Đứng ở sân đền Đông Cuông nhìn ra, quý vị thấy ngay dòng sông Hồng. Ở đoạn này sông uốn thành một vòng cung như nửa vầng trăng, ôm lấy bến đền, bên kia sông là dãy đồi rừng xanh thẫm của Văn Yên. Tên thôn là Bến Đền, và đúng là đền nằm trên bến, xưa kia người ta tới đây bằng thuyền nhiều hơn bằng đường bộ.
Nơi này thờ Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn, vị Mẫu cai quản miền rừng núi trong điện thần Tứ Phủ. Nhiều nguồn Đạo Mẫu gọi Đông Cuông là đền chính của Mẫu Thượng Ngàn, và mỗi năm người hầu đồng từ đồng bằng ngược sông lên đây vào dịp đầu xuân. Bài này nói vì sao, đồng thời đặt cạnh nhau ba dị bản về Mẫu ở ba nơi thờ lớn.

IMẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn và ba dị bản
Vị thờ chính là Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn, báo Nhân Dân gọi là Mẫu Thượng ngàn, Mẫu Đệ nhị trong tục thờ Mẫu Tam phủ. Tạp chí Nghiên cứu Phật học, trong bài của tác giả Đặng Xuân Xuyến, chép danh xưng Đông Cuông Công Chúa. Báo Tiền Phong dẫn sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn ghi thêm các danh xưng Đông Quang Công Chúa, Bà chúa Đông Cuông, Lê Mại Đại Vương và Lâm Cung Thánh Mẫu. Theo cổng du lịch Yên Bái và báo Tiền Phong, đền còn có tên là đền Thần Vệ quốc theo sắc phong triều Nguyễn, phối thờ Thần Vệ Quốc và các thủ lĩnh địa phương người Tày Khao từng giữ đất vùng Quy Hóa thời Trần như Hà Đặc, Hà Chương, Hà Bổng. Quanh đền chính là miếu Cô, miếu Cậu, tòa Sơn Trang, miếu thần linh và miếu Đức Ông ở bờ đối diện bên kia sông. Bốn chữ Hán ở đầu trang ghi danh xưng Thượng Ngàn Thánh Mẫu, do thư viện suy ra, không chép từ hoành phi.
Trong điện thần Tứ Phủ, Mẫu Thượng Ngàn đứng hàng Mẫu, thứ hai trong Tam tòa Thánh Mẫu, cai quản Nhạc phủ là miền rừng núi, sắc xanh. Dưới Mẫu, Nhạc phủ có cả một hàng thánh quen với người hầu đồng như Chầu Đệ Nhị, Chầu Bé, Cô Bé Thượng Ngàn, các cô Sơn Trang. Lễ vật của rừng, sắc xanh của khăn áo, những bản văn nói về núi, về suối, về muông thú là dấu nhận của ngôi Mẫu này ở bất cứ đền nào thờ Mẫu.
Về nguồn gốc Mẫu Thượng Ngàn, trang hatvan.vn ghi ba dị bản gắn với ba nơi thờ lớn, cả ba đều là truyền thuyết.
Ở Đông Cuông, truyền thuyết địa phương kể Mẫu là bà Lê Thị Kiểm, vợ ông Hà Văn Thiên, người của chính vùng này. Báo Tiền Phong còn dẫn sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn chép rằng đền thờ Đông Quang Công Chúa giúp dân lập bản, dạy dân bách nghệ, chữa bệnh, cứu đói, đời Lê Thái Tổ được phong là Lê Mại Đại Vương. Ở Bắc Lệ, Lạng Sơn, Mẫu là công chúa La Bình, con Sơn Tinh, được phong chúa Thượng Ngàn coi tám mươi mốt cửa rừng. Ở Suối Mỡ, Mẫu là Mỵ Nương Quế Hoa, con vua Hùng Định Vương, vào rừng tu tiên cùng mười hai thị nữ.
Cổng du lịch Yên Bái kể thêm một lớp nữa, người Tày ở vùng này coi Mẫu Đông Cuông là bà mẹ khởi đầu, về sau thành Mẹ Xứ Sở. Lớp ấy cho thấy ở Đông Cuông, việc thờ Mẫu không chỉ là việc của người Kinh ngược sông lên, mà chồng lên một lớp thờ bà mẹ của cư dân bản địa.
Nhiều người hỏi đâu mới là đền chính của Mẫu Thượng Ngàn. Câu trả lời trung thực là mỗi nơi được một nhóm nguồn gọi là chính. Tạp chí Nghiên cứu Phật học và hatvan.vn ghi Đông Cuông là nơi thờ chính, hatvan.vn còn ghi đây được coi là nơi Mẫu giáng sinh và ngự. Giới thanh đồng lại coi Bắc Lệ là cửa đền phải về trình, và người thờ Mẫu theo dị bản Quế Mỵ Nương coi Suối Mỡ là nơi gắn với đời Mẫu. Ba nơi giữ ba câu chuyện, không nơi nào phủ nhận nơi nào. Thư viện đặt cạnh nhau để quý vị tự thấy.
IITừ miếu thần núi tới ngôi đền bên bến
Năm khởi dựng chưa khảo được. Đền còn giữ 4 đạo sắc phong cùng đôi chum gốm sứ và chiêng đồng cổ, theo cổng du lịch Yên Bái. Trang mia.vn kể nơi này thoạt đầu là miếu nhỏ thờ thần núi rừng, đời Lê thành đình, đời Nguyễn thành đền. Lời kể ấy chưa có sử liệu đối chứng, thư viện ghi lại kèm nhãn để quý vị biết đó là lời kể, không phải niên biểu đã khảo.
- Chưa rõMiếu thờ thần núi rừngTheo lời kể mà mia.vn chép, lớp thờ sớm nhất là một miếu nhỏ. Chưa có văn bản xác định niên đại.
- Đời Lê, đời NguyễnTừ đình thành đềnCũng theo mia.vn, miếu thành đình đời Lê rồi thành đền đời Nguyễn. Bốn đạo sắc phong còn giữ cho thấy đền được triều đình ghi nhận.
- 1995 hoặc 2003Phục dựngNguồn ghi hai mốc gần nhau, mia.vn ghi phục dựng từ năm 1995, cổng du lịch Yên Bái ghi từ năm 2003.
- 2000Di tích cấp tỉnhĐền được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, theo Nhân Dân.
- 2009Di tích quốc giaNgày 22 tháng 1, đền được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia theo Quyết định số 296/QĐ-BVHTTDL, theo báo Tiền Phong.
- 2016UNESCO ghi danhThực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
- 2023Lễ hội thành di sản quốc giaNgày 16 tháng 1, Lễ hội đền Đông Cuông vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 73/QĐ-BVHTTDL. Năm 2025, tỉnh Yên Bái hợp nhất với tỉnh Lào Cai theo Nghị quyết 202/2025/QH15, và bốn xã Quang Minh, An Bình, Đông An, Đông Cuông cũ hợp nhất thành xã Đông Cuông mới theo Nghị quyết 1673/NQ-UBTVQH15.
Hai chỗ tư liệu vênh nhau, xin ghi thẳng.
Năm phục dựng gần đây. Hai nguồn cách nhau tám năm, mia.vn ghi từ 1995, cổng du lịch Yên Bái ghi từ 2003. Có thể hai con số chỉ hai giai đoạn khác nhau của quá trình cho phép tôn tạo và dựng lại đền, nhưng chưa nguồn nào nói rõ, nên thư viện ghi cả hai.
Tả ngạn hay hữu ngạn sông Hồng. Theo chiều dòng chảy sông Hồng từ bắc xuống nam, thôn Bến Đền nơi có đền chính nằm ở bờ trái tức tả ngạn, còn miếu Đức Ông (miếu Ghềnh Ngai) nằm ở bờ phải tức hữu ngạn đối diện qua sông. Cổng thông tin tỉnh Lào Cai ghi đúng đền chính ở tả ngạn và miếu Đức Ông ở hữu ngạn, trong khi cổng du lịch Yên Bái cũ và một đoạn trong bài báo Tiền Phong lại viết đền chính ở hữu ngạn và miếu Ghềnh Ngai ở tả ngạn. Bài ghi rõ cả hai cách chép và đối chiếu theo chiều dòng chảy thực tế.
IIIĐền chữ Đinh và các miếu quanh sân
Theo Tiền Phong, đền chính dựng theo lối chữ Đinh, gồm tòa đại bái ở ngoài và cung cấm ở trong. Quanh đền chính là một cụm miếu nhỏ, mỗi miếu dành cho một hàng thánh, và bên kia sông có thêm miếu Đức Ông. Cách bày ấy là lối quen của các đền Tứ Phủ lớn, ngôi chính dành cho Mẫu, các hàng Cô, Cậu, Sơn Trang có chỗ ngự riêng, người đi lễ đi một vòng là trình đủ các hàng.
Tòa ngoài của đền chính, nơi tế lễ và nơi các vấn hầu đồng diễn ra trong mùa hội.
Tòa trong, thờ Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn. Tiền Phong ghi đền còn nhiều pho tượng cổ.
Hai miếu thờ hàng Cô và hàng Cậu, các vị trẻ tuổi hầu cận Mẫu trong điện thần Tứ Phủ.
Nơi thờ các vị Sơn Trang của Nhạc phủ, hợp với một đền chính của Mẫu Thượng Ngàn.
Miếu thần linh trong khuôn viên thờ thần núi rừng bản địa, còn miếu Đức Ông (miếu Ghềnh Ngai) nằm đối diện bên kia sông Hồng thờ tướng Hà Đặc và các vị thủ lĩnh họ Hà.
Đền không lấy quy mô làm chính. Cái đáng nhìn là cách cả cụm miếu dàn theo bờ sông, lưng dựa vào đồi, mặt nhìn ra nước. Đứng trong sân, quý vị thấy cùng lúc mái đền, rừng phía sau và dòng sông phía trước, ba thứ mà một nơi thờ Mẫu Thượng Ngàn cần có.
IVThế đất và hướng
Chỉ riêng mục này mang tính kiến giải. Thư viện nhìn chỗ đứng của đền qua phép xem đất cổ truyền, có dẫn một cách gọi mà báo Tiền Phong đã chép, còn lại là lời đọc của thư viện chứ không phải điều ghi trong sắc phong hay truyền thuyết của đền.
Báo Tiền Phong mô tả chỗ đứng của đền là thế tán phong tụ thủy, nghĩa là gió được tản ra còn nước thì tụ lại. Theo phép xem đất, gió mạnh làm khí tan, nước tụ làm khí dừng, nên một nơi gió dịu mà nước ôm là nơi được chuộng để đặt nhà thờ tự. Ở Đông Cuông, cái tụ thủy thấy được bằng mắt, khi sông Hồng uốn hình bán nguyệt ngay trước mặt đền. Sách phong thủy gọi dòng nước ôm vòng trước chỗ đất là nước hữu tình, khác với dòng nước chảy thẳng qua hay quay lưng bỏ đi.
Thứ hai là thế tựa núi, nhìn sông. Đền Mẫu Thượng Ngàn thường tựa rừng núi, và đền Đông Cuông cũng vậy, lưng là đồi rừng của Văn Yên. Nhưng khác Bắc Lệ nằm trên đồi giữa rừng, hay Suối Mỡ nằm trong thung lũng suối, Đông Cuông đặt Mẫu rừng núi ngay bên dòng sông lớn nhất miền Bắc. Lối ấy gần với khuôn mẫu tựa sơn hướng thủy của sách vở hơn cả, núi là chỗ dựa, sông là minh đường.
Thứ ba là vai của con sông trong đời sống đền. Trong ngày hội, kiệu Mẫu được rước qua sông Hồng sang miếu Ghềnh Ngai rồi trở về. Nhìn theo lối cổ truyền, đó là lần Mẫu của Nhạc phủ đi qua miền của Thoải phủ rồi quay lại, nối núi với nước. Thư viện nói rõ đây là cách đọc, còn với dân địa phương, rước qua sông trước hết là nghi thức của hội làng.
Sau cùng, một điều giản dị là Đông Cuông nằm đúng trên đường sông mà người miền xuôi xưa kia ngược lên vùng cao. Đất có thế lại có đường tới, hai thứ ấy cùng giải thích vì sao một ngôi đền ở tận Văn Yên trở thành chỗ người hầu đồng đồng bằng tìm về mỗi mùa xuân.
VHội ngày Mão đầu xuân
Hội đền Đông Cuông không cố định theo một ngày số mà theo ngày Mão đầu tiên sau Tết, một lối chọn ngày theo can chi của lịch cổ. Năm 2024, theo báo Nhân Dân, lễ hội diễn ra vào ngày 11 và 12 tháng Giêng âm lịch (tức ngày 20 và 21 tháng 2 dương lịch). Phần lễ truyền thống gồm nghi lễ đón ông Mo về đền, lễ mổ trâu trắng tế Mẫu (treo tại cây mít cổ thụ trước cửa đền chính vào giờ đầu ngày Mão), lễ dâng chúc văn, lễ rước kiệu Mẫu qua sông Hồng sang miếu Ghềnh Ngai và lễ cúng chính tiệc. Người hầu đồng thì về đền suốt từ tháng Giêng tới tháng Ba âm lịch và dịp cuối năm từ tháng Tám tới tháng Chạp.
| Thời điểm âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Ngày Mão đầu tiên sau Tết | Hội chính đầu xuân | Nghi lễ đón ông Mo, lễ dâng trâu trắng tế thần tại cây mít cổ thụ trước đền chính, lễ dâng chúc văn, lễ rước kiệu Mẫu qua sông Hồng sang miếu Ghềnh Ngai, các trò chơi dân gian và múa xòe của phụ nữ Tày Khao. |
| Tháng Giêng tới tháng Ba | Mùa hầu đồng đầu năm | Người hầu đồng các nơi về đền trình Mẫu, các vấn hầu và hát chầu văn nối nhau. |
| Tháng Chín | Lễ Cơm mới | Lễ mùa thu dâng cơm mới và nghi lễ tế trâu đen tại đền chính, kết hợp liên hoan hát chầu văn. |
| Tháng Tám tới tháng Chạp | Mùa lễ tạ cuối năm | Các bản hội và thanh đồng về đền lễ tạ Mẫu cuối năm theo VietnamPlus. |
Hội Đông Cuông mang rõ dấu của hai cộng đồng. Lớp Tứ Phủ hiện ra trong hầu đồng và hát chầu văn. Lớp Tày Khao hiện ra trong nghi lễ đón ông Mo, múa xòe và lễ Cơm mới. Trong lễ đón bằng di sản đầu năm 2023, có ba trăm phụ nữ Tày Khao cùng diễu rước và múa xòe cổ hầu Mẫu tại sân đền. Lễ hội được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia ngày 16 tháng 1 năm 2023 theo Quyết định số 73/QĐ-BVHTTDL, còn thực hành hầu đồng ở đây thuộc không gian Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ được UNESCO ghi danh năm 2016. Điều được ghi danh là tập quán văn hóa, không phải một phán xét về niềm tin.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Thôn Bến Đền, xã Đông Cuông (các xã Quang Minh, An Bình, Đông An, Đông Cuông cũ nhập lại năm 2025 theo Nghị quyết 1673/NQ-UBTVQH15, huyện Văn Yên cũ, tỉnh Yên Bái cũ), tỉnh Lào Cai, bên bờ tả ngạn sông Hồng
- Đường tới
- Nằm ở thôn Bến Đền, xã Đông Cuông, tỉnh Lào Cai (huyện Văn Yên cũ, tỉnh Yên Bái cũ), sát bờ sông Hồng, trên đường từ miền xuôi ngược lên vùng cao.
- Toạ độ
- 21.932, 104.6067
Đền đông nhất vào hội ngày Mão và suốt mùa xuân. Lệ của đền là ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào đại bái và cung cấm, đi một vòng qua các miếu theo lệ trình. Khi kiệu rước ra bến, xin quý vị nhường lối. Gặp vấn hầu, đứng ngoài chiếu hầu, không cắt ngang giữa thanh đồng với ban thờ.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Đông Cuông
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đền Đông Cuông thờ ai
Thờ Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn, vị Mẫu đứng đầu Nhạc phủ là miền rừng núi, sắc xanh, trong điện thần Tứ Phủ. Tạp chí Nghiên cứu Phật học chép danh xưng Đông Cuông Công Chúa, sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn chép danh xưng Đông Quang Công Chúa, Lê Mại Đại Vương. Đền còn có tên là đền Thần Vệ quốc, phối thờ Thần Vệ Quốc và các thủ lĩnh người Tày Khao thời Trần như Hà Đặc, Hà Chương, Hà Bổng.
Đền chính của Mẫu Thượng Ngàn ở đâu
Mỗi nơi được một nhóm nguồn gọi là chính. Tạp chí Nghiên cứu Phật học và hatvan.vn ghi Đông Cuông là đền chính, nơi Mẫu giáng sinh và ngự. Giới thanh đồng coi Bắc Lệ ở Lạng Sơn là cửa đền phải về trình. Suối Mỡ gắn với dị bản Quế Mỵ Nương.
Mẫu Thượng Ngàn ở Đông Cuông là ai theo truyền thuyết
Truyền thuyết địa phương kể Mẫu là bà Lê Thị Kiểm, vợ ông Hà Văn Thiên, còn sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn chép đền thờ Đông Quang Công Chúa dạy dân lập bản, chữa bệnh, được vua Lê Thái Tổ phong Lê Mại Đại Vương. Người Tày trong vùng coi Mẫu là bà mẹ khởi đầu, về sau thành Mẹ Xứ Sở. Ở Bắc Lệ Mẫu là công chúa La Bình, ở Suối Mỡ là Mỵ Nương Quế Hoa. Cả ba đều là truyền thuyết.
Lễ hội đền Đông Cuông diễn ra ngày nào
Vào ngày Mão đầu tiên sau Tết âm lịch (năm 2024 rơi vào 11 và 12 tháng Giêng). Hội có nghi lễ đón ông Mo, lễ tế trâu trắng tại cây mít cổ thụ trước đền chính, lễ rước kiệu Mẫu qua sông Hồng sang miếu Ghềnh Ngai, trò chơi dân gian và múa xòe của phụ nữ Tày Khao. Mùa thu còn có lễ Cơm mới tháng Chín âm lịch.
Đền Đông Cuông được xếp hạng năm nào
Đền được xếp hạng di tích cấp tỉnh năm 2000, và di tích lịch sử văn hóa quốc gia ngày 22 tháng 1 năm 2009 theo Quyết định số 296/QĐ-BVHTTDL. Lễ hội đền Đông Cuông vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia ngày 16 tháng 1 năm 2023 theo Quyết định số 73/QĐ-BVHTTDL.