Là Chân Thật Vĩnh Hằng (Sat Sri Akal)! | [Closing Salutation and Jaikara] The Khalsa belongs to Waheguru! All victory belongs to Waheguru! Whoever utters this call shall be fulfilled in bliss: Eternal and True is the Timeless Supreme Being (Sat Sri Akal)! |
Bảng đối chiếu cấu trúc Ardas và năm bài thơ trong Kirtan Sohila
Vì bài Ardas kết hợp thơ cổ của Guru Gobind Singh với văn xuôi phụng vụ phát triển qua lịch sử, còn Kirtan Sohila là sự tuyển chọn năm bài thơ từ ba vị Guru khác nhau trong ba điệu Raga khác nhau, bảng khảo cứu dưới đây giúp người đọc nắm rõ nguồn gốc văn bản và dị bản của từng thành phần.
| Thành phần văn bản | Tác giả và vị trí trong kinh điển | Đặc điểm ngôn ngữ và âm nhạc | Quy định phụng vụ và dị bản lịch sử |
|---|---|---|---|
| Mở đầu Ardas: Khổ Pauri Chandi di Var (Câu 1 tới 5) | Guru Gobind Singh (câu 1 tới 4 trích từ mở đầu Var Sri Bhagauti Ji Ki trong Dasam Granth; câu 5 do Khalsa thêm sau năm 1708). | Thơ Punjabi cổ pha Braj Bhasha, nhịp Pauri hào sảng dùng trong thể loại Var (anh hùng ca). | Sikh Rehat Maryada quy định tuyệt đối không ai được lược bỏ hay sửa đổi một chữ nào trong khổ Pauri mở đầu này. |
| Thân bài Ardas: Tưởng niệm lịch sử (Câu 6 tới 9) | Tập thể Khalsa biên soạn qua thế kỷ 18 tới thế kỷ 20, chuẩn hóa bởi SGPC năm 1945. | Văn xuôi nhịp nhàng chia thành các đoạn, mỗi đoạn khép bằng lời xướng Bolo ji Waheguru để hội chúng đáp. | Các bản in trước năm 1966 ghi Chauhan Takhtan (Bốn tòa Takht); từ khi công nhận Takht Sri Damdama Sahib thì chuẩn hóa thành Panjan Takhtan (Năm tòa Takht). |
| Kết bài Ardas: Cầu nguyện chung (Câu 10 tới 13) | Truyền thống Khalsa, bổ sung đoạn cầu cho Nankana Sahib sau tháng 8 năm 1947. | Ngôn ngữ Punjabi phụng vụ trang trọng, cho phép chèn lời cầu riêng (cho cá nhân, lễ cưới, tang lễ) trước câu 13. | Hai vế kết Nanak Naam Chardi Kala, Tere Bhane Sarbat Da Bhala là công thức đóng ấn bất di bất dịch của mọi buổi lễ Sikh. |
| Kirtan Sohila: Bài 1, 2, 3 (Câu 14 tới 16) | Guru Nanak Dev, nằm ở Ang 12 và 13 của Sri Guru Granth Sahib (cũng xuất hiện lại trong các chương Raga tương ứng). | Bài 1 theo Raga Gauri Dipaki, Bài 2 theo Raga Asa (tôn vinh tính duy nhất của Chân Lý qua sáu hệ triết học), Bài 3 theo Raga Dhanasari (bài Arti). | Bài 1 dùng ẩn dụ đêm tiễn cô dâu về nhà chồng; Bài 3 gắn với chuyến hành hương của Guru Nanak tới đền Jagannath ở Puri. |
| Kirtan Sohila: Bài 4 và Bài 5 (Câu 17 tới 19) | Bài 4 của Guru Ram Das, Bài 5 của Guru Arjan Dev, nằm ở Ang 13 của Sri Guru Granth Sahib. | Cả hai bài đều thuộc điệu Raga Gauri Purbi, giai điệu trầm lắng, suy tư vào lúc đêm khuya. | Nhắc nhở kiếp người quý giá đang vơi dần từng đêm và cầu xin trở thành hạt bụi dưới chân các bậc thánh nhân trước khi nhắm mắt. |
IIIGiải Nghĩa Chuyên Sâu Từng Đoạn Và Thuật Ngữ Cốt Lõi
Để thấu hiểu vì sao một bài cầu nguyện và một khúc ca đêm lại có sức định hình nhân cách người Sikh mạnh mẽ đến vậy, mười mục giải nghĩa dưới đây phân tích từng thuật ngữ thần học, lịch sử và thi học theo đúng trình tự văn bản.
Bài Ardas mở đầu bằng ký tự Ik Onkar đi liền với lời tuyên xưng Waheguru ji ki Fateh (Mọi chiến thắng đều thuộc về Đấng Waheguru). Việc đặt chữ Fateh (chiến thắng) ngay ở dòng đầu tiên khẳng định rằng người tín đồ bước vào lời cầu nguyện không phải trong tâm thế tuyệt vọng, mà trong niềm xác tín rằng quy luật tối hậu của vũ trụ thuộc về Đấng Chân Thật.
Chữ gây nhiều thảo luận học thuật nhất ở câu mở đầu và khổ Pauri kế tiếp là Bhagauti (ਭਗੌਤੀ). Trong văn học Ấn Độ cổ, chữ này vốn liên hệ với nữ thần Bhagavati, nhưng trong ngữ cảnh thần học độc thần nghiêm ngặt của Guru Gobind Singh và truyền thống chú giải Sikh (như Bhai Kahn Singh Nabha trong đại từ điển Mahan Kosh), Bhagauti mang hai tầng nghĩa gắn quyện vào nhau: thứ nhất là Akal Purakh (Chính Thượng Đế Tối Cao trong phương diện quyền năng sáng tạo và bảo vệ công lý), và thứ hai là Thanh Gươm Công Lý biểu trưng cho trí tuệ sắc bén chẻ tan bóng tối vô minh. Vì vậy, câu Pritham Bhagauti simari kai được người Sikh hiểu là: trước hết hãy tưởng niệm Thượng Đế Toàn Năng rồi mới tưởng nhớ tới Guru Nanak.
Từ câu 2 tới câu 6 là bản gia phả tâm linh hoàn chỉnh của Đạo Sikh. Mở đầu bằng Guru Nanak (vị Guru thứ nhất), lời thơ gọi tên Guru Angad (thứ hai), Guru Amar Das (thứ ba), Guru Ram Das (thứ tư, người đào hồ Amritsar), Guru Arjan (thứ năm, người biên soạn Adi Granth và là vị tử đạo đầu tiên), Guru Hargobind (thứ sáu, người đeo hai thanh kiếm Miri và Piri), Guru Har Rai (thứ bảy), Guru Har Krishan (thứ tám, vị Guru thiếu niên hiến mạng cứu người bệnh đậu mùa tại Delhi, gắn với câu thơ nổi tiếng: chỉ cần được chiêm ngưỡng ngài là mọi khổ đau đều tan biến), và Guru Tegh Bahadur (thứ chín, người chịu chém đầu tại Chandni Chowk năm 1675 để bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng của những người không cùng tôn giáo với mình, gắn với lời chúc chín kho báu ùa về mái nhà).
Sau khi tôn vinh vị Guru thứ mười là Guru Gobind Singh, câu thứ sáu nêu rõ giáo lý cốt lõi về Jot (ਜੋਤ, ngọn lửa ánh sáng tâm linh): mười vị Guru mang mười thân xác lịch sử khác nhau nhưng chỉ truyền trao duy nhất một ngọn đèn ánh sáng, và từ năm 1708 ngọn đèn ấy ngự vĩnh viễn trong lời kinh Sri Guru Granth Sahib.
Câu thứ bảy mở ra ba nhóm nhân vật anh hùng làm khuôn mẫu cho mọi thế hệ người Sikh. Panj Pyare (Năm Người Yêu Dấu) là năm tín đồ thuộc năm đẳng cấp xã hội khác nhau đã bước lên hiến đầu trước mũi kiếm của Guru Gobind Singh trong ngày lễ Vaisakhi năm 1699 tại Anandpur Sahib để khai sinh hội đoàn Khalsa. Char Sahibzade (Bốn Hoàng Tử của Guru) là bốn người con trai ruột của Guru Gobind Singh: hai người anh lớn là Baba Ajit Singh (18 tuổi) và Jujhar Singh (14 tuổi) tử trận trên chiến trường Chamkaur tháng 12 năm 1704; hai người em nhỏ là Zorawar Singh (9 tuổi) và Fateh Singh (7 tuổi) kiên quyết từ chối cải đạo và bị tổng trấn Wazir Khan xử xây tường gạch sống tại Sirhind. Chali Mukte (Bốn Mươi Vị Giải Thoát) là bốn mươi chiến sĩ từng viết giấy từ bỏ Guru trong lúc vây hãm ngặt nghèo, nhưng sau đó đã quay lại chiến đấu tới hơi thở cuối cùng tại hồ Khidrana (nay là Muktsar) năm 1705 và được chính tay Guru Gobind Singh xé tờ giấy từ bỏ để ban danh hiệu Giải Thoát.
Nửa sau của câu bảy tóm gọn toàn bộ đạo lý thực hành của người Sikh vào năm cụm động từ ngắn gọn: Naam japia (niệm nhớ Danh Chúa), Vand chhakia (san sẻ thành quả lao động với người khác), Deg chalai (duy trì chảo cơm từ thiện Langar không để ai bị đói), Teg vahi (cầm gươm bảo vệ lẽ phải và người yếu thế), và Dekh ke andith kita (nhìn thấy khuyết điểm của tha nhân mà bao dung cho qua).
Câu thứ tám không phải là những hình ảnh tu từ phóng đại mà là biên niên sử bằng lời về những hình phạt có thật mà các vị tử đạo Sikh đã trải qua trong thế kỷ 17 và 18. Mỗi cụm từ đều gợi nhắc trực tiếp tới một nhân vật lịch sử cụ thể mà mọi trẻ em Sikh đều thuộc tên: Band band katae (chịu chặt từng đốt xương khớp) nhắc tới Bhai Mani Singh, học giả trưởng quản Đền Vàng bị hành quyết tại Lahore năm 1737; Khoparian luhaiyan (chịu đục và lột da đầu) nhắc tới Bhai Taru Singh năm 1745, người thà chịu lột cả mảng hộp sọ chứ không chịu cắt bỏ mái tóc thiêng Kesh; Charkharian te charhe (chịu trói lên bánh xe răng cưa xoay tròn) nhắc tới Bhai Subeg Singh và con trai là Bhai Shahbaz Singh năm 1746; Arian nal chirae gae (chịu cưa gỗ xẻ đôi người từ đỉnh đầu xuống) nhắc tới Bhai Mati Das, người bị cưa đôi tại Delhi năm 1675 ngay trước mắt Guru Tegh Bahadur trong khi miệng vẫn đọc bài Japji Sahib.
Đặc biệt, văn bản gọi song hành cả hai giới là Singhan Singhanian (các nam tín đồ Singh và các nữ tín đồ Singhani), ghi nhớ những người mẹ trong ngục tối Lahore dưới thời Mir Mannu đã bị buộc phải đeo vòng cổ kết bằng mảnh thi hài của chính con thơ mình mà vẫn không khuất phục.
Câu thứ chín và câu mười một định vị bản đồ địa lý thiêng liêng của cộng đồng Sikh. Panj Takht (Năm Tòa Bảo Tọa Quyền Uy) là năm trung tâm thẩm quyền thế tục và tâm linh của Khalsa: (1) Akal Takht Sahib tại Amritsar do Guru Hargobind dựng năm 1606 đối diện với Harmandir Sahib; (2) Takht Sri Kesgarh Sahib tại Anandpur Sahib, nơi khai sinh Khalsa năm 1699; (3) Takht Sri Patna Sahib ở bang Bihar, nơi Guru Gobind Singh chào đời; (4) Takht Sri Hazur Sahib ở Nanded, bang Maharashtra, nơi Guru Gobind Singh viên tịch; và (5) Takht Sri Damdama Sahib ở Talwandi Sabo, nơi Guru Gobind Singh đọc lại trọn bộ Guru Granth Sahib cho Bhai Mani Singh chép năm 1706.
Ở câu mười một, giữa bảy hồng ân tâm linh mà người Sikh cầu xin (trong đó Danan sir dan Naam dan, hồng ân cao nhất trên mọi hồng ân là Danh Chúa), có lời cầu xin Sri Amritsar ji de ishnan. Hồ nước bao quanh Đền Vàng Amritsar mang tên Amritsar (Hồ Cam Lộ Bất Tử), và chữ ishnan ở đây vừa chỉ việc hành hương ngâm mình trong làn nước hồ Amritsar, vừa chỉ sự tắm gội nội tâm trong suối nguồn Gurbani.
Câu mười hai mở đầu bằng cặp đối ngẫu đạo đức nổi tiếng bậc nhất trong tiếng Punjabi: Man nivan, mat uchchi (Tâm thì thấp xuống khiêm nhường, trí thì vươn cao sáng suốt). Trong triết lý Sikh, trí tuệ sắc bén nếu thiếu lòng khiêm hạ sẽ biến thành ngạo mạn (haumai), còn khiêm nhường nếu thiếu trí tuệ cao thượng sẽ biến thành nhu nhược; và Đấng giữ cho trí tuệ ấy không lạc lối chính là Waheguru (mat da rakha api Waheguru).
Đoạn tiếp theo là vết thương lịch sử năm 1947 được chuyển hóa thành lời cầu nguyện hòa bình mỗi ngày: khi đường biên giới Radcliffe chia đôi vùng Punjab giữa Ấn Độ và Pakistan, hàng trăm thánh địa gắn liền với cuộc đời các vị Guru như Sri Nankana Sahib (nơi Guru Nanak sinh ra), Gurdwara Panja Sahib và Gurdwara Darbar Sahib Kartarpur (nơi Guru Nanak sống những năm cuối đời) nằm lại bên kia biên giới. Thay vì gieo lời oán hận, bài Ardas dạy người Sikh cầu xin khullhe darshan didar te seva sambhal (được tự do chiêm bái và trực tiếp phụng sự chăm sóc). Sự kiện khánh thành Hành lang Kartarpur (Kartarpur Corridor) tháng 11 năm 2019 cho phép người hành hương đi bộ qua biên giới không cần thị thực được người Sikh nhìn nhận như một sự ứng nghiệm từng phần của lời cầu nguyện bảy mươi năm này.
Đây là hai vế thơ kết đọng toàn bộ tinh thần nhân sinh quan của Đạo Sikh. Chardi Kala (ਚੜ੍ਹਦੀ ਕਲਾ) nghĩa đen là tuần trăng đang lên, ngọn lửa đang bốc cao, chỉ trạng thái tinh thần lạc quan, can trường, vươn lên không bao giờ chịu khuất phục trước nghịch cảnh. Đi liền ngay sau đó là Tere bhane (trong thánh ý của Ngài, tức sự thuận tùng Hukam và Bhana) và Sarbat da bhala (ਸਰਬੱਤ ਦਾ ਭਲਾ): cầu xin điều tốt lành, thịnh vượng cho tất cả mọi người, mọi sinh linh, không phân biệt tôn giáo, chủng tộc, quốc gia hay bạn thù.
Bước sang phần Kirtan Sohila (trang 12 Guru Granth Sahib), bài thơ đầu tiên của Guru Nanak đặt trong điệu Raga Gauri Dipaki mở ra hình ảnh ngôi nhà nơi tiếng hát Sohila vang lên. Trong phong tục vùng Punjab, đêm trước ngày cô dâu rời nhà cha mẹ đẻ để về nhà chồng, gia đình và hàng xóm thức suốt đêm hát những khúc ca sohila vừa chúc phúc vừa bịn rịn chia tay. Ở các câu tiếp theo của bài thơ này (từ khổ 2 tới khổ 4 tại Ang 12), Guru Nanak gọi thẳng linh hồn con người là người thiếu nữ sắp đến ngày vu quy, còn giờ khắc cái chết được định sẵn chính là ngày rước dâu về nhà Đấng Phu Quân Tối Cao. Nhờ ẩn dụ ấy, mỗi tối khi đọc Kirtan Sohila trên giường trước khi ngủ, người tín đồ tập buông xả nỗi sợ chết, biến bóng đêm thành phòng hoa chúc của tâm hồn.
Bài thứ ba của Kirtan Sohila (Raga Dhanasari, Ang 13) là một trong những kiệt tác thi ca tôn giáo vĩ đại nhất của tiểu lục địa Ấn Độ, từng được nhà thơ đoạt giải Nobel Rabindranath Tagore ca ngợi là bài quốc ca của toàn vũ trụ. Theo truyền thống Janamsakhi, khi Guru Nanak đi hành hương tới ngôi đền Jagannath ở Puri (bang Odisha), các giáo sĩ mời ngài đứng dậy cầm mâm đồng bày đèn bơ, hoa tươi và trầm hương để xoay tròn làm lễ Arti trước pho tượng thần. Guru Nanak bước ra ngoài hiên đền nhìn lên bầu trời đêm đầy sao và cất tiếng hát bài này: tại sao phải dùng chiếc mâm đồng nhỏ bé khi chính vòm trời xanh (gagan) đã là chiếc mâm lễ khổng lồ, mặt trời và mặt trăng (ravi chandu) là đôi ngọn đèn vĩnh cửu, các dải ngân hà (tarika mandal) là chuỗi ngọc trai, làn gió thổi qua rừng đàn hương trên dãy núi Malaya (malaanalo) là khói nhang tự nhiên, gió bốn phương là chiếc phất trần (chavaro), muôn loài thảo mộc trổ hoa là lễ phẩm ánh sáng, và âm thanh nguyên thủy không do gõ chạm (anahata sabad) đang tự ngân vang làm tiếng trống lễ?
Bài thứ năm của Guru Arjan Dev khép lại Kirtan Sohila bằng một lời nhắc nhở dịu dàng mà thức tỉnh lúc canh khuya: Audh ghatai dinu rati (Tuổi thọ con người đang vơi cạn dần qua từng ngày và từng đêm). Một ngày vừa trôi qua không phải là ta vừa thêm một ngày tuổi, mà là quỹ thời gian làm người trên mặt đất vừa bớt đi một ngày. Nhưng thay vì gieo nỗi bi quan, Guru Arjan chỉ ra ngay con đường: hãy dùng thân người này để phụng sự những bậc thánh thiện, đón nhận Danh Chúa để tìm thấy cung điện an lạc tự nhiên (sukh sahaje) ngay trong ngôi nhà chân thật của chính mình (nij ghari), và khép lại một ngày sống bằng ước nguyện khiêm cung nhất: xin làm hạt bụi dưới chân những người hiền (santan ki dhure).
IVKý Ức Tập Thể Và Triết Lý Sarbat Da Bhala Trong Bài Ardas
Trong lịch sử tôn giáo học đối chiếu, hiếm có một bản kinh cầu nguyện nào mang cấu trúc giống như bài Ardas của Đạo Sikh. Thông thường, các bài kinh cầu nguyện cổ điển chỉ gồm lời tán dương thần linh và lời cầu xin ân sủng. Bài Ardas thì dành trọn phần trung tâm dài nhất của mình để đọc lại một bản tổng kết lịch sử đẫm máu nhưng bất khuất của cộng đồng tín hữu.
Các học giả nghiên cứu đạo Sikh như Pashaura Singh và Louis E. Fenech chỉ ra rằng: bằng cách buộc mọi buổi lễ lớn nhỏ (từ lễ đặt tên cho trẻ sơ sinh, lễ cưới Anand Karaj, lễ khởi công một ngôi nhà cho tới buổi lễ hàng ngày tại gurdwara) đều phải đọc qua đoạn tưởng niệm những người đã bị cưa đôi thân thể, bị lột da đầu và bị trói lên bánh xe răng cưa, bài Ardas biến ký ức lịch sử thành hơi thở hiện tại. Người tín đồ đang gặp khó khăn về kinh tế hay bệnh tật khi đứng nghe Ardas sẽ tự thấy thử thách của mình trở nên nhẹ nhàng khi đặt cạnh sự hy sinh của bốn người con trai Guru Gobind Singh và các vị tử đạo thế kỷ 18.
Điểm làm nên tầm vóc đạo đức đặc biệt của bài Ardas nằm ở sự chuyển hóa cảm xúc từ câu thứ tám sang câu thứ mười ba. Sau khi vừa nhắc lại những cuộc bức hại tàn khốc nhất mà cộng đồng mình từng gánh chịu, cũng như nhắc tới nỗi đau bị chia lìa khỏi thánh địa Nankana Sahib năm 1947, bài cầu nguyện hoàn toàn không có lấy một chữ cầu xin sự trả thù hay trừng phạt kẻ thù. Trái lại, toàn bộ năng lượng của ký ức đau thương ấy được dẫn thẳng về hai câu kết: Nanak Naam Chardi Kala, Tere Bhane Sarbat Da Bhala (Nhờ Danh Ngài mà tinh thần vươn cao mãi mãi; trong thánh ý Ngài, cầu xin phúc lành cho toàn thể muôn loài). Chữ Sarbat (ਸਰਬੱਤ) nghĩa là tất cả không chừa một ai, bao gồm cả người ngoại đạo và cả những kẻ từng gây khổ đau cho mình.
Mười dòng đầu tiên tưởng niệm từ Bhagauti và Guru Nanak tới Guru Gobind Singh cùng Guru Granth Sahib. Theo điều IV chương III của Sikh Rehat Maryada, không một cá nhân hay hội đồng nào được phép thay đổi phần này.
Gồm ba đoạn văn xuôi tưởng niệm Panj Pyare, Char Sahibzade, Chali Mukte, các vị tử đạo nam nữ và năm tòa Takht. Cuối mỗi đoạn, người chủ lễ hô Bolo ji Waheguru và toàn thể hội chúng đồng thanh đáp Waheguru.
Sau lời cầu bảy hồng ân và lời cầu cho Nankana Sahib, người xướng lễ có thể thêm vài câu cầu nguyện cụ thể cho mục đích của buổi tụ họp hôm ấy (cầu sức khỏe, tạ ơn sau khi đọc xong kinh, cầu cho đôi tân hôn hoặc người vừa qua đời) trước khi đọc câu kết chuẩn.
Sau khi dứt câu Sarbat da bhala, toàn thể hội chúng quỳ xuống chạm trán sát đất (matha tekna) trước Guru Granth Sahib, rồi đứng dậy hô lời chào Khalsa và tiếng hô Bole so nihal, Sat Sri Akal, trước khi lắng nghe câu kinh chỉ dẫn trong ngày (Hukamnama) và nhận phần bánh ngọt Karah Prasad.
VKirtan Sohila Trong Đời Sống Đêm Khuya, Lễ Sukhasan Và Lễ Tiễn Biệt
Trong cấu trúc thời gian thiêng của Nghi Lễ Đạo Sikh, mỗi ngày được khung lại bởi hai nghi lễ đối xứng nhau quanh bộ kinh sống Sri Guru Granth Sahib. Buổi sáng sớm trước bình minh là lễ Prakash (khai mở ánh sáng): bộ kinh được rước từ phòng nghỉ ra đặt lên bảo tọa Palki Sahib và mở ra đọc bài Hukamnama đầu ngày. Khi màn đêm buông xuống và mọi khóa lễ chiều tối (Rehras Sahib và Ardas) đã hoàn tất, ngôi đền bước vào nghi lễ Sukhasan (ਸੁਖਆਸਨ, nghĩa đen là tư thế nghỉ ngơi an lạc): khép bộ kinh lại và rước về phòng nghỉ riêng mang tên Sachkhand (Cõi Chân Thật).
Bài kinh được tụng vang lên trong chính nghi lễ Sukhasan ấy là Kirtan Sohila. Tại Đền Vàng Amritsar (Harmandir Sahib), vào khoảng chín rưỡi tới mười giờ đêm tùy theo mùa, khi các vị chức sắc bắt đầu đọc năm bài của Kirtan Sohila, bộ kinh Guru Granth Sahib được kính cẩn khép lại, bọc trong những tấm lụa thêu kim tuyến sạch thơm, đặt lên chiếc kiệu vàng rước qua cầu Causeway về nghỉ đêm tại tòa Akal Takht. Đối với từng cá nhân người Sikh ở nhà, Kirtan Sohila được đọc ngay trên giường trước khi nhắm mắt ngủ, như một bức màn ánh sáng bảo vệ tâm thức suốt đêm dài.
Ngoài việc đọc mỗi đêm trước khi ngủ và trong lễ Sukhasan, Kirtan Sohila còn giữ một vị trí thiêng liêng đặc biệt thứ ba: đây là bài kinh được đọc ngay tại lễ hỏa táng (Antam Sanskar) khi ngọn lửa vừa được châm lên giàn thiêu tiễn biệt một người Sikh qua đời, rồi khép lại bằng bài Ardas cuối cùng. Việc dùng cùng một bài kinh cho cả giấc ngủ mỗi đêm lẫn giấc ngủ ngàn thu thể hiện trọn vẹn triết lý của Guru Nanak: cái chết đối với người đã sống trong Danh Chúa chỉ nhẹ nhàng như việc khép lại một ngày lao động để trở về ngôi nhà thật sự của mình (nij ghari mahalu pavahu sukh sahaje).
Xét về mặt âm nhạc học của truyền thống Gurmat Sangeet, dù trong bộ Guru Granth Sahib cả năm bài thơ của Kirtan Sohila đều được ghi rõ tên điệu nhạc Raga (Gauri Dipaki, Asa, Dhanasari và hai bài Gauri Purbi), trong thực hành hàng ngày của tín đồ, Kirtan Sohila thường được đọc thành lời nhịp nhàng (path) giống như bài Japji Sahib buổi sáng, để mọi người dù không thông thạo nhạc lý cổ điển vẫn có thể tự tụng niệm trên giường trước khi ngủ.
VINhững Chỗ Hay Hiểu Lầm
Do bài Ardas và Kirtan Sohila chứa nhiều thuật ngữ lịch sử và ẩn dụ thi ca vùng Punjab, người quan sát từ bên ngoài thường dễ vướng vào năm hiểu lầm phổ biến dưới đây.
Trong thần học Sikh và từ điển chuẩn Mahan Kosh, chữ Bhagauti trong câu Pritham Bhagauti simari kai của Guru Gobind Singh không chỉ một nữ thần nhân hình, mà là danh xưng chỉ quyền năng sáng tạo tối cao của Akal Purakh (Thượng Đế Duy Nhất) đồng thời biểu trưng cho thanh gươm công lý và trí tuệ.
Không phải. Khổ thơ mở đầu của Ardas được trích từ bài Chandi di Var trong bộ Dasam Granth gắn với Guru Gobind Singh, còn phần văn xuôi tưởng niệm lịch sử phía sau do cộng đồng Khalsa đúc kết qua nhiều thế kỷ và được chuẩn hóa trong bộ quy tắc Sikh Rehat Maryada. Kirtan Sohila mới là văn bản nằm ở trang 12 và 13 của Guru Granth Sahib.
Trong suốt buổi hát Kirtan hay nghe giảng Katha, hội chúng đều ngồi xếp bằng trên thảm. Nhưng ngay khi bắt đầu bài Ardas, tất cả mọi người có mặt (trừ người bệnh nặng hoặc tàn tật không thể đứng) đều bắt buộc phải đứng thẳng dậy, chắp hai tay trước ngực và hướng mặt về phía Guru Granth Sahib.
Hoàn toàn ngược lại. Đoạn văn ấy nhằm nhắc người tín đồ nhớ tới cái giá của tự do tín ngưỡng và phẩm giá con người, rồi ngay lập tức chuyển hóa toàn bộ ký ức ấy thành lời cầu nguyện không một chút oán thù ở cuối bài: Tere bhane sarbat da bhala, cầu xin phúc lành cho tất cả mọi người trên thế gian.
Trong truyền thống Sikh, bài Gagan Mai Thal (Ang 13) của Guru Nanak thực chất là lời từ chối nghi thức xoay mâm đèn dầu trước tượng thần hữu hình, để mở mắt người nghe nhìn thấy cả vũ trụ bao la với mặt trời, mặt trăng, tinh tú và gió ngàn đang cử hành một đại lễ Arti tự nhiên không ngừng nghỉ trước Đấng Tạo Hóa Vô Hình.
?Hỏi Đáp Nhanh
Kinh Ardas trong Đạo Sikh là gì và được đọc vào lúc nào
Ardas là bài cầu nguyện chung chính thức của Đạo Sikh. Bài được đọc khi toàn thể hội chúng đứng thẳng, chắp tay hướng về bộ kinh Guru Granth Sahib vào cuối mọi khóa lễ tại gurdwara, sau khi đọc xong các bài kinh nhật tụng (Nitnem), và trước hoặc sau bất kỳ sự kiện trọng đại nào trong đời người Sikh như lễ đặt tên, lễ nhập đạo Amrit Sanskar, lễ cưới, khởi sự công việc hay lễ hỏa táng.
Câu kết Nanak Naam Chardi Kala, Tere Bhane Sarbat Da Bhala nghĩa là gì
Đây là câu kết bất hủ của mọi bài Ardas. Chardi Kala nghĩa là trạng thái tinh thần vươn cao, lạc quan, kiên cường không bao giờ suy sụp nhờ gắn kết với Danh Chúa (Naam). Tere Bhane là thuận theo thánh ý của Thượng Đế, và Sarbat Da Bhala là cầu xin phúc lành, bình an và thịnh vượng cho toàn thể nhân loại cùng muôn loài chúng sinh không phân biệt tôn giáo hay biên giới.
Kirtan Sohila gồm mấy bài và của những vị Guru nào
Kirtan Sohila (nằm ở trang 12 và 13 của Sri Guru Granth Sahib) gồm 5 bài thơ ngắn (shabad): 3 bài đầu là sáng tác của Guru Nanak (trong các điệu Raga Gauri Dipaki, Raga Asa và Raga Dhanasari), bài thứ 4 là của Guru Ram Das (Raga Gauri Purbi) và bài thứ 5 là của Guru Arjan Dev (Raga Gauri Purbi).
Vì sao người Sikh đọc Kirtan Sohila cả trước khi đi ngủ lẫn trong đám tang
Trong giáo lý Sikh, giấc ngủ mỗi đêm và cái chết cuối đời đều là sự buông nghỉ chiếc áo thể xác sau một chặng hành trình. Đọc Kirtan Sohila mỗi tối giúp tâm trí gột sạch nỗi sợ hãi để an giấc trong sự che chở của Đấng Vô Úy (Nirbhau), còn đọc tại lễ hỏa táng (Antam Sanskar) là lời tiễn đưa linh hồn người quá cố về sum họp an lạc nơi ngôi nhà chân thật của Thượng Đế như cô dâu về nhà chồng.
Panj Pyare, Char Sahibzade và Chali Mukte được nhắc trong bài Ardas là ai
Panj Pyare là Năm Người Yêu Dấu đầu tiên hiến mình nhận lễ nhập đạo Khalsa từ tay Guru Gobind Singh năm 1699. Char Sahibzade là bốn người con trai ruột của Guru Gobind Singh đã hy sinh vì bảo vệ chính pháp (hai người anh tử trận tại Chamkaur, hai người em bị xây tường sống tại Sirhind). Chali Mukte là Bốn Mươi Vị Giải Thoát đã chiến đấu hy sinh tại Muktsar năm 1705.
Vì sao trong bài Ardas lại nhắc tới địa danh Sri Nankana Sahib
Sri Nankana Sahib là nơi sinh của Guru Nanak, vị sáng lập Đạo Sikh. Khi tiểu lục địa Ấn Độ bị chia cắt thành Ấn Độ và Pakistan vào tháng 8 năm 1947, Nankana Sahib cùng nhiều ngôi đền lịch sử khác nằm lại bên lãnh thổ Pakistan khiến đa số tín đồ Sikh không thể tự do tới hành hương. Từ đó, bài Ardas bổ sung lời cầu nguyện hòa bình xin cho cộng đồng được tự do chiêm bái và chăm sóc các thánh địa này.