Đứng ở sân đền Cô Tân An, quý vị có dòng sông Hồng ngay trước mặt, nước đỏ phù sa chảy xuôi về phía đồng bằng. Bên kia sông là đất của đền Bảo Hà. Người đi lễ vùng này quen đi cả hai bờ trong một chuyến, lễ bên ấy xong thì qua sông sang bên này, và câu truyền miệng giải thích cái lệ ấy rất ngắn gọn là lễ Cha rồi phải lễ Con.
Vị được thờ ở đây là Cô Bé Tân An, một vị thuộc hàng Cô trong điện thần Tứ Phủ, được người trong đạo coi là một hóa thân của Cô Bé Thượng Ngàn ở miền Bảo Hà. Ngôi đền nhỏ, nhưng câu chuyện quanh nó không nhỏ, gồm một cơn lũ, hai ngôi đền cùng tên, và một lệ rước kiệu mà dân gọi là con gái mời cha về dự hội. Bài này đi lần lượt qua từng lớp ấy, và nói rõ lớp nào là sử liệu, lớp nào là lời kể.

ICô Bé Tân An trong điện thần Tứ Phủ
Câu hỏi đầu tiên của người mới tới thường là Cô ở đây là Cô nào. Câu trả lời gọn nhất là Cô Bé Tân An, tức vị Cô Bé mang tên đất Tân An. Chữ Bé trong hệ Tứ Phủ không chỉ tuổi mà chỉ thứ bậc, trong hàng Cô thì Cô Bé là vị nhỏ nhất của một tòa. Còn chữ Tân An là tên xã cũ nơi đền đứng, nay đã nhập vào xã Bảo Hà.
Các nguồn gọi vị này bằng nhiều tên. Văn nghệ Lào Cai gọi vị được thờ là Công chúa Thượng Ngàn hay Cô Bé Thượng Ngàn Công Chúa theo tín ngưỡng thờ Mẫu. Các trang Đạo Mẫu gọi là Cô Bé Tân An, và coi Cô là một hóa thân của Cô Bé Thượng Ngàn ở vùng này. Một trang Đạo Mẫu còn chép tên Cô Bảy Tân An với nghĩa là vị Cô hầu cận Ông Hoàng Bảy, chứ không phải vị Cô Bảy trong hàng Tứ Phủ Thánh Cô. Các cách gọi ấy không loại nhau vì nguồn chưa thống nhất một danh xưng.
Theo cách hệ Tứ Phủ tự sắp xếp thì dưới hàng Mẫu lần lượt là hàng Quan, hàng Chầu, hàng Ông Hoàng, rồi tới hàng Cô và hàng Cậu. Hàng Cô gồm những vị nữ thần trẻ tuổi hầu cận các Mẫu, mỗi vị thuộc một phủ, mang một sắc áo và một bản văn riêng.
Cô Bé Tân An thuộc Nhạc phủ, tức phủ Thượng Ngàn, miền rừng núi, sắc xanh, do Mẫu Thượng Ngàn cai quản. Tạp chí Nghiên cứu Phật học, trong bài của tác giả Đặng Xuân Xuyến về trật tự các giá hầu, viết rằng các vị Cô Bé đều là bộ nàng trên tòa Sơn Trang, hầu cận Mẫu Thượng Ngàn, và liệt Cô Bé Tân An ở Lào Cai vào hàng ấy.
Hai dị bản về thân thế của Cô
Về thân thế, có hai dị bản, và cả hai đều thuộc lớp truyền thuyết, không phải sử liệu.
Dị bản thứ nhất, phổ biến hơn, được Báo Lào Cai, các trang gia phả và trang Đạo Mẫu chép lại. Tương truyền Cô tên là Nguyễn Hoàng Bà Xa, con gái của vị được thờ ở đền Bảo Hà, sống vào cuối đời Lê khoảng niên hiệu Cảnh Hưng (1740 đến 1786). Theo lời kể, Cô theo cha lên giữ yên vùng biên thuộc phủ Quy Hóa, lo cho dân khẩn điền khai mỏ, chữa bệnh và lập bản, sau khi mất được dân lập đền thờ bên sông. Truyện kể ấy xếp Cô vào hàng thánh có công giúp dân giữ đất, và bài này chỉ ghi tới đó.
Dị bản thứ hai ít người biết hơn. Theo lời các thanh đồng cũ trong vùng mà một trang Đạo Mẫu ghi lại, ngôi đền có từ trước khi câu chuyện cha con được gắn vào, và vốn thờ một vị nữ thần Thượng Ngàn của đất này. Nếu đọc theo dị bản ấy thì lớp thờ nữ thần rừng núi là lớp gốc, còn lớp con gái của vị được thờ bên Bảo Hà là lớp đến sau. Thư viện không có văn bản nào để xét dị bản nào sớm hơn, nên ghi cả hai cạnh nhau.
Vì lệ rước kiệu gắn hai đền làm một, nhiều người hiểu rằng đền Cô Tân An là một phần của đền Bảo Hà. Theo tư liệu thì không phải. Đền Bảo Hà thờ Thần Vệ quốc Hoàng Bảy theo lớp thờ nhân thần, rồi mới có thêm lớp Tứ Phủ, phần này đã viết ở bài đền Bảo Hà. Đền Cô thờ một vị hàng Cô của Tứ Phủ ngay từ tên gọi. Hai nơi nối nhau bằng lời kể cha con và lệ rước kiệu, không phải bằng một hồ sơ di tích chung.
IIMột ngôi đền bên sông thành hai ngôi
Phải nói thẳng ngay từ đầu rằng năm khởi dựng đền chưa khảo được. Thư viện không tra thấy bia ký hay sắc phong nào cho biết đền dựng năm nào. Những mốc dưới đây chia làm hai loại, và xin quý vị đọc riêng từng loại, gồm mốc có văn bản hành chính hay báo chí đứng sau, và mốc chỉ có trang Đạo Mẫu chép lại.
- Chưa rõKhởi dựngChưa khảo được năm khởi dựng. Ngôi đền cũ được các trang Đạo Mẫu tả là một ngôi nhỏ bên bờ sông ở thôn Tân An II.
- Cuối đời LêThời của truyện kểDị bản phổ biến đặt thân thế của Cô vào cuối đời Lê. Đây là thời gian trong truyền thuyết, không phải năm dựng đền.
- 1971Lũ cuốn đền cũTheo các trang Đạo Mẫu, ngôi đền cũ bằng nứa lá bên sông ở thôn Tân An II bị lũ cuốn. Một số tượng được vớt lên và đưa về lập đền thờ ở thôn Tân An I. Chưa tra thấy nguồn chính thức về mốc này.
- 2006 hoặc 2010Di tích cấp tỉnhĐược xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Nguồn ghi hai quyết định ở hai năm khác nhau là Quyết định 3299/QĐ-UBND năm 2006 và Quyết định 655/QĐ-UBND ngày 19 tháng 3 năm 2010.
- Khoảng 2010Dựng lại trên nền cũTheo các trang Đạo Mẫu, ngôi đền ở vị trí bên sông được dựng lại vào khoảng năm này. Chưa tra thấy văn bản chính thức.
- 2016Di tích quốc giaĐược xếp hạng di tích lịch sử quốc gia theo Quyết định số 3743/QĐ-BVHTTDL ngày 28 tháng 10 năm 2016, Báo Lào Cai đưa tin lễ đón bằng ngày 9 tháng 11 năm ấy.
- 2016UNESCO ghi danhCuối năm ấy, Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Điều được ghi danh là tập quán thực hành, không phải riêng một ngôi đền.
- 2025Đổi địa giớiTheo Nghị quyết số 1673/NQ-UBTVQH15, xã Tân An và xã Tân Thượng của huyện Văn Bàn cũ nhập cùng các xã Bảo Hà, Kim Sơn, Cam Cọn của huyện Bảo Yên cũ thành xã Bảo Hà mới thuộc tỉnh Lào Cai. Từ đây đền Cô và đền Bảo Hà cùng nằm trong một đơn vị xã.
Ba chỗ tư liệu chưa khớp, xin ghi thẳng thay vì chọn bừa.
Năm xếp hạng cấp tỉnh và chuyện hai ngôi đền. Các trang Đạo Mẫu (tuphuthanhmau, thanhdongvietnam) chép rằng sau cơn lũ năm 1971 cuốn trôi ngôi đền nhỏ bằng nứa lá bên bờ sông ở thôn Tân An II, người dân vớt được một số tượng đưa về nhà bà Nguyễn Thị Dóc ở thôn Tân An I lập đền thờ. Cũng theo nguồn này, cuối năm 2006 Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai ra Quyết định số 3299/QĐ-UBND công nhận ngôi đền ở thôn Tân An I là di tích cấp tỉnh, rồi sau đó xã dựng lại ngôi đền bên sông ở thôn Tân An II. Trong khi đó, tư liệu hành chính của tỉnh Lào Cai lại ghi Đền Cô được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh theo Quyết định số 655/QĐ-UBND (có nơi in là 665/QĐ-UBND) ngày 19 tháng 3 năm 2010. Về thôn tọa lạc hiện nay, Văn nghệ Lào Cai ghi đền ở thôn Tân An 2, còn báo Nhân Dân năm 2025 ghi ở thôn Tân An 1. Thư viện chưa tra được toàn văn hai quyết định cấp tỉnh năm 2006 và năm 2010, nên ghi rõ cả hai mạch tư liệu.
Bờ phải hay bờ trái sông Hồng. Nhìn theo chiều sông Hồng chảy từ bắc xuống nam về phía xuôi, xã Tân An cũ nằm ở bờ phải tức hữu ngạn, còn đền Bảo Hà nằm ở bờ trái tức tả ngạn. Văn nghệ Lào Cai ghi đúng là đền Cô tọa lạc bên bờ hữu sông Hồng, nhưng một số trang tin khác lại viết ngược thành tả ngạn. Bài giữ cách gọi bờ phải tức hữu ngạn theo đúng thực địa dòng chảy.
Ngôi nào là ngôi cổ. Bản đồ số có một điểm mang tên Đền Cô Tân An (cổ), nhưng nhãn ấy do người dùng đặt, và điểm ấy cách đền Bảo Hà khá xa, trong khi các nguồn tả ngôi bên sông là ngôi đối diện đền Bảo Hà qua sông Hồng. Thư viện chưa đối chiếu được tại chỗ, nên không khẳng định ngôi nào là ngôi cổ. Điều chắc theo văn bản là ngôi được xếp hạng quốc gia theo Quyết định số 3743/QĐ-BVHTTDL ngày 28 tháng 10 năm 2016 mang tên Di tích lịch sử Đền Cô, thuộc xã Tân An, huyện Văn Bàn cũ.
IIINgôi đền nhỏ và các lớp ban thờ
Ngôi đền được xếp hạng là công trình dựng lại trên nền đền cũ vào khoảng cuối thập niên 2000, nên quý vị sẽ không gặp ở đây gỗ lim hay chạm khắc nhiều đời như ở các đền đồng bằng.
Một trang du lịch mô tả đền dựng theo mặt bằng chữ Đinh, gồm nhà đại bái ở ngoài và gian thờ chính cùng hậu cung ở trong. Đây là mô tả của nguồn du lịch, thư viện chưa thấy hồ sơ di tích nêu chi tiết. Văn nghệ Lào Cai cho biết trong đền có sảnh chính của tòa đại bái và các cung thờ, trang trọng nhất là cung thờ Công Chúa Thượng Ngàn.
Lớp nhà ngoài, nơi người đi lễ đặt lễ và dâng hương chung. Theo lệ chung của các đền Tứ Phủ, ban Công đồng ở lớp ngoài là ban được lễ trước.
Nơi bày các ban theo trình tự hành lễ của hệ Tứ Phủ, từ các vị hàng trên xuống các vị hàng dưới, để người hầu đồng có chỗ trình giá theo đúng thứ bậc.
Lớp trong cùng, đặt ban thờ Cô Bé Tân An. Không gian hẹp và kín hơn lớp ngoài, theo lối bố trí hậu cung quen của đền miếu người Việt.
Khoảng sân trước đền trông ra phía sông Hồng. Đoàn rước mùa hội tháng Giêng đi từ đền Cô sang bờ bên kia, nên lối từ sân ra sông là lối của cả cuộc rước.
Về chữ Hán ở đầu trang, bốn chữ Tân An Cô từ, nghĩa là đền Cô ở Tân An, là chữ thư viện suy ra từ tên đền, không phải chữ chép lại từ một tấm hoành phi hay bia đá tại đền mà thư viện đã đối chiếu được.
IVThế đất và hướng
Những dòng dưới đây là một cách đọc cảnh đất theo lối phong thủy cổ truyền mà thư viện dùng cho mọi nơi thờ tự. Không có văn bản nào của đền hay của hồ sơ di tích chép lý do chọn đất, nên quý vị xin coi đây là kiến giải của người viết.
Điều đáng chú ý trước tiên là một nghịch lý nhẹ, vị được thờ thuộc phủ rừng núi, nhưng ngôi đền lại đặt sát mép sông. Các đền Thượng Ngàn thường tựa lưng vào núi rừng, lấy cây xanh làm hậu chẩm. Ở Tân An thì rừng nằm phía sau và phía trên, còn trước mặt là dòng nước lớn. Đọc theo lối cổ truyền thì đây là thế sơn thủy giao hòa, núi ở sau, nước ở trước, nhưng cái nghiêng về phía nước ở đây mạnh hơn thường lệ.
Thứ hai là thế đối ngạn. Hai ngôi đền cha con được lời kể đặt ở hai bờ một dòng sông, nhìn nhau qua mặt nước. Con mắt phong thủy đọc những cặp công trình như vậy là một thế tương ứng, tức hai điểm gọi nhau, mà dòng nước ở giữa vừa ngăn vừa nối.
Thứ ba là cái giá của đất sát nước. Sông Hồng khúc thượng du lên xuống theo mùa, và cơn lũ mà trang Đạo Mẫu chép lại cho thấy chỗ đứng sát bờ sông có hai mặt. Nước trước mặt là minh đường, tụ khí và mở tầm nhìn, nhưng nước dâng quá mức thì chính minh đường ấy lấy mất nền đền. Việc một phần tượng được đưa lên ngôi trong rừng sau cơn lũ, đọc theo phong thủy, là một cách lùi về phía núi, trở về với phủ của chính vị được thờ.
Sau cùng là hướng. Không nguồn nào thư viện tra được ghi độ hướng của đền, nên bài không ghi. Với đền miếu ven sông của người Việt, mở cửa ra phía nước là lệ thường, vì nước vừa là đường đi lại vừa là nơi tụ khí.
VMùa hội tháng Giêng và lệ rước kiệu
Mùa hội của đền rơi vào giữa tháng Giêng âm lịch, kéo từ ngày 15 tới ngày 17, trong đó ngày 17 là chính hội. Theo Văn nghệ Lào Cai, từ rằm tháng Giêng đã có lễ cầu an thả đèn hoa đăng trên sông Hồng, lễ khao binh sĩ và lễ giỗ Cô. Đêm ngày 16 rạng sáng ngày 17, từ 23 giờ đêm tới 6 giờ sáng, nhà đền cử hành lễ mộc dục lau chùi tượng pháp, thay áo mũ mới cho tượng thờ, rồi làm lễ cáo yết, lễ khao ngũ hổ và lễ khao chúng sinh. Mục đích của hội, theo cách người tổ chức nói, là cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa.
| Thời điểm âm lịch | Lệ | Nội dung |
|---|---|---|
| Ngày 15 tháng Giêng | Mở mùa hội | Ngày đầu của mùa hội ba ngày, có lễ cầu an, thả đèn hoa đăng trên sông Hồng, lễ khao binh sĩ và lễ giỗ Cô. |
| Đêm 16 rạng sáng 17 tháng Giêng | Lễ mộc dục và tế đêm | Từ 23 giờ đêm tới 6 giờ sáng, làm lễ mộc dục lau chùi và thay áo mũ tượng thờ, tiếp theo là lễ cáo yết, lễ khao ngũ hổ, lễ khao chúng sinh. |
| Sáng ngày 17 tháng Giêng | Lễ rước kiệu sang đền Bảo Hà | Đoàn rước kiệu Công Chúa Thượng Ngàn, kiệu Vua Cha Ngọc Hoàng và kiệu Ông Hoàng Bảy từ đền Cô qua sông Hồng sang đền Bảo Hà làm lễ rồi rước về đền Cô. Dân gọi là con gái mời cha về dự hội. |
| Ngày 17 tháng Giêng | Chính hội | Lễ dâng hương, đọc chúc văn và tế dân gian tại sảnh chính tòa đại bái, sau đó là phần hội với thi mâm lễ dâng Cô và các trò chơi dân gian. |
| Các đêm hội | Văn nghệ và diễn xướng | Đêm văn nghệ chào mừng và trình diễn văn hóa các dân tộc Kinh, Tày, Mông, Dao, Xá Phó trong vùng. |
Kiệu Cô do sáu phụ nữ người Dao khiêng
Chi tiết riêng nhất của hội đền Cô là đoàn rước sang sông. Theo Báo Lào Cai năm 2025, đoàn rước gồm người của mười hai thôn trong xã Tân An cũ, đi từ đền Cô sang đền Bảo Hà, và kiệu Cô do sáu phụ nữ người Dao trong vùng khiêng. Tới nơi, đoàn làm lễ mời kiệu Ông Hoàng Bảy trong chừng gần một giờ, rồi rước kiệu ấy về đền Cô. Báo ghi đây là nghi lễ được người trong vùng giữ từ nhiều đời.
Điều đáng để ý là người khiêng kiệu, khi một lệ thờ Mẫu của người Việt, mà kiệu chính lại do phụ nữ người Dao khiêng. Ở vùng thượng du này, tín ngưỡng thờ Mẫu đã thành việc chung của nhiều dân tộc trong vùng.
Trước năm 2025, hai đền thuộc hai huyện khác nhau, nên lệ rước là cuộc đi của người xã này sang đất xã kia. Nay cả hai cùng thuộc xã Bảo Hà, nhưng cuộc rước vẫn phải sang một dòng sông. Về di sản, cần phân biệt rằng đền Cô là di tích lịch sử quốc gia, còn điều UNESCO ghi danh năm 2016 là Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ nói chung, không riêng lễ hội của đền này.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Xã Bảo Hà (xã Tân An cũ, huyện Văn Bàn cũ, nhập vào xã Bảo Hà mới năm 2025 theo Nghị quyết 1673/NQ-UBTVQH15), tỉnh Lào Cai, bờ phải sông Hồng
- Đường tới
- Đền nằm ở xã Bảo Hà, tỉnh Lào Cai, thuộc xã Tân An và huyện Văn Bàn cũ, bên bờ phải sông Hồng. Đền Bảo Hà ở bờ bên kia, người đi lễ thường ghép hai nơi trong một chuyến.
- Toạ độ
- 22.1631, 104.3639
Lệ của đền theo lệ chung của các đền Tứ Phủ, dâng hương ở ban Công đồng lớp ngoài trước, rồi mới vào các ban trong và ban Cô ở hậu cung. Người đi lễ vùng này quen lễ đền Bảo Hà trước rồi sang đền Cô, theo câu lễ Cha rồi lễ Con. Trong mùa hội tháng Giêng, khi đoàn rước tập hợp ở sân đền và xuống bến, xin quý vị nhường lối cho kiệu và không chen vào hàng người khiêng.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Cô Tân An
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đền Cô Tân An thờ ai
Thờ Cô Bé Tân An, một vị thuộc hàng Cô trong điện thần Tứ Phủ, thuộc Nhạc phủ tức phủ Thượng Ngàn, hầu cận Mẫu Thượng Ngàn. Người trong đạo coi Cô là một hóa thân của Cô Bé Thượng Ngàn ở vùng Bảo Hà, còn gọi là Cô Bảy Tân An (vị Cô hầu cận Ông Hoàng Bảy). Văn nghệ Lào Cai gọi vị được thờ là Công chúa Thượng Ngàn.
Cô Tân An có phải con gái Ông Hoàng Bảy không
Đó là lời kể phổ biến nhất, tương truyền Cô tên Nguyễn Hoàng Bà Xa, con gái của vị được thờ ở đền Bảo Hà, sống vào khoảng niên hiệu Cảnh Hưng (1740 đến 1786) cuối đời Lê. Nhưng còn một dị bản khác, theo lời các thanh đồng cũ, cho rằng đền có trước chuyện cha con và vốn thờ một nữ thần Thượng Ngàn. Cả hai đều là truyền thuyết, không phải sử liệu.
Vì sao có hai đền Cô Tân An
Theo các trang Đạo Mẫu, đền cũ bằng nứa lá bên sông ở thôn Tân An II bị lũ cuốn năm 1971. Một số tượng được vớt lên và đưa về lập đền thờ ở thôn Tân An I, được công nhận di tích cấp tỉnh cuối năm 2006 (Quyết định 3299/QĐ-UBND), rồi xã dựng lại ngôi đền bên sông ở thôn Tân An II. Trong khi đó tư liệu tỉnh ghi Quyết định 655/QĐ-UBND ngày 19 tháng 3 năm 2010 công nhận Đền Cô là di tích cấp tỉnh. Bài ghi rõ cả hai mạch nguồn và không tự khẳng định ngôi nào là ngôi cổ.
Lễ hội đền Cô Tân An ngày nào
Mùa hội từ ngày 15 tới ngày 17 tháng Giêng âm lịch, chính hội ngày 17. Từ rằm có lễ cầu an thả hoa đăng, đêm 16 rạng sáng 17 có lễ mộc dục thay áo tượng thờ và lễ tế đêm. Sáng ngày 17 có lễ rước kiệu từ đền Cô qua sông Hồng sang đền Bảo Hà mời kiệu Ông Hoàng Bảy về dự hội.
Đền Cô Tân An được xếp hạng gì
Đền được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử quốc gia theo Quyết định số 3743/QĐ-BVHTTDL ngày 28 tháng 10 năm 2016 (Báo Lào Cai đưa tin lễ đón bằng ngày 9 tháng 11 năm ấy). Trước đó đền là di tích cấp tỉnh, nguồn ghi Quyết định 3299/QĐ-UBND năm 2006 và Quyết định 655/QĐ-UBND ngày 19 tháng 3 năm 2010.