VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Suối Mỡ

Quần thể đền Hạ, đền Trung, đền Thượng Suối Mỡ, đền Hạ Suối Mỡ, Suối Mẫu

Ba ngôi đền nối nhau ngược một dòng suối giữa rừng, nơi truyền thuyết kể một nàng công chúa vạch đá khơi nước cho dân cày cấy.

Ba đền
Hạ, Trung, Thượng
đền Trung cách đền Hạ chừng 2 km, đền Thượng thêm chừng 2,5 km
Xếp hạng
1998
di tích lịch sử văn hóa quốc gia
Lễ hội
30 tháng 3
và mùng 1 tháng 4 âm lịch, di sản phi vật thể quốc gia năm 2015

Ở Suối Mỡ, người ta không đi thẳng tới một ngôi đền mà đi ngược một dòng nước. Đền Hạ nằm sát chân suối, ngay bên đường vào thung lũng. Từ đó con đường mòn men theo bờ đá, qua những bậc thác đổ xuống các vực nước trong, lên tới đền Trung, rồi lên nữa tới đền Thượng, nơi mái đền dựa lưng vào một khối đá lớn tự nhiên. Tiếng nước theo người suốt quãng đường.

Cả ba ngôi thờ công chúa Quế Mỵ Nương, người mà giới thờ Mẫu tôn là Thánh Mẫu Thượng Ngàn, vị Mẫu cai quản rừng núi. Truyền thuyết của vùng kể nàng đã khơi chính con suối này cho dân có nước cày cấy, nên dân gọi là Suối Mỡ, cũng có người gọi là Suối Mẫu. Bài này nói nàng đứng đâu trong điện thần Tứ Phủ và vì sao người thờ Mẫu tìm về đây.

ICông Chúa Quế Mỵ Nương Và Hàng Mẫu Thượng Ngàn

Vị được thờ ở cả ba đền là công chúa Quế Mỵ Nương, theo trang của ban quản lý khu di tích, được đồng nhất với Thánh Mẫu Thượng Ngàn. Bốn chữ Hán ở đầu trang ghi danh xưng Quế Hoa công chúa theo dị bản Dân trí chép, do thư viện suy ra, không chép từ hoành phi trong đền.

Theo giáo nghĩa

Trong điện thần Tứ Phủ, Mẫu Thượng Ngàn thuộc hàng Mẫu, đứng đầu Nhạc phủ, tức miền rừng núi, sắc xanh, xếp thứ hai trong Tam tòa Thánh Mẫu. Vị này cai quản cây rừng, muông thú, nguồn nước từ núi, và được tin là che chở người sống dựa vào rừng. Dưới hàng Mẫu, Nhạc phủ có những giá rất quen với người hầu đồng như Chầu Đệ Nhị Thượng Ngàn, Chầu Bé, Cô Bé Thượng Ngàn. Ở một nơi thờ Mẫu Thượng Ngàn, sắc xanh và lễ vật của rừng là thứ đầu tiên người đi lễ nhận ra.

Theo sử liệu

Thân thế của Mẫu có nhiều dị bản, và ngay trong các nguồn về Suối Mỡ cũng không khớp nhau. Theo trang ban quản lý, đời vua Hùng Định Vương thứ chín, công chúa Quế Mỵ Nương thấy vùng này khô hạn, dùng tay vạch đá khơi thành suối, dẫn nước cho dân và dạy dân làm ruộng, dân lập ba đền thờ nối nhau dọc suối. Báo Thái Nguyên ghi nàng là con gái thứ mười của vua Hùng Định Vương. Báo Bắc Giang ghi nàng là con vua Hùng thứ mười sáu, và năm dòng suối chảy ra từ vết chân nàng in trên đá. Dân trí ghi tên Mỵ Nương Quế Hoa, con vua Hùng và bà An Nương. Trang du lịch Bắc Ninh kể thêm nàng vào rừng sâu tìm mẹ rồi đắc đạo.

Tất cả những lớp ấy là truyền thuyết. Thời Hùng Vương trong truyện không phải năm dựng đền, và không có sử liệu nào xác nhận một nàng công chúa đã sống ở thung lũng này.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người nghĩ Mẫu Thượng Ngàn chỉ có một thần tích. Thực ra có ít nhất ba dòng kể lớn, mỗi dòng gắn với một nơi. Ở đền Bắc Lệ Lạng Sơn, Mẫu thường được kể là công chúa La Bình, con gái Sơn Tinh, và đền gắn chặt với Chầu Bé. Ở đền Đông Cuông bên sông Hồng, truyền thuyết địa phương kể một người phụ nữ của vùng. Ở Suối Mỡ, Mẫu là công chúa Quế Mỵ Nương khơi suối. Không nơi nào sai, mỗi nơi giữ một dị bản, và người thờ Mẫu đi cả ba nơi thì nghe cả ba câu chuyện.

IITừ Truyện Kể Thời Hùng Vương Tới Ba Ngôi Đền

Năm khởi dựng chưa khảo được. Ban quản lý khu di tích và Báo Thái Nguyên ghi ba đền có từ thời Lê, khoảng thế kỷ 15 tới 16. Đền Hạ hôm nay mang kiến trúc thời Nguyễn, tức đã được làm lại muộn hơn lớp khởi dựng. Vì sao người thờ Mẫu coi đây là nơi gắn với chính đời Mẫu: vì truyền thuyết đặt nơi Mẫu làm nên dòng suối và hiển thánh ngay tại thung lũng này. Với người thờ Mẫu theo dị bản Quế Mỵ Nương, Suối Mỡ không phải một nơi Mẫu được thờ mà là nơi Mẫu đã sống. Đó là niềm tin, không có sử liệu cho chuyện ấy.

  • Thời Hùng VươngLớp truyền thuyết
    Truyện kể công chúa Quế Mỵ Nương khơi suối, dạy dân làm ruộng. Đây là thời điểm trong truyền thuyết, không phải năm dựng đền.
  • Thế kỷ 15 tới 16Ba đền có từ thời Lê
    Theo ban quản lý khu di tích và Báo Thái Nguyên. Chưa có văn bản đương thời nêu năm cụ thể.
  • Thời NguyễnĐền Hạ dựng lại
    Kiến trúc đền Hạ hôm nay mang dấu thời Nguyễn, cho thấy một lần làm lại trên nền cũ.
  • 1998Di tích quốc gia
    Suối Mỡ được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia, theo Báo Thái Nguyên và Dân trí.
  • 2005 tới 2017Tu bổ và làm đường
    Theo báo Bắc Ninh, đường vào khu di tích được làm từ năm 2005, các đền được tu bổ trong những năm sau, kéo tới năm 2017.
  • 2015Lễ hội thành di sản quốc gia
    Lễ hội đền Suối Mỡ vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, theo Dân trí.
  • 2016UNESCO ghi danh
    Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt được ghi danh, và hội Suối Mỡ là một không gian thực hành ấy.

IIIBa Đền Nối Nhau Ngược Dòng Suối

Suối Mỡ không có một trục kiến trúc. Trục của nơi này là dòng suối. Ba đền đặt ở ba độ cao khác nhau dọc bờ nước, và đi hết ba đền là đi ngược từ hạ lưu lên thượng nguồn. Tên gọi Hạ, Trung, Thượng vì thế là tên theo dòng nước, không phải theo thứ bậc của vị thần, vì cả ba đều thờ cùng một vị Mẫu.

Đền Hạ

Sát chân suối, bên đường vào thung lũng. Kiến trúc thời Nguyễn. Báo Bắc Ninh ghi đền giữ ba pho tượng đồng quý. Một số cây cổ trong khuôn viên được công nhận là Cây di sản Việt Nam.

Đền Trung

Cách đền Hạ chừng hai cây số lên thượng nguồn, theo trang ban quản lý. Đường lên đi dọc các bậc thác.

Đền Thượng

Thêm chừng hai cây số rưỡi nữa, dựng tựa vào khối đá tự nhiên. Chỗ cao nhất và yên tĩnh nhất của quần thể.

Thác Thùm Thùm

Bậc thác lớn nhất trên dòng suối, còn gọi thác Chúa, dưới chân là vực nước trong.

Điều làm Suối Mỡ khác các đền Mẫu Thượng Ngàn khác là cảnh đi trước kiến trúc. Ba ngôi đền đều không lớn, quy mô vừa với khoảng đất bằng mà bờ suối cho phép. Cái để lại ấn tượng là chặng đường giữa các đền: những bậc thác đổ nối nhau, vực nước dưới mỗi thác, rừng hai bên bờ. Người thờ Mẫu coi chặng đường ấy là một phần của lễ, đi ngược dòng suối là đi về phía nguồn mà truyền thuyết nói Mẫu đã khơi.

Chỗ hay hiểu lầm

Người lần đầu nghe tên Suối Mỡ có khi đoán rằng tên suối đến từ màu nước hay từ một sản vật. Các nguồn địa phương đều giải thích tên gọi theo truyền thuyết về nàng công chúa khơi suối, và cách gọi Suối Mẫu song song cho thấy dân gian gắn tên suối với vị Mẫu được thờ. Thư viện chưa tìm được một lời giải thích từ nguyên được khảo chứng, nên chỉ ghi lại cách dân gian gọi.

IVThế Đất Và Hướng

Xin nói trước: không có tấm bia hay đạo sắc nào ở Suối Mỡ ghi lý do chọn đất. Phần sau đây là lời đọc của thư viện theo phép xem đất cổ truyền, đặt cạnh những gì quý vị thấy được bằng mắt khi đi dọc con suối.

Thế đất và hướng

Nguyên tắc chung của đền Mẫu Thượng Ngàn là tựa núi, gối rừng, và Suối Mỡ là trường hợp rõ nhất của nguyên tắc ấy. Cả quần thể nằm trong thung lũng dưới núi Huyền Đinh, rừng phủ hai bên. Một vị Mẫu cai quản Nhạc phủ, hành Mộc, được thờ giữa rừng núi thì theo lối nhìn cổ truyền là đắc vị, thần ở đúng miền của mình.

Điều riêng của nơi này là ba đền đặt theo dòng nước. Đọc theo phép xem đất, dòng suối là mạch, và ba đền đánh dấu ba chỗ trên mạch ấy. Đền Thượng tựa đá ở phía nguồn là chỗ khởi, kín và tĩnh. Đền Trung ở giữa là chỗ mạch đi. Đền Hạ nơi suối ra khỏi rừng là chỗ mà sách phong thủy gọi là thủy khẩu, cửa nước, nơi khí của cả thung lũng thoát ra đồng bằng. Đặt đền ở thủy khẩu là giữ cửa, và việc đền Hạ đông người nhất, gần đường nhất, cũng hợp với vai trò ấy.

Thứ ba là các vực nước dưới chân thác. Nước đổ xuống rồi dừng lại thành vực, trong phép xem đất là chỗ khí tụ sau khi đã động. Một dòng suối có thác xen vực, động rồi tĩnh, được xem là dòng nước sống, không chảy thẳng một mạch mà biết dừng. Người xưa đặt nơi thờ dọc một dòng như thế là đặt vào chỗ khí không tán.

Sau cùng, chúng tôi lưu ý rằng truyền thuyết và thế đất ở đây kể cùng một chuyện theo hai lối. Truyền thuyết nói Mẫu khơi suối cho dân có nước. Phong thủy nói nguồn nước là chỗ khởi của khí. Hai lối nói gặp nhau ở một điều: ở Suối Mỡ, nước là vật thiêng, và ba ngôi đền đứng đó để giữ nước.

VHội Cuối Tháng Ba

Hội đền Suối Mỡ rơi vào cuối tháng Ba sang đầu tháng Tư âm lịch, lúc mùa mưa bắt đầu và dòng suối đầy nước trở lại. Theo Dân trí, hội có lễ rước, hát văn và hầu đồng, riêng phần hát văn có tới hai mươi câu lạc bộ tham dự. Lễ hội được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2015.

Các mốc lễ chính trong năm ở Suối Mỡ. Nguồn: Dân trí, trang ban quản lý khu di tích Suối Mỡ..
Ngày âm lịchPhần hộiNội dung
30 tháng 3Khai hộiLễ khai mạc và các nghi lễ mở đầu tại đền Hạ.
Mùng 1 tháng 4Chính hộiLễ rước, tế lễ, hát văn và hầu đồng tại các đền.
Mùng 2 tháng 4Ngày hội kéo dàiTrang ban quản lý ghi thêm ngày này trong kỳ hội, các nguồn báo chỉ ghi hai ngày.
Tháng GiêngMùa đi lễ đầu nămNgười thờ Mẫu về dâng hương đầu xuân, đi ngược suối qua ba đền.
Theo sử liệu

Về số ngày hội, các nguồn ghi không hoàn toàn trùng nhau: báo chí ghi ngày 30 tháng 3 và mùng 1 tháng 4, trang ban quản lý ghi thêm mùng 2 tháng 4. Chúng tôi nêu cả hai. Hầu đồng và hát văn ở hội Suối Mỡ thuộc không gian Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt, được UNESCO ghi danh năm 2016. Điều được ghi danh là tập quán của cộng đồng thực hành, không phải một phán xét về niềm tin.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Xã Nghĩa Phương (các xã Nghĩa Phương, Trường Giang, Huyền Sơn cũ nhập lại năm 2025, huyện Lục Nam cũ, tỉnh Bắc Giang cũ), tỉnh Bắc Ninh
Đường tới
Nằm ở xã Nghĩa Phương, tỉnh Bắc Ninh (huyện Lục Nam cũ, tỉnh Bắc Giang cũ), trong thung lũng dưới núi Huyền Đinh. Đền Hạ ở ngay đường vào, hai đền trên phải đi bộ dọc suối.
Toạ độ
21.2751, 106.4851
Khi tới nơi

Đường từ đền Hạ lên đền Thượng là đường mòn dọc suối, qua bậc đá trơn sau mưa, cần giày bám tốt. Ở mỗi đền, lệ chung là ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào cung. Gặp vấn hầu đồng, xin đứng ngoài chiếu hầu. Vực nước dưới chân thác là cảnh của đền, lệ ở đây là giữ sạch dòng suối.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Suối Mỡ

Contribute photos, information or video for Suoi Mo Temple

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đền Suối Mỡ thờ ai

Thờ công chúa Quế Mỵ Nương, được giới thờ Mẫu đồng nhất với Thánh Mẫu Thượng Ngàn, vị Mẫu đứng đầu Nhạc phủ là miền rừng núi trong điện thần Tứ Phủ. Cả ba đền Hạ, Trung, Thượng đều thờ cùng một vị Mẫu.

Vì sao Suối Mỡ được coi là nơi gốc của Mẫu Thượng Ngàn

Vì truyền thuyết đặt nơi Mẫu khơi dòng suối và hiển thánh ngay tại thung lũng này. Với người thờ Mẫu theo dị bản Quế Mỵ Nương, đây là nơi gắn với chính đời Mẫu. Đó là niềm tin, không có sử liệu. Đền Bắc Lệ và đền Đông Cuông giữ những dị bản khác.

Công chúa Quế Mỵ Nương là con vua Hùng nào

Các nguồn ghi khác nhau. Trang ban quản lý ghi đời Hùng Định Vương thứ chín, Báo Thái Nguyên ghi con gái thứ mười của Hùng Định Vương, Báo Bắc Giang ghi con vua Hùng thứ mười sáu, Dân trí ghi Mỵ Nương Quế Hoa, con vua Hùng và bà An Nương. Tất cả là truyền thuyết.

Từ đền Hạ lên đền Thượng Suối Mỡ bao xa

Theo trang ban quản lý, đền Trung cách đền Hạ chừng hai cây số lên thượng nguồn, đền Thượng cách đền Trung thêm chừng hai cây số rưỡi. Đường đi bộ dọc suối, qua nhiều bậc thác, lớn nhất là thác Thùm Thùm.

Lễ hội đền Suối Mỡ vào ngày nào

Ngày 30 tháng 3 và mùng 1 tháng 4 âm lịch, trang ban quản lý ghi thêm mùng 2 tháng 4. Hội có lễ rước, hát văn, hầu đồng và được công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2015.

Đọc Tiếp