Ở làng Xích Đằng, quý vị gặp trước hết cổng Văn miếu môn hai tầng tám mái, đầu đao cong vút lên khỏi hàng cây. Qua cổng là một khuôn viên chừng sáu nghìn mét vuông: lầu chuông một bên, lầu khánh một bên, hai dãy tả vu hữu vu, rồi ba tòa tiền tế, trung từ, hậu cung nối nhau theo hình chữ Tam. Dáng mái và cách chạm nhắc người ta tới kiến trúc cung đình Huế hơn là tới đình làng Bắc Bộ.
Đây là văn miếu của trấn Sơn Nam Thượng xưa, vùng đất nay là Hưng Yên và một phần Thái Bình cũ. Thứ giữ chân người đến lâu nhất ở đây là chín tấm bia đá khắc tên 161 vị đỗ đại khoa của trấn. Đọc hết chín tấm bia ấy là đọc được cả một nền học của vùng đồng bằng bên sông Hồng.
IKhổng Tử, Tiên Hiền Và Chu Văn An
Văn miếu thờ Khổng Tử cùng các bậc tiên hiền của đạo Nho, và thờ Chu Văn An (Cục Di sản văn hóa). Nét riêng mà báo Nhân Dân nêu là Chu Văn An được đặt thờ ở tòa giữa, tức trung từ, chứ không lui về hậu cung như ở nhiều nơi khác. Người Hưng Yên đưa người thầy đời Trần lên vị trí trang trọng ngay trong nếp thờ Khổng Tử.
Bốn chữ Hán ở đầu trang là tên Xích Đằng văn miếu do thư viện ghi theo âm Hán Việt, không chép từ hoành phi tại miếu.
Xét trong hệ văn miếu, Xích Đằng là văn miếu cấp trấn, bậc thứ hai sau Văn Miếu ở kinh đô, ngang với Văn miếu Mao Điền của trấn Hải Dương. Hai nơi cùng bậc nhưng khác cách thờ. Mao Điền thờ Khổng Tử cùng tám danh nhân xứ Đông, Chu Văn An đứng đầu tám vị. Xích Đằng không dựng một hàng danh nhân địa phương mà đưa riêng Chu Văn An lên tòa giữa. Cách bày ấy cho thấy mỗi trấn tự chọn lấy người để tôn làm thầy.
Về đền riêng của Chu Văn An, xin xem bài Đền thờ Chu Văn An trên núi Phượng Hoàng.
Chín tấm bia là phần có giá trị văn bản lớn nhất. Theo báo Nhân Dân, tám tấm dựng năm 1888 đời Đồng Khánh và một tấm dựng năm 1943 đời Bảo Đại, cùng ghi danh 161 vị đại khoa của trấn Sơn Nam Thượng. Trong số ấy 138 người Hưng Yên và 23 người Thái Bình cũ (Nhân Dân, Tuổi Trẻ). Cũng như bia ở Mao Điền, đây là bia đề danh tổng hợp dựng về sau để chép lại người đỗ của cả vùng, không phải bia dựng ngay sau từng khoa thi như 82 tấm bia ở Văn Miếu Quốc Tử Giám.
Con số 138 trên 161 nói nhiều điều về đất học Hưng Yên. Trấn Sơn Nam Thượng gồm cả phần đất nay thuộc Thái Bình cũ, nhưng gần sáu phần bảy số người đỗ đại khoa được ghi trên bia là người Hưng Yên. Trong hệ khoa cử xưa, đỗ đại khoa tức là đỗ thi Hội rồi vào thi Đình, lấy học vị tiến sĩ trở lên, bậc cao nhất một người đi học có thể đạt. Một vùng đồng bằng ven sông mà có ngần ấy người đi tới bậc ấy thì văn miếu ở đây không chỉ là nơi thờ theo lệ, mà là nơi một vùng đất ghi lại chính mình.
IITừ Chùa Nguyệt Đường Tới Văn Miếu Trấn
Văn miếu dựng thời Lê, trong thế kỷ 17, trên nền chùa Nguyệt Đường cũ ở làng Xích Đằng (Nhân Dân, Cục Di sản văn hóa). Báo Nhân Dân tính miếu có tuổi gần bốn trăm năm. Diện mạo hiện nay định hình từ lần trùng tu năm Minh Mạng thứ 20, tức năm 1839.
- Thế kỷ 17Dựng văn miếu trên nền chùa Nguyệt ĐườngThời Lê, văn miếu của trấn Sơn Nam Thượng được dựng ở làng Xích Đằng, trên nền ngôi chùa Nguyệt Đường cũ.
- 1803 và 1804Đúc khánh và chuôngBáo Nhân Dân ghi khánh đá làm năm 1803 và chuông đồng đúc năm 1804, treo ở lầu khánh và lầu chuông.
- 1839Trùng tu năm Minh Mạng thứ 20Lần trùng tu lớn được Cục Di sản văn hóa ghi lại, định hình bố cục chữ Tam và dáng kiến trúc mang ảnh hưởng cung đình Huế.
- 1888Dựng tám tấm biaĐời Đồng Khánh, tám tấm bia đề danh các vị đại khoa của trấn được dựng.
- 1943Dựng tấm bia thứ chínĐời Bảo Đại, dựng thêm một tấm bia, nâng tổng số lên chín tấm với 161 tên.
- 1992Xếp hạng di tích quốc giaVăn miếu Xích Đằng được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia (Nhân Dân).
- 2014Thuộc khu di tích quốc gia đặc biệtNằm trong Khu di tích Phố Hiến, xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2408/QĐ-TTg ngày 31 tháng 12 năm 2014.
Nguồn ghi vênh ở niên đại chuông khánh. Báo Nhân Dân ghi khánh đá năm 1803 và chuông đồng năm 1804, tức đầu thế kỷ 19, đời Gia Long. Báo Tuổi Trẻ lại ghi chuông khánh có từ thế kỷ 18. Chênh lệch nhỏ nhưng rơi vào hai thế kỷ khác nhau, thư viện chưa đối chiếu được minh văn trên chuông nên ghi cả hai.
Về năm khởi dựng, các nguồn đáng tin chỉ ghi thời Lê, thế kỷ 17, không nêu năm cụ thể. Thư viện giữ cách ghi ấy, không tự chốt một năm.
IIIBố Cục Chữ Tam Và Lầu Chuông
Khuôn viên gần 6.000 mét vuông gồm Văn miếu môn, miếu thổ thần, lầu chuông, lầu khánh, tả vu, hữu vu, rồi ba tòa tiền tế, trung từ, hậu cung, cùng các công trình phụ (Cục Di sản văn hóa). Ba tòa chính đặt song song theo hình chữ Tam, lối bày quen của văn miếu và đền lớn thời Nguyễn.
Cổng chính hai tầng tám mái, lớp đầu tiên quý vị gặp. Dáng cổng là thứ người ta hay nhớ nhất về nơi này.
Chỗ khác lệ của Xích Đằng: nơi khác thường có lầu chuông và lầu trống, ở đây là lầu chuông và lầu khánh (Tuổi Trẻ). Khánh đá và chuông đồng đều thuộc đầu thế kỷ 19 theo báo Nhân Dân.
Hai dãy nhà đối xứng hai bên sân, theo lệ văn miếu là chỗ thờ ở hàng dưới ban chính.
Tòa ngoài, nơi đặt hương án và làm phần tế chính.
Tòa giữa, nơi báo Nhân Dân ghi đặt thờ Chu Văn An, khác cách bày ở nhiều văn miếu khác.
Tòa trong cùng, đặt ban thờ Khổng Tử và các bậc tiên hiền.
Nhiều người đọc tên Phố Hiến rồi nghĩ Xích Đằng là một phần của thương cảng, dựng cho người buôn bán. Không phải. Xích Đằng là văn miếu của cả trấn, do nhà nước lập, thờ theo lệ Nho học, dù nằm trên đất Phố Hiến xưa. Bài Khu di tích Phố Hiến đã kể về thương cảng và cả quần thể, bài này chỉ nói văn miếu.
Cũng vì cái tên chung ấy mà có người gộp văn miếu với Đền Mẫu hay chùa Hiến gần đó thành một nơi thờ. Mỗi nơi thuộc một hệ riêng, văn miếu là hệ Nho học, đền Mẫu là hệ thờ Mẫu, chùa là nơi thờ Phật, chỉ chung một hồ sơ xếp hạng.
Dáng kiến trúc mang ảnh hưởng cung đình Huế có lý do về thời điểm. Lần trùng tu lớn năm 1839 rơi vào đời Minh Mạng, lúc triều Nguyễn đã định đô ở Huế được mấy chục năm và đang chuẩn hóa nhiều mặt của việc thờ tự trong cả nước. Một văn miếu cấp trấn được sửa vào lúc ấy thì dễ mang theo lối mái, lối chạm của kinh đô. Nhìn Xích Đằng vì vậy là nhìn thấy một văn miếu dựng từ thời Lê nhưng khoác dáng thời Nguyễn, hai lớp niên đại chồng lên nhau trên cùng một nền.
IVThế Đất Và Hướng
Mục này là lối đọc của thư viện theo phép phong thủy cổ truyền, đặt trên những gì nguồn tả về vị trí. Hồ sơ di tích không ghi lý do chọn đất, và quý vị nên đọc phần dưới như một kiến giải, không như một tư liệu.
Xích Đằng nằm ở vùng đất bãi ven sông Hồng, đồng bằng phẳng, không có núi làm hậu chẩm. Ở thế đất như vậy, phép xem đất bỏ phần xem núi, chuyển sang xem nước và xem độ cao nhỏ của nền. Một ngôi chùa đã đứng ở đây trước văn miếu, cho thấy nền đất này từ trước đã được coi là chỗ cao ráo, sạch, đáng đặt nơi thờ.
Trong cách nghĩ cổ truyền, đất đã thờ lâu thì tích khí. Văn miếu dựng trên nền chùa Nguyệt Đường là nhận lấy một chỗ đất đã được giữ gìn qua nhiều đời. Tên chùa cũ có chữ Nguyệt là trăng, tên nơi thờ mới lại thờ đạo học, cái lấy ánh sáng làm biểu tượng. Hai lớp nghĩa ấy tình cờ mà khớp nhau.
Bài Phố Hiến trong thư viện đã đọc cả vùng như một đô thị sắp theo chức năng: văn miếu ở phía trên, ứng với việc học là phần gốc, đền chùa người Việt rải trong khu dân cư, nơi thờ tự của người Hoa gần bến. Đứng riêng ở Xích Đằng mà nhìn thì thấy thêm một điều: bố cục chữ Tam với ba tòa song song và hai lầu đối xứng tạo ra một khối khép kín, tự làm thành ranh giới khí giữa đồng bằng mở. Các nguồn tra được không ghi hướng mặt miếu, nên thư viện không nêu hướng.
VTế Xuân Thu Và Lệ Xin Chữ
Lễ ở văn miếu theo lệ Nho học: hai kỳ tế xuân thu mỗi năm. Thư viện chưa tra được nguồn đáng tin ghi ngày âm lịch cụ thể của hai kỳ tế ở Xích Đằng, nên không ghi ngày. Lệ dễ thấy nhất hiện nay là xin chữ đầu xuân (Công Thương).
| Thời điểm âm lịch | Nghi thức | Ghi chú |
|---|---|---|
| Đầu xuân, tháng Giêng | Xin chữ đầu năm | Người Hưng Yên và khách thập phương về miếu xin chữ, theo báo Công Thương. |
| Mùa xuân | Tế xuân | Kỳ tế mùa xuân theo lệ văn miếu. Chưa tra được ngày cụ thể có nguồn. |
| Mùa thu | Tế thu | Kỳ tế mùa thu, cùng khuôn với kỳ xuân. Chưa tra được ngày cụ thể có nguồn. |
Đi Xích Đằng thường đi kèm các nơi khác trong quần thể. Đền Mẫu cách chừng 1,4 cây số thờ một vị Mẫu theo lệ thờ Mẫu, khác hẳn hệ Nho học ở đây. Đền Lảnh Giang cách chừng 2,6 cây số thuộc hệ thờ Mẫu Thoải phủ. Đi một vòng như vậy, quý vị sẽ thấy trong một bán kính vài cây số, người Hưng Yên xưa đã đặt cạnh nhau những lối thờ rất khác mà không lẫn vào nhau.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Thôn Xích Đằng, phường Phố Hiến (phường Lam Sơn cũ, thành phố Hưng Yên cũ), tỉnh Hưng Yên
- Đường tới
- Nằm ở thôn Xích Đằng, phường Phố Hiến, tỉnh Hưng Yên, thuộc khu vực thành phố Hưng Yên cũ, cách Đền Mẫu chừng 1,4 km và đền Lảnh Giang chừng 2,6 km, nên thường đi cùng các di tích khác của quần thể Phố Hiến.
- Toạ độ
- 20.6622, 106.0492
Văn miếu là nơi thờ tự, lệ của nó là lệ Nho học: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào tiền tế, trung từ và hậu cung, không đặt lễ mặn, không đốt vàng mã trước ban thờ Khổng Tử và Chu Văn An. Chín tấm bia là hiện vật quý của cả vùng, xin quý vị không ngồi, không tựa lên bia, không xoa tay lên mặt chữ.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Văn miếu Xích Đằng
Contribute photos, information or video for Xich Dang Temple of LiteratureThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Văn miếu Xích Đằng thờ ai
Thờ Khổng Tử cùng các bậc tiên hiền của đạo Nho, và thờ Chu Văn An, theo Cục Di sản văn hóa. Nét riêng báo Nhân Dân nêu là Chu Văn An được đặt thờ ở tòa giữa chứ không lui về hậu cung như nhiều văn miếu khác.
Văn miếu Xích Đằng có bao nhiêu bia tiến sĩ
Có chín tấm bia đá ghi danh 161 vị đỗ đại khoa của trấn Sơn Nam Thượng, gồm 138 người Hưng Yên và 23 người Thái Bình cũ. Theo báo Nhân Dân, tám tấm dựng năm 1888 đời Đồng Khánh và một tấm dựng năm 1943 đời Bảo Đại.
Văn miếu Xích Đằng xây năm nào
Văn miếu dựng thời Lê, trong thế kỷ 17, trên nền chùa Nguyệt Đường cũ, theo báo Nhân Dân và Cục Di sản văn hóa. Lần trùng tu lớn diễn ra năm Minh Mạng thứ 20, tức năm 1839. Các nguồn đáng tin không nêu năm khởi dựng cụ thể.
Văn miếu Xích Đằng có gì khác các văn miếu khác
Hai điểm dễ thấy. Một là lầu chuông đi cặp với lầu khánh thay vì lầu trống như thường lệ. Hai là Chu Văn An được thờ ở tòa giữa, còn nhiều văn miếu khác đặt ông ở hàng phối thờ. Bố cục chữ Tam và dáng mái mang ảnh hưởng kiến trúc cung đình Huế.
Văn miếu Xích Đằng có thuộc Phố Hiến không
Có. Văn miếu được xếp hạng di tích quốc gia năm 1992, nay nằm trong Khu di tích Phố Hiến, xếp hạng quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2408/QĐ-TTg ngày 31 tháng 12 năm 2014. Tuy vậy đây là văn miếu cấp trấn do nhà nước lập, không phải công trình của thương cảng.