Ở Suối Mỡ, người ta không đi thẳng tới một ngôi đền mà đi ngược một dòng nước. Đền Hạ nằm sát chân suối, ngay bên đường tỉnh 293 dẫn vào thung lũng. Từ đó con đường mòn men theo bờ đá, qua những bậc thác đổ xuống các vực nước trong, lên tới đền Trung, rồi lên nữa tới đền Thượng, nơi mái đền dựa lưng vào một khối đá lớn tự nhiên trên sườn núi Huyền Đinh. Tiếng nước theo người suốt quãng đường.
Cả ba ngôi thờ công chúa Quế Mỵ Nương, người mà giới thờ Mẫu tôn là Thánh Mẫu Thượng Ngàn, vị Mẫu cai quản rừng núi. Truyền thuyết của vùng kể nàng đã khơi chính con suối này cho dân có nước cày cấy, nên dân gọi là Suối Mỡ, còn gọi là Vực Mỡ hay Suối Mẫu. Bài này nói nàng đứng đâu trong điện thần Tứ Phủ và vì sao người thờ Mẫu tìm về đây.

ICông Chúa Quế Mỵ Nương Và Hàng Mẫu Thượng Ngàn
Vị được thờ ở cả ba đền là công chúa Quế Mỵ Nương (còn gọi là Mị Nương Quế Hoa), được đồng nhất với Thánh Mẫu Thượng Ngàn và từng được các triều vua ban sắc phong mỹ tự "Thần thông quảng đại càn, thập nhị tôn nàng Vực Mỡ". Bốn chữ Hán ở đầu trang ghi danh xưng Quế Hoa công chúa do thư viện suy ra từ danh hiệu, không chép từ hoành phi trong đền.
Trong điện thần Tứ Phủ, Mẫu Thượng Ngàn thuộc hàng Mẫu, đứng đầu Nhạc phủ, tức miền rừng núi, sắc xanh, xếp thứ hai trong Tam tòa Thánh Mẫu. Vị này cai quản cây rừng, muông thú, nguồn nước từ núi, và được tin là che chở người sống dựa vào rừng. Dưới hàng Mẫu, Nhạc phủ có những giá rất quen với người hầu đồng như Chầu Đệ Nhị Thượng Ngàn, Chầu Bé, Cô Bé Thượng Ngàn. Ở một nơi thờ Mẫu Thượng Ngàn, sắc xanh và lễ vật của rừng là thứ đầu tiên người đi lễ nhận ra.
Thân thế của Mẫu có nhiều dị bản, và ngay trong các nguồn về Suối Mỡ cũng ghi nhận nhiều lớp tích truyện. Theo trang ban quản lý khu di tích, đời vua Hùng Định Vương thứ chín, công chúa Quế Mỵ Nương thấy vùng này khô hạn, dùng năm ngón tay ấn xuống đá khơi thành suối, dẫn nước cho dân và dạy dân làm ruộng, dân lập ba đền thờ nối nhau dọc suối. Báo Bắc Ninh và Báo Pháp luật Việt Nam ghi nàng là con vua Hùng Định Vương thứ mười sáu (có tài liệu ghi vua Hùng thứ sáu), bấm năm đầu ngón chân xuống đá tại nguồn suối tạo nên năm dòng thác nước mát. Trung tâm Văn hóa và Xúc tiến Du lịch Bắc Ninh dẫn thêm truyền thuyết hoàng hậu An Nương sinh nàng bên gốc quế rồi mất nên gọi là Mị Nương Quế Hoa, nàng vào rừng tìm mẹ và được tiên ông truyền phép cùng mười hai thị nữ cứu giúp dân lành, đồng thời dẫn sách Bắc Giang địa chí (1937) của học giả Nhật Nham Trịnh Như Tấu chép công chúa sinh ngày 11 tháng Ba, lên chốn Vực Mỡ (tức đền Thượng) học Phật đạo rồi hóa tại núi Thiên Thai vào ngày 25 tháng Ba.
Tất cả những lớp ấy là truyền thuyết và thần tích dân gian. Thời Hùng Vương trong truyện không phải năm dựng đền, và không có sử liệu biên niên nào xác nhận một nàng công chúa lịch sử đã sống ở thung lũng này.
Nhiều người nghĩ Mẫu Thượng Ngàn chỉ có một thần tích. Thực ra có ít nhất ba dòng kể lớn, mỗi dòng gắn với một nơi. Ở đền Bắc Lệ Lạng Sơn, Mẫu thường được kể là công chúa La Bình, con gái Sơn Tinh, và đền gắn chặt với Chầu Bé. Ở đền Đông Cuông bên sông Hồng, truyền thuyết địa phương kể một người phụ nữ của vùng. Ở Suối Mỡ, Mẫu là công chúa Quế Mỵ Nương khơi suối. Không nơi nào sai, mỗi nơi giữ một dị bản, và người thờ Mẫu đi cả ba nơi thì nghe cả ba câu chuyện.
IITừ Truyện Kể Thời Hùng Vương Tới Ba Ngôi Đền
Năm khởi dựng chưa khảo được chính xác. Ban quản lý khu di tích và các nguồn báo chí ghi ba đền có từ thời Lê, khoảng thế kỷ 15 tới 16. Đền Hạ hôm nay mang kiến trúc thời Nguyễn, được tu bổ tôn tạo lớn vào năm 2017. Lý do người thờ Mẫu coi đây là nơi gắn với chính đời Mẫu nằm ở chỗ truyền thuyết đặt nơi Mẫu làm nên dòng suối và hiển thánh ngay tại thung lũng này. Với người thờ Mẫu theo dị bản Quế Mỵ Nương, Suối Mỡ không chỉ là nơi Mẫu được thờ mà là nơi Mẫu đã sống và tu đạo.
- Thời Hùng VươngLớp truyền thuyếtTruyện kể công chúa Quế Mỵ Nương khơi suối, dạy dân làm ruộng và tu tiên tại Vực Mỡ. Đây là thời điểm trong truyền thuyết, không phải năm dựng đền.
- Thế kỷ 15 tới 16Ba đền có từ thời LêTheo ban quản lý khu di tích và báo chí địa phương, cụm đền được khởi dựng từ thời Lê.
- Thời NguyễnĐền Hạ dựng lạiKiến trúc đền Hạ mang dấu ấn thời Nguyễn và lưu giữ các đạo sắc phong cổ cùng ba pho tượng đồng quý.
- 1998Di tích quốc giaQuần thể di tích và danh thắng Suối Mỡ được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
- 2005 tới 2017Bảo tồn rừng cảnh quan và tu bổ đềnTheo Báo Bắc Ninh, năm 2005 mở tuyến đường nội bộ, năm 2011 thành lập khu rừng bảo vệ cảnh quan Suối Mỡ rộng 1.207,1 ha, năm 2017 tu bổ lớn nghi môn và điện thờ chính đền Hạ.
- 2015Lễ hội thành di sản quốc giaLễ hội đền Suối Mỡ được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
- 2016UNESCO ghi danhThực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt được ghi danh, và hội Suối Mỡ là một không gian thực hành tiêu biểu.
IIIBa Đền Nối Nhau Ngược Dòng Suối
Suối Mỡ không có một trục kiến trúc nhân tạo. Trục của nơi này là dòng suối bắt nguồn từ khu vực Đá Vách và Hố Chuối trên dãy Huyền Đinh, chảy len lỏi qua các tầng đá tạo thành nhiều bậc thác. Ba đền đặt ở ba độ cao khác nhau dọc bờ nước, đi hết ba đền là đi ngược từ hạ lưu lên thượng nguồn. Tên gọi Hạ, Trung, Thượng vì thế là tên theo dòng nước, không phải theo thứ bậc của vị thần, vì cả ba đều thờ cùng một vị Mẫu. Ngoài ba đền thờ Mẫu, trong khu vực còn có đền Trần thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn cùng các thắng tích như nghè Hàn Lâm, đền Cây Xanh, Đấu Đong Quân, bãi Quần Ngựa.
Nằm sát chân suối và đường tỉnh 293, có diện tích lớn nhất khu, trước cửa có núi Tai Voi đứng chắn. Kiến trúc mang dấu ấn thời Nguyễn, bài trí đầy đủ ban thờ Tam phủ, Tứ phủ và lưu giữ ba pho tượng đồng cổ quý hiếm.
Cách đền Hạ chừng hai cây số lên thượng nguồn, tựa lưng vào núi dưới tán rừng thông và cây bản địa, gần khu vực thác Dội và hồ đền Trung.
Cách đền Trung thêm chừng hai cây số rưỡi trên sườn núi Huyền Đinh, dựng theo lối sơn miếu với hậu cung ăn sâu vào vòm hang đá tự nhiên, phía trước là vực sâu và thác Ông Cuộc.
Bậc thác lớn và cao nhất trên dòng Suối Mỡ, còn gọi là thác Chúa, tung bọt trắng xóa xuống các bồn đá tự nhiên.
Điều làm Suối Mỡ khác các đền Mẫu Thượng Ngàn khác là cảnh đi trước kiến trúc. Ba ngôi đền đều vừa vặn với khoảng đất bằng mà bờ suối và vách núi cho phép. Cái để lại ấn tượng là chặng đường giữa các đền với những bậc thác như thác Thùm Thùm, thác Dội, thác Ông Cuộc nối nhau, vực nước dưới mỗi thác và rừng thông, tùng, bách hai bên bờ. Người thờ Mẫu coi chặng đường ấy là một phần của lễ, đi ngược dòng suối là đi về phía nguồn mà truyền thuyết nói Mẫu đã khơi.
Người lần đầu nghe tên Suối Mỡ có khi đoán rằng tên suối đến từ màu nước hay từ một sản vật. Các nguồn địa phương cho biết suối còn có tên cổ là Vực Mỡ hoặc Suối Mẫu, gắn với truyền thuyết công chúa Quế Mỵ Nương khơi suối giúp dân. Thư viện chưa tìm được một lời giải thích từ nguyên học độc lập nào khác, nên ghi lại đầy đủ các tên gọi dân gian và thư tịch cổ đã chép.
IVThế Đất Và Hướng
Tư liệu báo chí địa phương có nhắc chi tiết núi Tai Voi đứng chắn trước đền Hạ, còn tổng thể mạch đất dọc suối dưới đây là lời đọc của thư viện theo phép xem đất cổ truyền, đặt cạnh những gì quý vị thấy được bằng mắt khi đi dọc con suối.
Nguyên tắc chung của đền Mẫu Thượng Ngàn là tựa núi, gối rừng, và Suối Mỡ là trường hợp rõ nhất của nguyên tắc ấy. Cả quần thể nằm trong thung lũng của dãy Huyền Đinh và Tây Yên Tử, rừng phủ hai bên rộng hơn một nghìn hai trăm hecta. Một vị Mẫu cai quản Nhạc phủ, hành Mộc, được thờ giữa rừng núi thì theo lối nhìn cổ truyền là đắc vị, thần ở đúng miền của mình.
Điều riêng của nơi này là ba đền đặt theo dòng nước. Đọc theo phép xem đất, dòng suối chảy từ khe Đá Vách và Hố Chuối xuống là mạch, và ba đền đánh dấu ba chỗ trên mạch ấy. Đền Thượng tựa vách đá ở phía nguồn Vực Mỡ là chỗ khởi, kín và tĩnh. Đền Trung ở giữa là chỗ mạch đi qua thác Dội và mặt hồ. Đền Hạ nơi suối ra khỏi rừng là chỗ mà sách phong thủy gọi là thủy khẩu, cửa nước, nơi khí của cả thung lũng thoát ra đồng bằng, lại có ngọn núi Tai Voi đứng chắn ngay trước cửa đền làm tiền án tự nhiên ngăn gió thốc và giữ sự thanh tịnh. Đặt đền chính ở thủy khẩu có núi án che chắn giúp giữ cửa, và việc đền Hạ rộng nhất, đông người nhất cũng hợp với vai trò ấy.
Thứ ba là các vực nước dưới chân thác. Nước đổ xuống qua năm tầng thác rồi dừng lại thành vực, trong phép xem đất là chỗ khí tụ sau khi đã động. Một dòng suối có thác xen vực, động rồi tĩnh, được xem là dòng nước sống, không chảy thẳng một mạch mà biết dừng. Người xưa đặt nơi thờ dọc một dòng như thế là đặt vào chỗ khí không tán.
Sau cùng, thư viện lưu ý rằng truyền thuyết và thế đất ở đây kể cùng một chuyện theo hai lối. Truyền thuyết nói Mẫu khơi suối cho dân có nước. Phong thủy nói nguồn nước là chỗ khởi của khí. Hai lối nói gặp nhau ở chỗ nước tại Suối Mỡ là vật thiêng, và ba ngôi đền đứng đó để giữ nước.
VHội Cuối Tháng Ba
Hội đền Suối Mỡ rơi vào cuối tháng Ba sang đầu tháng Tư âm lịch, lúc mùa mưa bắt đầu và dòng suối đầy nước trở lại. Theo Báo Bắc Ninh và Báo Pháp luật Việt Nam, phần lễ trang trọng có đám rước sắc và bài vị từ các làng quanh vùng về đền, tiêu biểu là đám rước của làng Dùm từ phía đông qua đền Cây Xanh về sân tiền đường đền Hạ tế an vị và đám rước của làng Quỷnh từ phía tây qua nghè Hàn Lâm tiến vào đền Trung hành lễ. Hội còn có tục giã bánh dày thờ cô Tích Mễ cùng liên hoan hát văn, diễn xướng hầu đồng (tổ chức thành liên hoan từ năm 2009). Năm 2015, Lễ hội đền Suối Mỡ được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
| Ngày âm lịch | Phần hội | Nội dung |
|---|---|---|
| 30 tháng 3 | Khai hội và rước kiệu | Tế lễ tại đình làng từ sáng sớm, rước sắc và bài vị từ làng Dùm về đền Hạ, từ làng Quỷnh vào đền Trung và tế an vị. |
| Mùng 1 tháng 4 | Chính hội | Tế lễ, giã bánh dày thờ, liên hoan hát văn, hầu đồng và các trò chơi dân gian như đi cầu kiều, bịt mắt đập niêu, vật, bắn cung, chọi gà. |
| Mùng 2 tháng 4 | Ngày hội kéo dài | Trang ban quản lý ghi thêm ngày này trong kỳ hội, trong khi một số nguồn báo chí ghi hai ngày 30 tháng 3 và mùng 1 tháng 4. |
| Tháng Giêng | Mùa đi lễ đầu năm | Người thờ Mẫu về dâng hương đầu xuân, đi ngược suối qua ba đền. |
Về số ngày hội, các nguồn ghi không hoàn toàn trùng nhau khi báo chí thường ghi ngày 30 tháng 3 và mùng 1 tháng 4, còn trang ban quản lý ghi từ 30 tháng 3 đến mùng 2 tháng 4. Thư viện nêu cả hai. Trong hội có tục giã bánh dày thờ gắn với câu đồng dao dân gian "Của bà thì méo, của tôi thì tròn, giã trật hai hòn, thờ cô Tích Mễ". Hầu đồng và hát văn ở hội Suối Mỡ thuộc không gian Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt, được UNESCO ghi danh năm 2016. Điều được ghi danh là tập quán của cộng đồng thực hành, không phải một phán xét về niềm tin.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Xã Nghĩa Phương (các xã Nghĩa Phương, Trường Giang, Huyền Sơn cũ nhập lại năm 2025, huyện Lục Nam cũ, tỉnh Bắc Giang cũ), tỉnh Bắc Ninh
- Đường tới
- Nằm ở xã Nghĩa Phương, tỉnh Bắc Ninh (các xã Nghĩa Phương, Trường Giang, Huyền Sơn cũ nhập lại năm 2025, thuộc huyện Lục Nam cũ, tỉnh Bắc Giang cũ), trong thung lũng dưới dãy núi Huyền Đinh, cạnh đường tỉnh 293. Đền Hạ ở ngay đường vào, hai đền trên đi bộ dọc theo suối.
- Toạ độ
- 21.2751, 106.4851
Đường từ đền Hạ lên đền Thượng là đường mòn dọc suối, qua bậc đá trơn sau mưa, cần giày bám tốt. Ở mỗi đền, lệ chung là ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào cung. Gặp vấn hầu đồng, xin đứng ngoài chiếu hầu. Vực nước dưới chân thác là cảnh của đền, lệ ở đây là giữ sạch dòng suối.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Suối Mỡ
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đền Suối Mỡ thờ ai
Thờ công chúa Quế Mỵ Nương (Mị Nương Quế Hoa), được giới thờ Mẫu đồng nhất với Thánh Mẫu Thượng Ngàn, vị Mẫu đứng đầu Nhạc phủ là miền rừng núi trong điện thần Tứ Phủ. Cả ba đền Hạ, Trung, Thượng đều thờ cùng một vị Mẫu.
Vì sao Suối Mỡ được coi là nơi gốc của Mẫu Thượng Ngàn
Vì truyền thuyết đặt nơi Mẫu khơi dòng suối, lập hành cung ở Vực Mỡ và hiển thánh ngay tại thung lũng này. Với người thờ Mẫu theo dị bản Quế Mỵ Nương, đây là nơi gắn với chính đời Mẫu. Đền Bắc Lệ và đền Đông Cuông giữ những dị bản khác.
Công chúa Quế Mỵ Nương là con vua Hùng nào
Các nguồn truyền thuyết ghi khác nhau. Trang ban quản lý ghi đời Hùng Định Vương thứ chín, Báo Bắc Ninh và Báo Pháp luật Việt Nam ghi con vua Hùng Định Vương thứ mười sáu (có tài liệu ghi vua Hùng thứ sáu), sách Bắc Giang địa chí (1937) ghi con Hùng Định Vương và đệ tam cung An Nương.
Từ đền Hạ lên đền Thượng Suối Mỡ bao xa
Theo trang ban quản lý, đền Trung cách đền Hạ chừng hai cây số lên thượng nguồn, đền Thượng cách đền Trung thêm chừng hai cây số rưỡi. Đường đi bộ dọc suối, qua nhiều bậc thác như thác Thùm Thùm, thác Dội, thác Ông Cuộc.
Lễ hội đền Suối Mỡ vào ngày nào
Ngày 30 tháng 3 và mùng 1 tháng 4 âm lịch (trang ban quản lý ghi tới mùng 2 tháng 4). Hội có lễ rước của làng Dùm và làng Quỷnh, tục giã bánh dày thờ, liên hoan hát văn hầu đồng và được công nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2015.