VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Đồng Bằng

Đền Vua Cha Bát Hải Động Đình, Đền Đồng Bằng An Lễ

Nơi người hầu đồng khắp miền Bắc tìm về mỗi tháng Tám để giỗ Cha, vị vua cõi nước đứng trên mọi hàng thánh của Thoải phủ.

Quy mô
13 tòa, 66 gian
lối tiền nhị hậu đinh
Kiến trúc hiện nay
Cuối năm 1926
dựng và tu bổ, theo VTC News
Xếp hạng
Di tích quốc gia 1986
lễ hội vào danh mục quốc gia 2016

Từ cánh đồng lúa phẳng của Quỳnh Phụ cũ, dãy mái đền Đồng Bằng hiện ra dài hơn hẳn mọi mái đình làng quanh đó. Ngay trước cửa đền là dòng sông Mai Diêm cổ, còn gọi là sông Đại Nẫm, bước qua cổng ngoài là hồ bán nguyệt và trung môn, rồi một chuỗi tòa nối nhau, cứ vào sâu một lớp là thấy thêm một lớp mái. Vào tháng Tám âm lịch, sân đền kín người, tiếng đàn nguyệt và giọng cung văn vọng ra từ nhiều cung cùng lúc.

Vị được thờ ở đây là Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình, vị vua cõi nước trong điện thần Tứ Phủ. Người đi lễ gọi ngắn là Vua Cha, và câu quen nói tháng Tám giỗ Cha chính là nói về mùa hội của ngôi đền này. Với người hầu đồng, Đồng Bằng là nơi phải về ít nhất một lần.

Đền Đồng Bằng
Đền Đồng Bằng. Ảnh: Casablanca1911, giấy phép CC BY 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

IVua Cha Bát Hải Động Đình

Vị thờ chính là Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình, còn gọi là Vua Cha Thủy Phủ, hiệu Vĩnh Công Đại Vương. Tên gọi ghép hai lớp nghĩa, trong đó bát hải là tám biển, còn động đình gợi hồ lớn nơi cõi nước. Vị này đứng đầu miền nước, tức Thoải phủ, sắc trắng.

Theo bài giới thiệu trên trang Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, tầng hạ của trung môn đắp nổi bốn chữ Bát Hải Động Đình và bức hoành phi trong đền cũng mang bốn chữ Hán này. Bốn chữ Hán đặt ở đầu trang ghi đúng danh hiệu ấy.

Đền còn phối thờ Hưng Đạo Đại Vương cùng một số danh tướng nhà Trần, theo Báo Chính phủ và VTC News. Thư viện chỉ ghi tên các vị ấy ở đây, phần về Đức Thánh Trần quý vị xem ở bài Đền Kiếp Bạc.

Theo giáo nghĩa

Theo cách người trong đạo sắp điện thần, trên hàng Mẫu là hàng Vua Cha, rồi mới tới hàng Quan, hàng Chầu, hàng Ông Hoàng, hàng Cô và hàng Cậu. Vua Cha Bát Hải thuộc hàng trên cùng ấy, và là vị vua của cõi nước. Theo bài của Đặng Xuân Xuyến trên Tạp chí Nghiên cứu Phật học, nhiều vị trong Tứ Phủ là con của Vua Cha Bát Hải, như Quan Lớn Đệ Tam và Ông Hoàng Bơ. Theo lệ phổ biến trong hầu đồng, hàng Vua Cha ở quá cao nên không có giá ngự đồng, người ta chỉ thỉnh và lễ.

Mạch cha con ấy nối Đồng Bằng với hai đền cùng đợt của thư viện là Đền Lảnh Giang thờ Quan Lớn Đệ Tam và Đền Cô Bơ thờ Cô Bơ Thoải, vị thánh cô cũng được kể là con Vua Cha. Chuyện riêng của hai vị ấy nằm ở hai bài kia.

Theo sử liệu

Thần tích của Vua Cha có nhiều dị bản, và cả ba bản dưới đây đều là truyền thuyết. Theo bản do trang oancotam chép, thời Hùng Duệ Vương có nàng Quý Nương gặp Hoàng Long ở sông, mang thai rồi sinh ra trứng rồng. Theo Viện Âm nhạc, có dị bản kể ba rắn thần sinh ra từ cuộc gặp của rồng với một người đàn bà hiền. Theo bài trên trang Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, còn có bản kể về một người lái đò trên sông Vĩnh và chín người con mang hình rắn. Báo Chính phủ cũng ghi rằng danh tính của vị được thờ có nhiều cách hiểu, hoặc là thủy thần thời Hùng, hoặc là rắn thần.

Điểm chung của các bản là một vị thần sông nước có công giúp dân giữ đất, chiêu dân mở làng, rồi được dân lập đền thờ. Thư viện ghi đến đó và không kể thêm.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều bài viết gọi Đồng Bằng là ngôi đền bốn nghìn năm tuổi. Con số ấy là tuổi của truyền thuyết thời Hùng, không phải tuổi của công trình. Theo VTC News, kiến trúc hiện nay được dựng và tu bổ vào cuối năm 1926, hiện vật cổ nhất được nguồn nhắc là bài vị thời Lê. Nói đền có gốc tích xa xưa là nói về lớp tín ngưỡng, còn nói về mái ngói thì mốc gần nhất và chắc nhất là năm 1926.

IITừ Miếu Làng Đến Quần Thể Mười Ba Tòa

Năm khởi dựng chưa khảo được. VTC News kể đền ban đầu là một ngôi miếu nhỏ, về sau mở rộng dần. Những mốc dưới đây lấy theo báo chí và văn bản xếp hạng, chỗ nào chỉ là lời kể thì thư viện ghi rõ.

  • Thời HùngThời của truyền thuyết
    Các dị bản thần tích đặt câu chuyện vào thời Hùng. Đây là thời của chuyện kể, không phải năm dựng đền.
  • Thời LêBài vị thếp vàng
    Đền còn bài vị thời Lê khắc chữ thếp vàng, theo VTC News. Đây là hiện vật cho biết nơi thờ đã có từ trước lớp kiến trúc hiện nay.
  • Cuối năm 1926Dựng và tu bổ lớn
    Kiến trúc hiện còn được dựng và tu bổ vào cuối năm 1926, theo VTC News. Hoành phi câu đối đời Khải Định, Bảo Đại thuộc lớp này.
  • 1986Di tích quốc gia
    Đền được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, theo Công Thương và VTC News.
  • 16 tháng 9 năm 2016Lễ hội vào danh mục quốc gia
    Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ký Quyết định số 3247/QĐ-BVHTTDL đưa lễ hội đền Đồng Bằng vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, theo Báo Chính phủ.
  • Tháng 12 năm 2016UNESCO ghi danh
    Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt được ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Điều được ghi danh là tập quán chung.
  • 2025Sắp xếp địa giới
    Các xã An Cầu, An Ấp, An Lễ, An Quý cũ nhập thành xã Đồng Bằng. Đền nay thuộc tỉnh Hưng Yên.
Theo sử liệu

Một chỗ nguồn tả không khớp, xin ghi lại. VTC News nói thời Tiền Lê đền đã mở rộng thành năm cung bốn ban thờ, nhưng không dẫn văn bản nào cho mốc ấy, nên thư viện không đưa vào dòng mốc. Về ngày hội, bài trên trang Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam có chỗ ghi hội từ ngày 10 tới 26 tháng Tám mà lại nói kéo dài bảy ngày, trong khi Báo Chính phủ và VietnamPlus đều ghi từ 20 tới 26. Thư viện theo mốc 20 tới 26.

IIIMười Ba Tòa Sáu Mươi Sáu Gian

Quần thể gồm mười ba tòa, sáu mươi sáu gian, bố cục theo lối tiền nhị hậu đinh, tức phía trước là hai dãy nhà song song như chữ nhị, phía sau nối thành hình chữ đinh. Bài trên trang Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam ghi khuôn viên rộng chừng 6.574 mét vuông, các nguồn khác ghi tròn khoảng sáu nghìn mét vuông.

Hồ bán nguyệt và nghi môn

Từ bờ sông bước qua ngoại môn là hồ bán nguyệt, tiếp đến là trung môn hai tầng đắp chữ Thuận Thiên ở tầng thượng và bốn chữ Bát Hải Động Đình ở tầng hạ.

Bái đường

Tòa đệ nhất năm gian phía trước lắp cửa bức bàn, nơi dâng hương chung và làm phần lớn lễ tế trong mùa hội.

Cung đệ nhị, cung đệ tam

Các lớp nhà giữa chạm rồng phượng, tứ quý sơn son thếp vàng. Tòa đệ tam đặt tượng Đức Vua Cha thứ hai ngay trước cửa cung cấm để bá tánh chiêm bái, bên tả thờ Tam Tòa Thánh Mẫu, bên hữu thờ Hội đồng các quan.

Hậu cung và giếng thiêng

Cung cấm trong cùng đặt tượng lớn Đức Vua Cha trên ngai rồng, phía dưới là tám con rồng chầu về giếng cổ tượng trưng cho tám con sông. Cung cấm đóng quanh năm, chỉ mở ngày rằm tháng Giêng để làm lễ mộc dục.

Hiện vật

Bài vị thời Lê khắc chữ thếp vàng, ghế cổ, hoàng bào, cùng cuốn thư, hoành phi, câu đối đời Khải Định và Bảo Đại.

Điều đáng chú ý là cái giếng nằm trong hậu cung. Ở phần lớn đền miếu, giếng đặt ngoài sân hay trước cửa. Đặt giếng ngay dưới ban thờ với tám con rồng chầu là đưa nước, thứ thuộc về chính vị được thờ, vào chỗ sâu nhất của nơi thờ. Theo VietnamPlus, lễ rước trong mùa hội còn đón kiệu từ các đền quanh vùng như đền Mẫu Sinh, đền Quan Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, cho thấy Đồng Bằng là trung tâm của cả một mạng đền thờ trong vùng.

IVThế Đất Và Hướng

Trang Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam chép rằng đền tựa lưng vào gò Đồng Hưng, gò Voi Phục và gò Ông He, trước mặt là dòng sông Đại Nẫm, tức sông Mai Diêm cổ, xa hơn là Đầm Bà. Những dòng dưới đây là kiến giải của thư viện đọc thế đất ấy theo con mắt phong thủy cổ truyền.

Thế đất và hướng

Đồng Bằng là đền vùng châu thổ, không có núi đá cao nên lấy các gò đất nổi làm chỗ tựa sau lưng, gồm gò Đồng Hưng, gò Voi Phục và gò Ông He. Còn cái giữ thế chính cho đền là nước, và nước xuất hiện thành ba lớp từ ngoài vào trong, gồm sông Mai Diêm cổ chảy ngang trước cửa, hồ bán nguyệt sau cổng ngoài và giếng thiêng trong hậu cung. Sông và hồ trước cửa là minh đường, nơi tụ khí và mở tầm nhìn, đồng thời là mặt nước diễn ra hội bơi chải. Giếng trong hậu cung là mạch ngầm, nơi khí từ lòng đất lên. Một đền thờ vua cõi nước mà ngoài có sông hồ, trong có giếng cổ thì hành của đất và hành của thần trùng nhau, lối cổ truyền gọi là đắc vị.

Về hướng, bài trên trang Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam ghi đền quay hướng tây nam. Đây không phải hướng nam chính mà đền miếu Bắc Bộ hay chuộng. Thư viện không tìm được lời giải thích của nguồn cho hướng ấy, và không suy đoán thêm. Có thể nói chung rằng đền vùng sông nước thường đặt hướng đón theo thế dòng chảy của sông Mai Diêm và các gò đất quanh làng hơn là theo một phương vị lý thuyết.

Về bố cục, lối tiền nhị hậu đinh kéo quần thể thành một trục dài, lớp nọ nối lớp kia. Khi đất bằng không có độ cao lớn để phân thứ bậc, người xưa dùng độ sâu thay cho độ cao, càng vào trong càng thiêng, và vị cao nhất ngự ở chỗ xa cửa nhất, ngay trên mạch giếng.

Sau cùng là chỗ đứng trong vùng. Mùa hội đón kiệu từ nhiều đền lân cận về, nên đọc theo lối cổ truyền thì Đồng Bằng giữ vai chủ vị của cả một vùng thờ tự, các đền quanh đó như những điểm vệ. Đây là cách đọc, không phải điều chép trong văn bản.

VTháng Tám Giỗ Cha

Hội đền mở từ ngày 20 tới 26 tháng Tám âm lịch, trùng với dịp mà người trong đạo gọi là tháng Tám giỗ Cha. Viện Âm nhạc ghi lệ quen của khách hành hương là lễ Đền Kiếp Bạc ngày 20 tháng Tám rồi về Đồng Bằng.

Các mốc chính trong hội tháng Tám. Nguồn: Báo Chính phủ, VietnamPlus, trang Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam..
Ngày âm lịchLệNội dung
20 tháng TámKhai hộiMở hội, dâng hương, khai chiêng, múa trống theo mô tả của VietnamPlus.
21 tháng TámNghinh giá, rước kiệuRước kiệu thần từ các đền trong vùng về đền, rước bài vị.
22 tới 24 tháng TámBơi chải và trò hộiBơi chải trên sông trước cửa đền, kéo co, vật, cờ tướng, cùng thi hát văn.
25 tháng TámLễ tế chínhNgày tế lớn trong hội, VietnamPlus ghi đây là ngày hóa của Vua Cha theo thần tích.
26 tháng TámLễ tạLễ tạ khép lại mùa hội.

Phần nổi nhất của hội là hát văn. Theo Viện Âm nhạc, hội Đồng Bằng có cả hát văn thi và hát văn hầu đồng, và chính dịp này giúp các cung văn lớn tuổi truyền nghề cho lớp sau. Chầu văn ở đây là lối hát nghi lễ với đàn nguyệt, trống, phách, lời hát kể sự tích các vị trong Tứ Phủ.

Theo sử liệu

Cần phân biệt hai danh hiệu. Lễ hội đền Đồng Bằng được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2016 theo Quyết định số 3247/QĐ-BVHTTDL. Còn Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ được UNESCO ghi danh là di sản của nhân loại cùng năm ấy, và đó là danh hiệu cho cả tập quán, không riêng cho đền Đồng Bằng.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Thôn Đồng Bằng, xã Đồng Bằng (các xã An Cầu, An Ấp, An Lễ, An Quý cũ nhập lại năm 2025, huyện Quỳnh Phụ cũ, tỉnh Thái Bình cũ), tỉnh Hưng Yên
Đường tới
Đền ở thôn Đồng Bằng, xã Đồng Bằng, tỉnh Hưng Yên, thuộc huyện Quỳnh Phụ cũ của tỉnh Thái Bình cũ. Quanh đền là đồng lúa và làng mạc, đường vào đi qua các xã cũ An Lễ, An Cầu.
Toạ độ
20.6258, 106.386
Khi tới nơi

Theo lệ quen, việc dâng hương đi từ bái đường vào các cung trong, cung Vua Cha ở lớp sâu nhất. Cung cấm đóng quanh năm để giữ sự tôn nghiêm, khách hành hương chiêm bái tượng Đức Vua Cha đặt tại tòa đệ tam ngay trước cửa cung cấm. Mùa hội tháng Tám rất đông, nhiều vấn hầu diễn ra cùng lúc, xin đứng ngoài chiếu hầu và không đi cắt ngang giữa thanh đồng với ban thờ.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Đồng Bằng

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đền Đồng Bằng thờ ai

Thờ Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình, còn gọi Vua Cha Thủy Phủ, hiệu Vĩnh Công Đại Vương, vị vua cõi nước đứng đầu Thoải phủ trong điện thần Tứ Phủ. Đền còn phối thờ Tam Tòa Thánh Mẫu, Hưng Đạo Đại Vương và các danh tướng nhà Trần theo Báo Chính phủ và VTC News.

Vua Cha Bát Hải là ai trong Tứ Phủ

Vua Cha Bát Hải thuộc hàng Vua Cha, trên cả hàng Mẫu, Quan, Chầu, Ông Hoàng, Cô và Cậu, cai quản miền nước, sắc trắng. Theo Tạp chí Nghiên cứu Phật học, nhiều vị trong Tứ Phủ là con của Vua Cha, như Quan Lớn Đệ Tam và Ông Hoàng Bơ.

Đền Đồng Bằng có phải 4000 năm tuổi không

Con số ấy là tuổi của truyền thuyết thời Hùng, không phải tuổi công trình. Năm khởi dựng chưa khảo được. Kiến trúc hiện nay được dựng và tu bổ cuối năm 1926, hiện vật cổ được nhắc là bài vị thời Lê, theo VTC News.

Lễ hội đền Đồng Bằng ngày nào

Từ ngày 20 tới 26 tháng Tám âm lịch, dịp tháng Tám giỗ Cha. Hội có rước kiệu, lễ tế, bơi chải trên sông Mai Diêm, kéo co, vật và thi hát văn. Lễ hội được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 3247/QĐ-BVHTTDL ký ngày 16 tháng 9 năm 2016.

Đền Đồng Bằng ở đâu

Đền ở thôn Đồng Bằng, xã Đồng Bằng, tỉnh Hưng Yên. Xã này hình thành năm 2025 từ các xã An Cầu, An Ấp, An Lễ, An Quý cũ, thuộc huyện Quỳnh Phụ cũ của tỉnh Thái Bình cũ. Đền được xếp hạng di tích quốc gia năm 1986.

›Đọc Tiếp