Đứng ở cửa đền Lảnh Giang, quý vị nhìn thẳng ra sông Hồng. Trước mặt là bãi, rồi mặt nước rộng, và phía bên kia là đất Hưng Yên. Chỗ này là nơi một nhánh sông nhỏ, dân gọi là sông Lảnh, đổ vào dòng chính. Người buôn thuyền ngày xưa biết rõ khúc này, nước hai dòng gặp nhau thành vòng xoáy, thuyền qua không khéo là đắm. Ngôi đền dựng ở đúng chỗ ấy không phải để ngắm sông mà để giữ sông.
Vị được thờ là ba vị thủy thần mà hồ sơ di sản gọi là tướng thời Hùng, và người hầu đồng tôn là Quan Lớn Đệ Tam, một trong Ngũ vị Tôn quan của điện thần Tứ Phủ. Mùa hội tháng Sáu âm lịch, khi nước sông Hồng lên, đền mở lễ rước nước ngay trên dòng sông mà vị thần được giao cai quản.

IQuan Lớn Đệ Tam Và Các Vị Phối Thờ
Theo Cục Di sản văn hóa, đền thờ ba vị tướng thủy thần thời Hùng, được nhân dân tôn là Quan Lớn Đệ Tam, cùng vợ chồng Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung. Vị chính mang hiệu Trấn An Tây Nam Tam Kỳ Linh Ứng Đại Vương. Theo VietnamNet, đền còn thờ Tam Tòa Thánh Mẫu và Tứ Phủ Công Đồng. Dân quanh vùng gọi gọn là đền Lảnh, hoặc đền Quan Lớn Đệ Tam.
Trong điện thần Tứ Phủ, ngay dưới Tam Tòa Thánh Mẫu là hàng Ngũ vị Tôn quan, năm vị quan lớn thay Vua Cha và các Mẫu giữ việc ở các phủ. Quan Lớn Đệ Tam là vị thứ ba trong hàng ấy, thuộc Thoải phủ, miền sông nước, sắc trắng. Tạp chí Nghiên cứu Phật học, trong bài của tác giả Đặng Xuân Xuyến, chép Quan Đệ Tam là con của Vua Cha Bát Hải Động Đình, giữ kỷ cương Long Cung, cai quản các con sông, và ghi Lảnh Giang là nơi thờ Ngài.
Chính vì vai ấy mà Lảnh Giang được các nguồn Đạo Mẫu coi là đền chính của Quan Đệ Tam. Một vị thần cai quản sông, thờ ở ngã ba nơi hai dòng sông gặp nhau, là thần ở đúng chỗ việc của mình. Nơi thờ Vua Cha, tức người cha trong câu chuyện ấy, là đền Đồng Bằng. Cùng mạch Thoải phủ trong đợt bài này còn có đền Cô Bơ.
Các bản thần tích về ba vị thủy thần
Về gốc tích ba vị, các nguồn dẫn thần tích và truyền thuyết với độ chi tiết khác nhau, đều thuộc lớp truyện kể dân gian.
Theo thần tích Hùng triều nhất vị thủy thần xuất thế sự tích mà VietnamNet và các trang giới thiệu di tích tóm lược, ba vị là con của Bát Hải Long Vương và nàng Quý ở trang Đào Động. Nàng Quý ra sông tắm gặp giao long quấn, dạt về trang Hoa Giám, tức thôn Yên Lạc ngày nay, rồi sinh ra một bọc ba trứng. Trứng nở thành ba vị thần mang lốt rắn, bơi về các ngả sông, trong đó một vị về đúng chỗ người mẹ ở và được dân lập đền thờ. Lời thần tích tóm lại bằng câu sinh vi lương tướng, hóa vi thần minh, nghĩa là sống làm tướng giỏi, mất hóa thần thiêng. Bản kể này ăn khớp với cách Đạo Mẫu tôn Quan Đệ Tam là con Vua Cha Bát Hải.
Một dị bản khác trên trang du lịch mia.vn ghép thêm chi tiết ba vị là ba anh em họ Phạm, danh thần đời Hùng Vương thứ mười tám.
Nguồn nào cũng kể ba vị có công giúp vua Hùng. Bài chỉ ghi rằng đây là các vị thánh có công giúp dân giữ đất. Lớp dễ nắm nhất là lời của Cục Di sản văn hóa cho biết chỗ này là nơi sông Hồng gặp nhánh sông Lảnh, nước xoáy, thuyền buôn hay đắm, nên dân lập đền cầu thần che chở. Lý do lập đền ấy gắn thẳng với vai thủy thần, không cần tới truyện kể nào.
Hai chỗ hay lẫn. Thứ nhất, một vị hay ba vị. Người hầu đồng nói tới Quan Lớn Đệ Tam như một vị, nhưng hồ sơ di sản ghi đền thờ ba vị thủy thần, và người trong đạo tôn chung là Quan Lớn Đệ Tam. Hai cách nói ấy thuộc hai lớp, lớp thần tích làng và lớp điện thần Tứ Phủ, xếp lên nhau chứ không thay nhau.
Thứ hai, Chử Đồng Tử. Vì tên Chử Đồng Tử và Tiên Dung đứng ngay trong tiêu đề nhiều bài báo, có người nghĩ đây là đền chính của hai vị ấy. Không phải. Ở Lảnh Giang, Chử Đồng Tử và Tiên Dung là vị phối thờ. Nơi thờ chính của Đức thánh Chử Đồng Tử là đền Đa Hòa.
IIMột Ngôi Đền Chưa Rõ Năm Dựng
Chưa có tài liệu khẳng định đền dựng lúc nào, một trang giới thiệu di tích ghi thẳng như vậy, và thư viện cũng không tra được hơn. Mốc chắc nhất về kiến trúc là dòng chữ trên cây thượng lương của tòa thứ hai, cho biết lần trùng tu lớn gần nhất.
- Chưa rõKhởi dựngChưa có bia ký hay văn bản cho biết năm dựng đền.
- Thời HùngThời của truyện kểCác dị bản đặt ba vị thủy thần vào thời Hùng Vương. Đây là thời gian trong truyền thuyết, không phải năm dựng đền.
- 1944Trùng tu lớnChữ trên thượng lương tòa thứ hai ghi lần trùng tu vào niên hiệu Bảo Đại. Có chỗ lệch một năm khi quy đổi, nêu ngay dưới đây.
- 1996Di tích quốc giaĐược xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ngày 5 tháng 11 năm 1996.
- 2016UNESCO ghi danhThực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt được ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
- 2017Lễ hội vào danh mục quốc giaLễ hội đền Lảnh Giang được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 2459/QĐ-BVHTTDL ngày 20 tháng 6 năm 2017, theo Cục Di sản văn hóa.
- 2025Đổi địa giớiXã Mộc Nam thuộc thị xã Duy Tiên cũ nhập vào phường Duy Tân, tỉnh Hà Nam cũ nhập vào tỉnh Ninh Bình.
Về năm trùng tu. Trang giới thiệu di tích chép dòng chữ trên thượng lương là niên hiệu Bảo Đại năm thứ mười tám, rồi quy ra năm 1944. Niên hiệu Bảo Đại bắt đầu từ năm 1926, nên nếu tính năm đầu là năm thứ nhất thì năm thứ mười tám rơi vào năm 1943, không phải 1944. Có thể nguồn chép sai số thứ tự, có thể quy đổi sai. Thư viện chưa xem được ảnh chụp thượng lương để nói dứt, nên ghi năm 1944 theo nguồn kèm lời lưu ý này.
Về năm xếp hạng thì các nguồn khớp nhau, trang giới thiệu di tích, cổng thông tin tỉnh Ninh Bình và các trang thờ Mẫu đều ghi năm 1996.
IIIBa Tòa Mười Bốn Gian Và Tòa Trung Đường Chồng Diêm
Theo VietnamNet và báo Nhân Dân, khu đền rộng chừng 3.000 mét vuông. Tổng thể kiến trúc gồm ba tòa với mười bốn gian lớn nhỏ, dựng theo kiểu chữ Công. VietnamNet còn mô tả mặt bằng là nội công ngoại quốc, tức bên trong các tòa nối nhau thành chữ Công, bên ngoài có tường và công trình bao quanh thành chữ Quốc. Hai cách tả ấy không trái nhau, một cách nói về nhà chính, một cách nói về cả khuôn viên.
Tòa năm gian lớp ngoài cùng, dựng theo kiểu hồi cung cánh bảng, nơi khách hành hương dâng hương ở các ban Tứ Phủ Ông Hoàng, Tứ Phủ Công Đồng và Trần Triều trước khi vào trong. Cửa đền trông thẳng ra sông Hồng.
Tòa bốn gian chạy dọc ở giữa, làm theo kiểu chồng diêm hai tầng, tám mái cong, bên trong đặt cung thờ Tam Phủ. Cây thượng lương của tòa này mang dòng chữ về lần trùng tu thời Bảo Đại.
Tòa năm gian lớp trong cùng, nơi thờ ba vị thủy thần tức Quan Lớn Đệ Tam cùng ban Ông Hoàng Bảy và Ông Hoàng Mười theo mô tả của VietnamNet.
Các mảng chạm long, ly, quy, phượng trên kết cấu gỗ, theo VietnamNet và trang giới thiệu di tích.
Các công trình phụ trong khuôn viên cho lớp thờ Tứ Phủ như động Sơn Trang, lầu Cô, lầu Cậu, cùng đền Cửa Sông thờ Cô Bơ nằm cách đền chính khoảng năm mươi mét về phía đông.
Tòa trung đường chồng diêm hai tầng tám mái là điểm đáng xem nhất. Lối mái chồng diêm, hai lớp mái xếp lên nhau, tám góc đao cong vút, vốn quen với các gác chuông và các tòa trọng yếu của đền chùa Bắc Bộ. Đặt lối mái ấy vào tòa giữa chứ không vào cổng cho thấy người dựng đền coi trung đường là trung tâm của cả khối.
Về chữ Hán ở đầu trang, Cục Di sản văn hóa ghi tên chữ của đền là Lãnh Giang linh từ. Mặt chữ Hán do thư viện khôi phục từ phiên âm ấy, và chữ Lãnh có thể viết bằng hơn một mặt chữ, nên đây là chữ suy ra, chưa đối chiếu với hoành phi tại đền.
IVThế Đất Và Hướng
Khác nhiều nơi, đền Lảnh Giang có một lý do chọn đất được chép lại là nước xoáy ở ngã ba sông. Ngoài lý do ấy, những điều dưới đây là cách thư viện đọc thêm theo phong thủy cổ truyền, không phải lời của hồ sơ di tích.
Phong thủy cổ truyền gọi chỗ hai dòng nước gặp nhau là thủy khẩu hay hợp thủy. Đây là nơi khí của hai dòng giao nhau, vừa mạnh vừa khó giữ. Ở Lảnh Giang, cái mạnh ấy hiện ra thành vòng xoáy làm đắm thuyền. Người xưa không tránh chỗ ấy mà dựng đền ngay tại đó. Lối làm này gọi là trấn thủy, tức đặt một vị thần ở cửa nước dữ để giữ cho dòng khí khỏi loạn. Nó khác với lối chọn một chỗ đất lành để hưởng, và nó giải thích vì sao đền không lùi vào trong đồng dù đất trong đồng an toàn hơn.
Thứ hai là sự đắc vị. Quan Đệ Tam thuộc Thoải phủ, hành Thủy, việc của Ngài là cai quản sông. Đền của Ngài đặt ở ngã ba sông, trước mặt là dòng sông lớn nhất miền Bắc. Vị thần đứng đúng vào hành và đúng vào việc của mình, đó là chỗ con mắt cổ truyền coi là hợp nhất. Các đền Thoải phủ thường đứng bên sông hay cửa sông, và Lảnh Giang là một ví dụ rõ.
Thứ ba là hướng. Theo trang giới thiệu di tích, cửa đền nhìn ra sông Hồng, phía tây là cánh đồng lúa. Nếu vậy thì lưng đền dựa vào đồng ruộng và làng xóm, mặt đền trông ra nước, lấy đồng làm chỗ tựa và lấy nước làm minh đường. Thư viện không có số đo hướng cụ thể, chỉ đọc theo lời tả ấy.
Cuối cùng là lễ rước nước. Mỗi năm đền rước nước từ giữa dòng sông về thờ. Đọc theo phong thủy, đó là cách đưa khí của dòng sông vào trong đền, nối vị thần với chính dòng nước Ngài giữ. Xin nhắc rằng đây là kiến giải, không phải tư liệu.
VHội Tháng Sáu Và Lễ Rước Nước
Theo Cục Di sản văn hóa, xưa đền mở hội hai kỳ trong năm, từ ngày 18 tới 25 tháng Sáu và từ ngày 18 tới 25 tháng Tám âm lịch. Nay hội chính diễn ra trong tháng Sáu, còn tháng Tám chủ yếu là dâng hương tế tạ. Hội tháng Sáu mở từ tháng Năm với tục chồng kiệu, kéo cờ thần và lễ cáo yết, rồi đi qua một chuỗi nghi lễ gắn với sông.
| Thời điểm âm lịch | Nghi lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Ngày 18 và 30 tháng Năm | Chồng kiệu, kéo cờ và cáo yết | Theo VietnamNet, tục xưa ngày 18 tháng Năm âm lịch có lễ chồng kiệu và kéo cờ thần trước cửa đền. Ngày 30 tháng Năm làm lễ cáo yết xin phép thần mở hội. |
| Mồng 1 tháng Sáu | Lễ rước nước | Rước nước từ sông Hồng về đền. |
| Mồng 2 tháng Sáu | Lễ rước kiệu | Rước kiệu thánh quanh vùng và khai hội chính thức. |
| Mồng 3 tháng Sáu | Lễ tế | Đội tế làm lễ theo nghi thức cổ truyền. |
| Trong tháng Sáu (chính tiệc 24/6) | Hầu thánh và bơi chải | Các vấn hầu đồng kéo dài tới ngày 25 tháng Sáu, đông nhất vào dịp chính tiệc Quan Lớn Đệ Tam ngày 24 tháng Sáu, kèm bơi chải và trò chơi dân gian. |
| Tháng Tám | Dâng hương tế tạ | Kỳ lễ thứ hai trong năm, quy mô nhỏ hơn. |
Các nguồn ghi lịch hội không hoàn toàn khớp, xin ghi thẳng. Cục Di sản ghi hội chính từ ngày 30 tháng Năm tới ngày 25 tháng Sáu, tháng Tám chỉ dâng hương tế tạ. Báo Người Hà Nội và VietnamNet ghi hội từ ngày 18 tới 25 tháng Sáu và tháng Tám, trong đó ngày 24 tháng Sáu là ngày chính tiệc Quan Lớn Đệ Tam. Cổng thông tin tỉnh Ninh Bình ghi năm 2026 khai hội ngày 2 tháng Sáu âm lịch. Cách hiểu hợp nhất là chuỗi nghi lễ bắt đầu từ tháng Năm, khai hội chính thức rơi vào đầu tháng Sáu tùy năm, còn những ngày đông nhất của hầu thánh dồn về khoảng 18 tới 25 tháng Sáu. Đó là cách thư viện ghép các nguồn, không phải lời của một nguồn nào.
Về di sản, có hai lớp khác nhau. Lễ hội đền Lảnh Giang được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 2459/QĐ-BVHTTDL ngày 20 tháng 6 năm 2017, còn Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ được UNESCO ghi danh năm 2016 cho cả cộng đồng thờ Mẫu.
Bên kia sông, cách chừng hai cây số rưỡi theo đường chim bay, là Văn Miếu Xích Đằng của Hưng Yên. Hai nơi nhìn nhau qua sông Hồng nhưng thuộc hai mạch khác hẳn, một bên là nơi thờ thủy thần của Đạo Mẫu, một bên là văn miếu của Nho học thờ Khổng Tử. Quý vị đi cả hai trong một chuyến thì nên đọc riêng từng bài.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Tổ dân phố Yên Lạc, phường Duy Tân (thôn Yên Lạc, xã Mộc Nam cũ, thị xã Duy Tiên cũ, tỉnh Hà Nam cũ), tỉnh Ninh Bình, bên bờ sông Hồng
- Đường tới
- Đền ở tổ dân phố Yên Lạc, phường Duy Tân, tỉnh Ninh Bình, thuộc xã Mộc Nam và thị xã Duy Tiên cũ của tỉnh Hà Nam cũ, ngay bên bờ sông Hồng. Bờ bên kia là đất Hưng Yên.
- Toạ độ
- 20.669, 106.0254
Lệ của đền theo lệ Tứ Phủ, khách hành hương dâng hương ở ban Công đồng trong tiền đường trước, rồi mới vào trung đường và hậu cung thờ ba vị thủy thần, sau đó sang cung Mẫu và động Sơn Trang. Mùa hội tháng Sáu là mùa nước lên, lễ rước nước đi trên sông, xin quý vị đứng trên bờ theo sự sắp xếp của ban tổ chức, không xuống thuyền của đoàn rước. Khi gặp vấn hầu, xin đứng ngoài chiếu hầu.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Lảnh Giang
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đền Lảnh Giang thờ ai
Thờ ba vị thủy thần thời Hùng mà người trong đạo tôn là Quan Lớn Đệ Tam, vị chính mang hiệu Trấn An Tây Nam Tam Kỳ Linh Ứng Đại Vương. Đền còn phối thờ Chử Đồng Tử, công chúa Tiên Dung, Tam Tòa Thánh Mẫu và Tứ Phủ Công Đồng, theo Cục Di sản văn hóa và VietnamNet.
Quan Lớn Đệ Tam là ai trong Tứ Phủ
Quan Lớn Đệ Tam là vị thứ ba trong Ngũ vị Tôn quan, thuộc Thoải phủ, miền sông nước, sắc trắng. Theo cách Đạo Mẫu kể, Ngài là con Vua Cha Bát Hải Động Đình, giữ kỷ cương Long Cung và cai quản các con sông. Lảnh Giang được các nguồn Đạo Mẫu coi là đền chính của Ngài.
Vì sao đền Lảnh Giang dựng ở ngã ba sông
Theo Cục Di sản văn hóa, chỗ này là nơi sông Hồng gặp nhánh sông Lảnh, nước xoáy mạnh, thuyền buôn qua lại hay bị đắm. Dân lập đền cầu thần che chở, thuyền bè qua đây đều thắp hương. Lý do ấy gắn thẳng với vai thủy thần của ba vị được thờ.
Lễ hội đền Lảnh Giang diễn ra khi nào
Hội chính trong tháng Sáu âm lịch. Theo Cục Di sản, lễ cáo yết ngày 30 tháng Năm, rước nước mồng 1, rước kiệu mồng 2, lễ tế mồng 3 tháng Sáu, hầu thánh kéo tới ngày 25 tháng Sáu với ngày 24 tháng Sáu là chính tiệc Quan Lớn Đệ Tam. Tháng Tám có dâng hương tế tạ.
Đền Lảnh Giang được xếp hạng gì
Đền được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia ngày 5 tháng 11 năm 1996. Lễ hội đền Lảnh Giang được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 2459/QĐ-BVHTTDL ngày 20 tháng 6 năm 2017. Kiến trúc gồm ba tòa mười bốn gian, tòa trung đường chồng diêm hai tầng tám mái.