Men theo triền đê sông Tiên Hưng (một nhánh cổ của sông Luộc và sông Hồng chảy qua vùng đất Đa Cương xưa), tới địa phận thôn Tiên La, quý vị sẽ thấy một gò đất cao hình con rùa vàng vươn đầu ra phía mặt nước, trên lưng gò là một quần thể đền đài bằng đá xanh xám trầm mặc rộng hơn bốn nghìn mét vuông. Bước qua cổng Tam quan đá đồ sộ, ngước nhìn hai hàng cột đá chạm lưỡng long chầu nguyệt cùng đôi câu đối khắc chìm Kim Quy địa linh thiên cổ miếu, Bát Nạn nhân kiệt vạn niên từ, người hành hương lập tức cảm nhận được khí phách lẫm liệt của một bậc nữ tướng thời dựng nước. Đó là Đền Tiên La, ngôi quốc từ phụng thờ Bát Nạn Đông Nhung Đại Tướng Quân Vũ Thị Thục.
Cách đây gần hai nghìn năm, vào mùa xuân năm Quý Mão (43 sau Công nguyên), trên chính gò Kim Quy này, vị nữ danh tướng tiên phong dưới cờ Hai Bà Trưng đã tuẫn tiết để giữ trọn khí tiết anh hùng. Trên nền ngôi chùa Kim Quy cổ nơi bà từng nương náu chiêu binh và tụng kinh niệm Phật, nhân dân đã dựng nên ngôi đền mang cấu trúc Tiền Thần hậu Phật độc đáo, vừa tôn vinh vị nữ anh hùng dân tộc vừa hòa quyện vào dòng chảy Tín ngưỡng thờ Mẫu của cư dân đồng bằng Bắc Bộ.
IBát Nạn Đông Nhung Đại Tướng Quân Vũ Thị Thục Và Tín Ngưỡng Mẫu Tiên La
Vị tôn thần chính được phụng thờ tại Đền Tiên La là Vũ Thị Thục (dân gian kính gọi là Thục Nương hay Mẫu Tiên La), sinh ngày Rằm tháng Tám năm Đinh Sửu (17 sau Công nguyên), mất ngày 17 tháng Ba năm Quý Mão (43 sau Công nguyên). Bà là một trong những nữ tướng kiệt xuất nhất của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở thế kỷ thứ nhất, được sắc phong qua nhiều triều đại với mỹ hiệu Bát Nạn Đông Nhung Đại Tướng Quân.
Theo ngọc phả lưu giữ tại Đền Tiên La (do Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm Hồng Phúc nguyên niên 1572, Nguyễn Hiền sao lại năm Vĩnh Hựu thứ 6 tức 1740) đối chiếu cùng thần tích đền Phượng Lâu (Phú Thọ), Vũ Thị Thục quê gốc ở trang Phượng Lâu, quận Giao Chỉ (nay thuộc tỉnh Phú Thọ). Thân phụ bà là ông Vũ Chất, một danh y đức độ, thân mẫu là bà Hoàng Thị Mậu. Từ nhỏ Thục Nương đã nổi tiếng sắc nước hương trời, lại văn võ song toàn, thông hiểu binh thư và kiếm pháp. Năm mười tám tuổi, bà được hứa gả cho Phạm Danh Hương, con trai quan huyện lệnh vùng Phù Ninh, một chàng trai tuấn tú và giàu lòng yêu nước.
Biến cố xảy ra khi tên thái thú nhà Đông Hán khét tiếng tàn bạo là Tô Định nghe tiếng Thục Nương tuyệt sắc liền đem quân tới trang Phượng Lâu ép gả. Cự tuyệt trước cường quyền, cha bà là ông Vũ Chất và vị hôn phu Phạm Danh Hương đã bị Tô Định sát hại, còn mẹ bà cũng tử nạn trong cơn binh biến. Nén đau thương, Thục Nương cầm gươm phá vòng vây trong đêm tối, lên thuyền vượt sông Hồng xuôi về phương nam. Khi tới vùng đất Đa Cương (tức vùng Tiên La, Hưng Hà ngày nay), thấy gò đất cao hình rùa vàng có ngôi chùa Kim Quy cổ kính nằm giữa vùng đầm lầy lau sậy hiểm trở, bà đã dừng chân nương nhờ cửa Phật, vừa ẩn mình vừa ngầm chiêu mộ trai tráng bốn phương, khai khẩn đất hoang tích trữ lương thảo.
Tháng Ba năm Kỷ Hợi (39 sau Công nguyên), Vũ Thị Thục chính thức lập đàn tế trời đất trên gò Kim Quy, dựng cờ khởi nghĩa đề bốn chữ vàng Bát Nạn Tướng Quân (nghĩa là vị tướng quân phá tan tám nạn khổ của muôn dân). Mùa xuân năm Canh Tý (40), khi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa ở Hát Môn, bà đem hàng nghìn nghĩa binh vùng Đa Cương về tụ nghĩa, lập công đầu đánh đuổi Tô Định và giải phóng sáu mươi lăm thành trì Lĩnh Nam. Khi Trưng Trắc lên ngôi vua (Trưng Vương), Thục Nương được phong làm Đông Nhung Đại Tướng Quân, đứng đầu hàng tướng lĩnh coi giữ mặt đông. Năm Nhâm Dần (42) sang năm Quý Mão (43), khi Phục Ba tướng quân Mã Viện nhà Đông Hán đem đại quân sang xâm lược, bà chỉ huy quân tiên phong kịch chiến từ Lãng Bạc, Cẩm Khê rồi rút về căn cứ Tiên La cố thủ. Ngày 17 tháng Ba năm Quý Mão (43), trong trận quyết chiến cuối cùng trên gò Kim Quy, khi thế cùng lực kiệt, bà đã rút gươm tuẫn tiết ngay dưới gốc cổ thụ bên chùa Kim Quy để giữ trọn danh tiết ở tuổi hai mươi bảy.
Trong tâm thức đạo thờ cúng tổ tiên và anh hùng dân tộc của người Việt vùng hạ lưu sông Hồng, Vũ Thị Thục không chỉ dừng lại ở hình tượng một vị võ tướng tuẫn quốc mà đã được nhân dân suy tôn thành bậc Thánh Mẫu (Mẫu Tiên La). Bởi sinh thời bà từng nương náu tu hành tại chùa Kim Quy trước khi cầm gươm ra trận, nên ngôi đền thờ bà mang cấu trúc tín ngưỡng kép Tiền Thần hậu Phật: phía trước thờ Thánh Mẫu Bát Nạn và các vị tướng lĩnh nghĩa quân cùng song thân của bà, phía sau thờ Phật tổ Như Lai và Bồ tát Quan Âm. Sự dung hợp giữa tinh thần bi trí dũng của Phật giáo với khí phách giữ nước của nữ anh hùng thời Hai Bà Trưng đã làm nên sức sống tâm linh bền bỉ của Đền Tiên La suốt hai thiên niên kỷ.
Nhiều người khi đọc danh hiệu Bát Nạn Tướng Quân thường phát âm hoặc viết thành Bát Nàn và hiểu lầm đó là tên một địa danh nơi bà đóng quân. Thực ra, trong chữ Hán trên ngọc phả và hoành phi câu đối tại đền, danh hiệu của bà được viết là 八難將軍 (Bát Nạn Tướng Quân), trong đó chữ Bát (八) là tám, chữ Nạn (難) là tai nạn, khổ nạn (ứng với tám nỗi khổ lớn của dân lành dưới ách đô hộ phương Bắc và tám khổ nạn trong giáo lý nhà Phật mà bà nguyện ra tay cứu độ). Việc đọc chệch thành Bát Nàn chỉ là thói quen biến âm trong khẩu ngữ dân gian.
IIHai Nghìn Năm Lịch Sử Từ Chùa Kim Quy Đến Quốc Từ Đá Xanh
Trải qua gần hai mươi thế kỷ từ thời Hai Bà Trưng tới nay, Đền Tiên La luôn được các triều đại phong kiến Việt Nam từ Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Lê tới Nguyễn ban sắc phong là bậc Thượng đẳng tối linh thần và cho phép quốc tế (nhà nước đứng ra tế lễ).
- 39 tới 40 SCNDựng cờ Bát Nạn trên gò Kim Quy và tụ nghĩaVũ Thị Thục nương náu tại chùa Kim Quy đất Đa Cương, chiêu binh lập căn cứ, dựng cờ Bát Nạn Tướng Quân năm Kỷ Hợi (39) rồi đem quân hợp lực với Hai Bà Trưng mùa xuân năm Canh Tý (40), được phong Đông Nhung Đại Tướng Quân.
- 43 SCNTuẫn tiết ngày 17 tháng Ba năm Quý Mão và lập miếu thờSau trận huyết chiến chống quân Đông Hán của Mã Viện, nữ tướng Vũ Thị Thục tuẫn tiết trên gò Kim Quy ngày 17 tháng Ba năm Quý Mão (43). Nhân dân địa phương an táng bà và lập miếu thờ ngay bên nền chùa Kim Quy cổ.
- Thế kỷ 11 tới 14Sắc phong thời Lý, TrầnTương truyền trong các cuộc kháng chiến chống Tống thời Lý và chống Nguyên Mông thời Trần, các vua Lý, Trần khi hành quân qua vùng sông Tiên Hưng, Đa Cương đều vào đền cầu đảo, được thần hiển ứng âm phù nên ban sắc phong tôn làm Thượng đẳng thần.
- 1572 và 1740Soạn và sao lục Ngọc phả Đền Tiên LaNăm Hồng Phúc nguyên niên (1572) thời Lê Trung Hưng, Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn thần tích Bát Nạn Đông Nhung Đại Tướng Quân, tới năm Vĩnh Hựu thứ 6 (1740) Quản giám bách thần Nguyễn Hiền sao lục lại để lưu giữ tại đền.
- Thế kỷ 19Định hình quy mô kiến trúc thời NguyễnDưới các triều vua Minh Mạng, Tự Đức, Thành Thái, ngôi đền được mở rộng quy mô lớn theo bố cục Tiền nhất hậu đinh và Tiền Thần hậu Phật, bổ sung nhiều bức chạm gỗ tứ thiết, hoành phi, câu đối và đồ tế khí đồng.
- 1986Xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa quốc giaNgày 21 tháng 1 năm 1986, Bộ Văn hóa ban hành Quyết định số 43-VH/QĐ công nhận Đền Tiên La là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
- 2006 tới 2015Đại trùng tu kiến trúc đá xanh nguyên khốiNhân dân địa phương và thập phương công đức cùng tỉnh Thái Bình cũ tiến hành đợt đại trùng tu, mở rộng khuôn viên đền lên hơn 4.000 mét vuông, kiến tạo hệ thống Tam quan, Đại bái, Trung tế phương đình và Thượng điện bằng đá xanh chạm khắc tinh xảo.
- 2016Lễ hội Đền Tiên La thành Di sản văn hóa phi vật thể quốc giaNgày 13 tháng 6 năm 2016, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành quyết định đưa Lễ hội Đền Tiên La vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Một điểm quan trọng trong lịch sử kiến trúc của Đền Tiên La mà người khảo cứu cần lưu ý là sự kết hợp giữa lớp di tích gỗ cổ thời Lê Nguyễn và lớp kiến trúc đá xanh nguyên khối hoàn thiện đầu thế kỷ 21. Một số bài viết du lịch ngắn gọn thường mô tả toàn bộ ngôi đền đá hiện nay như một phế tích cổ nguyên bản từ hàng trăm năm trước, trong khi hồ sơ bảo tồn di tích ghi rõ: nền móng gò Kim Quy, thần tích, sắc phong, các mảng chạm gỗ tứ thiết và đồ thờ tự trong Hậu cung có niên đại cổ từ thời Lê Trung Hưng và thời Nguyễn, còn hệ thống tòa Đại bái, Trung tế phương đình chồng diêm và Tam quan bằng đá xanh đồ sộ hiện diện phía ngoài là thành tựu đại trùng tu quy mô lớn trong giai đoạn từ sau năm 2006 tới năm 2015 nhằm tôn vinh xứng tầm vị nữ anh hùng thời Hai Bà Trưng.
IIIKiến Trúc Tiền Thần Hậu Phật Và Tuyệt Tác Chạm Khắc Đá Xanh
Toàn bộ quần thể Đền Tiên La tọa lạc trên lưng gò Kim Quy rộng hơn bốn nghìn mét vuông, mặt chính trông thẳng ra dòng sông Tiên Hưng. Nhìn tổng thể từ ngoài vào trong, ngôi đền được quy hoạch đăng đối theo trục thần đạo xuyên suốt, kết hợp bố cục mặt bằng Tiền nhất hậu đinh với nguyên tắc bài trí thờ tự Tiền Thần hậu Phật.
Điểm gây choáng ngợp nhất cho bất kỳ ai bước chân vào Đền Tiên La là quy mô sử dụng đá xanh nguyên khối: từ cổng Tam quan, trụ biểu, lan can sân hội cho tới toàn bộ hệ thống cột cái, cột quân, xà ngang, câu đầu, kẻ bẩy, vòm cuốn và bệ rồng của tòa Đại bái, tòa Trung tế phương đình đều được chế tác bằng đá xanh chạm lộng và chạm nổi tứ linh (long, ly, quy, phượng), lưỡng long chầu nguyệt, tùng hạc và mây lửa cuồn cuộn.
Phía trước đền sát triền đê sông Tiên Hưng là hệ thống cổng nghi môn và Tam quan dựng hoàn toàn bằng đá xanh nguyên khối, gồm các cột đồng trụ đỉnh đắp nghê chầu và vòm cổng chồng diêm tám mái. Qua cổng là sân hội lát đá rộng lớn, hai bên đặt hai dãy tả vu, hữu vu và lầu chuông, lầu trống đối xứng.
Nằm ngang ở phía trước theo hình chữ Nhất (一), tòa Đại bái vươn cao với hệ mái đao uốn cong hình rồng bay. Hàng cột đá mặt tiền đường kính lớn được chạm nổi nguyên con rồng uốn lượn trong mây và khắc đôi câu đối trứ danh: Kim Quy địa linh thiên cổ miếu, Bát Nạn nhân kiệt vạn niên từ (Đất thiêng Kim Quy ngôi miếu ngàn năm, Bậc nhân kiệt Bát Nạn đền thờ muôn thuở).
Hạng mục kiến trúc đá đặc sắc nhất của đền, dựng theo kiểu phương đình hai tầng tám mái (chồng diêm cổ các) nối liền sau Đại bái. Toàn bộ hệ thống cột đá, xà đá, kèo đá và các bức cốn đá bên trong đều được đục chạm thủ công đề tài long vân khánh hội, bát tiên quá hải và tứ quý với độ sắc nét tinh xảo hiếm có ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Nối với Trung tế tạo thành hình chữ Đinh (丁) là tòa Thượng điện thâm nghiêm, nơi bảo lưu nhiều cấu kiện gỗ tứ thiết chạm trổ từ thời Nguyễn cùng hệ thống long ngai, khám thờ sơn son thếp vàng. Chính giữa hậu cung ngự pho tượng đồng Bát Nạn Đông Nhung Đại Tướng Quân Vũ Thị Thục uy nghiêm phúc hậu, hai bên phối thờ song thân của bà (ông Vũ Chất, bà Hoàng Thị Mậu) cùng các vị nữ tướng dưới cờ khởi nghĩa.
Phía sau khu vực thờ Thánh là không gian thờ Phật tổ, Tam thế Phật và Quan Âm Bồ tát, kế thừa trực tiếp mạch nguồn của ngôi chùa Kim Quy cổ từ thế kỷ thứ nhất nơi Thục Nương từng xuất gia nương náu, hoàn thiện trọn vẹn cấu trúc Tiền Thần hậu Phật của di tích.
Bên cạnh kiến trúc đá đồ sộ, Đền Tiên La còn là nơi lưu giữ một kho tàng cổ vật quý giá: các đạo sắc phong từ thời Lê Trung Hưng tới thời Nguyễn, đôi câu đối lòng máng sơn son thếp vàng, đại tự cổ, khám thờ gỗ chạm lộng thế kỷ 19, chuông đồng, chiêng cổ và các bộ bát bửu, chấp kích phục vụ lễ rước. Sự kết hợp giữa màu đá xanh trầm mặc bên ngoài với ánh vàng son rực rỡ của đồ thờ gỗ cổ bên trong tạo nên chiều sâu thẩm mỹ vừa uy lực như doanh trại võ tướng, vừa từ bi tĩnh tại như chốn già lam.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền dựa trên địa hình thực tế của gò Kim Quy, dòng sông Tiên Hưng và tọa độ vệ tinh của ngôi đền, không phải nội dung chép trong ngọc phả. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu lịch sử và đâu là kiến giải địa lý.
Đền Tiên La tọa lạc tại tọa độ 20.6247 độ vĩ Bắc, 106.2222 độ kinh Đông, nằm ở vùng đồng bằng trũng ven sông thuộc địa phận xã Tiên La, tỉnh Hưng Yên (vùng đất Đa Cương, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình cũ). Trong phong thủy địa hình đồng bằng châu thổ, nơi không có núi đá cao thì gò đống tự nhiên nổi lên giữa bình dương chính là nơi long mạch kết huyệt (bình dương nhất đột giá thiên kim, tức giữa đồng bằng phẳng nổi lên một gò cao quý giá đáng ngàn vàng). Đền Tiên La ngự trọn trên lưng gò Kim Quy, một gò đất tự nhiên cao ráo có hình dáng hệt như một con rùa vàng khổng lồ đang bò từ cánh đồng làng Tiên La ra uống nước dòng sông Tiên Hưng. Phần hậu cung và điện Phật đặt ngay trên phần mai rùa nhô cao làm hậu chẩm, còn phần Đại bái và Tam quan vươn ra phía đầu rùa hướng về mặt nước.
Xét về thủy pháp và minh đường, ngay phía trước mặt đền là dòng sông Tiên Hưng uốn khúc chảy qua theo thế ngọc đái thủy (dòng nước uốn cong ôm lấy gò đất như chiếc đai ngọc). Trong thuật xem đất, rùa (Quy) là linh vật thuộc hành Thủy, khi gò Kim Quy gặp dòng nước sông Tiên Hưng ở ngay minh đường phía trước thì tạo thành cách cục Kim Quy ẩm thủy (rùa vàng uống nước) hoặc Linh Quy xuất thủy, giúp sinh khí của đất không ngừng được bồi tụ và lưu chuyển. Khoảng không gian mặt sông rộng thoáng cùng bãi bồi bên kia bờ đê đóng vai trò làm nội minh đường và ngoại minh đường tụ khí cho toàn bộ ngôi quốc từ.
Về tọa hướng, trục thần đạo của Đền Tiên La mở về hướng Tây Nam, nhìn thẳng ra khúc uốn của dòng sông Tiên Hưng và hướng về phía dòng sông Hồng, sông Luộc lớn ở xa hơn. Hướng Tây Nam trong Bát quái Hậu thiên thuộc cung Khôn (tượng trưng cho Đất Mẹ, cho bậc Mẫu nghi thuần hậu và sức mạnh che chở muôn loài). Một ngôi đền phụng thờ vị nữ đại tướng được nhân dân tôn vinh làm Thánh Mẫu Tiên La, ngự trên gò Kim Quy (linh vật của đất và nước) và mở cửa chính về phương Khôn (phương của Mẫu địa) bên dòng sông uốn lượn: cả hình thể gò đất, vị thần được thờ và phương vị tọa hướng đều khớp nhau thành một thể thống nhất hiếm có ở vùng châu thổ Bắc Bộ.
VLễ Hội Đền Tiên La: Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể Quốc Gia
Lễ hội Đền Tiên La là một trong những lễ hội mùa xuân lớn nhất của vùng đồng bằng sông Hồng, đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2016. Lễ hội diễn ra từ ngày mùng 10 tới ngày 20 tháng Ba âm lịch hàng năm (trọng tâm từ ngày 15 tới ngày 17 tháng Ba âm lịch) để tưởng niệm ngày Bát Nạn Đông Nhung Đại Tướng Quân Vũ Thị Thục tuẫn tiết vì nước (17 tháng Ba năm Quý Mão 43 SCN).
| Thời gian âm lịch | Nghi thức và hoạt động | Nội dung chi tiết |
|---|---|---|
| Ngày 10 tháng 3 | Lễ mở cửa đền và rước kiệu, rước nước trên sông Tiên Hưng | Sáng sớm ngày mùng 10 tháng 3, ban khánh tiết cùng nhân dân địa phương cử hành lễ khai chỉ mở cửa đền, sau đó tổ chức đoàn rước kiệu bát cống và rước thuyền rồng ra giữa dòng sông Tiên Hưng lấy nước thiêng về làm lễ Mộc dục (tắm tượng) và dâng cúng Thánh Mẫu. |
| Ngày 15 và 16 tháng 3 | Lễ rước bộ, rước thủy của các làng xã và tế lễ cổ truyền | Các đoàn rước từ các thôn làng trong vùng Đa Cương xưa (và các đền đồng tuế thờ các bộ tướng của bà trong vùng Hưng Hà) rước kiệu, cờ thần, bát bửu về chầu tại sân hội Đền Tiên La. Các đội tế nam quan và nữ quan thực hiện nghi thức tế cổ truyền trang nghiêm trước tòa Trung tế và Thượng điện. |
| Ngày 17 tháng 3 (Chính kỵ) | Lễ Đại tế kỷ niệm ngày hóa của Bát Nạn Đại Tướng Quân | Ngày chính hội tưởng niệm ngày Nữ tướng Vũ Thị Thục tuẫn tiết trên gò Kim Quy. Nghi thức dâng hương, đọc chúc văn ca ngợi công đức đánh giặc Đông Hán dưới cờ Hai Bà Trưng diễn ra trọng thể, kết hợp các canh hát chầu văn và thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của các bản hội thập phương. |
| Từ ngày 10 tới ngày 20 tháng 3 | Trò hội dân gian vùng đất Đa Cương cổ | Trong suốt mười ngày lễ hội diễn ra nhiều trò diễn và hội thi dân gian đặc sắc gắn với truyền thuyết nghĩa quân luyện võ tích lương: thi giã bánh dày dâng Mẫu, thi pháo đất, đấu vật cổ truyền, múa rồng múa lân, cờ tướng, chọi gà và hát chèo trên sân đền và mặt sông Tiên Hưng. |
Nét độc đáo riêng có trong Lễ hội Đền Tiên La là tục thi giã bánh dày và dâng cỗ chay của các giáp trong làng cùng trò thi pháo đất bên triền sông Tiên Hưng. Theo truyền thuyết dân gian, bánh dày trắng dẻo là lương khô mà nghĩa binh của Thục Nương giã trong đêm trước ngày xuất quân về Hát Môn tụ nghĩa với Hai Bà Trưng, còn tiếng nổ vang rền của pháo đất bên bờ sông gợi lại âm vang đắp lũy đào hào chống giặc của quân dân vùng Đa Cương gần hai nghìn năm trước.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Thôn Tiên La, xã Tiên La (xã Đoan Hùng cũ, huyện Hưng Hà cũ, tỉnh Thái Bình cũ), tỉnh Hưng Yên
- Đường tới
- Từ trung tâm hành chính tỉnh Hưng Yên (phường Phố Hiến), đi qua cầu Hưng Hà vượt sông Hồng sang địa phận huyện Hưng Hà cũ theo tuyến đường ĐT.453 (đường nối Quốc lộ 39) khoảng 15 km về phía đông nam tới xã Tiên La (xã Đoan Hùng cũ), đền nằm ngay bên bờ đê sông Tiên Hưng.
- Toạ độ
- 20.6247, 106.2222
Đền Tiên La có cấu trúc Tiền Thần hậu Phật, vì vậy khi vào dâng lễ quý vị cần lưu ý: tại ban thờ Phật ở phía sau và ban thờ Mẫu chỉ dâng lễ chay (hương, hoa tươi, quả chín, oản phẩm, xôi chè), tuyệt đối không đặt lễ mặn hay tiền âm phủ lên hương án Phật điện. Vào dịp chính hội tháng Ba âm lịch lượng khách thập phương đổ về gò Kim Quy rất đông, quý vị nên ăn mặc trang nghiêm, giữ trật tự khi đi qua tòa Trung tế đá xanh và tuân theo sự hướng dẫn của ban quản lý di tích.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Tiên La
Contribute photos, information or video for Tiên La TempleThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đền Tiên La thờ vị anh hùng dân tộc nào
Đền Tiên La phụng thờ Bát Nạn Đông Nhung Đại Tướng Quân Vũ Thị Thục (Thục Nương, sinh năm 17, mất năm 43 sau Công nguyên), vị nữ danh tướng kiệt xuất đã chiêu binh dựng cờ khởi nghĩa ở vùng Đa Cương rồi hợp lực dưới cờ Hai Bà Trưng đánh đuổi thái thú Tô Định nhà Đông Hán.
Vì sao danh hiệu của bà là Bát Nạn Tướng Quân chứ không phải Bát Nàn
Trên ngọc phả và hoành phi chữ Hán tại đền, danh hiệu của bà được viết là Bát Nạn Tướng Quân, nghĩa là vị tướng quân cứu dân thoát khỏi tám tai nạn, khổ nạn dưới ách đô hộ tàn bạo của nhà Đông Hán và tám khổ nạn nhân sinh, còn cách gọi Bát Nàn chỉ là sự đọc chệch âm trong khẩu ngữ dân gian.
Kiến trúc của Đền Tiên La có điểm gì đặc biệt
Đền Tiên La tọa lạc trên gò Kim Quy rộng hơn 4.000 mét vuông, xây dựng theo cấu trúc Tiền Thần hậu Phật và bố cục Tiền nhất hậu đinh, nổi bật với toàn bộ hệ thống Tam quan, tòa Đại bái và tòa Trung tế phương đình chồng diêm cổ các được chế tác bằng đá xanh nguyên khối chạm khắc tứ linh tinh xảo.
Đền Tiên La thuộc tỉnh và xã nào sau đợt sáp nhập năm 2025
Theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 hợp nhất tỉnh Thái Bình và tỉnh Hưng Yên thành tỉnh Hưng Yên mới, cùng Nghị quyết số 1666/NQ-UBTVQH15 hợp nhất bốn xã Tân Tiến, Thái Phương, Đoan Hùng, Phúc Khánh thành xã Tiên La, Đền Tiên La hiện nay thuộc thôn Tiên La, xã Tiên La, tỉnh Hưng Yên.
Lễ hội Đền Tiên La diễn ra vào ngày nào và có giá trị di sản gì
Lễ hội Đền Tiên La diễn ra từ ngày mùng 10 tới ngày 20 tháng 3 âm lịch hàng năm (chính kỵ ngày 17 tháng 3 âm lịch là ngày Nữ tướng Vũ Thị Thục tuẫn tiết) và đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào năm 2016.