VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Kỳ Viên

Kỳ Viên tự, Jetavana

Ngôi chùa Nam Tông Kinh giữa lòng phố Sài Gòn, mang tên khu vườn nơi Đức Phật an cư nhiều mùa mưa nhất, giữ xá lợi Phật ở tầng thờ cao nhất.

Lập chùa
1947
được cấp phép xây lại ngày 21 tháng 7 năm 1949
Xá lợi Phật
1953
do ngài Narada người Tích Lan dâng
Tông phái
Nam Tông Kinh
Theravada của người Việt, khác Nam Tông Khmer

Giữa dãy nhà phố đường Nguyễn Đình Chiểu, đoạn qua phường Bàn Cờ, quý vị gặp một mặt tiền chùa sát lề đường. Trên mái có hai dòng chữ: Kỳ Viên Tự viết bằng chữ quốc ngữ và Jetavana Vihara viết bằng tiếng Pali phiên chữ La tinh. Không có chữ Hán nào. Bước vào chánh điện, quý vị thấy bệ thờ dựng thành ba cấp, cao nhất là nơi tôn trí xá lợi Phật, dưới đó là tượng Đức Phật Thích Ca.

Đây là ngôi chùa Nam Tông Kinh nằm giữa nội đô Sài Gòn, lập năm 1947 và dựng lại từ năm 1949. Nếu chùa Bửu Quang ở Gò Dưa là gốc, nơi dòng Theravada người Việt có ranh giới Sima đầu tiên, thì Kỳ Viên là chỗ dòng ấy đưa lời giảng vào giữa phố, tiếp khách tăng từ các nước Theravada và giữ xá lợi Phật.

ITên Kỳ Viên Và Vai Trò Giữa Phố

Kỳ Viên là tên Hán Việt của Jetavana, khu vườn của thái tử Kỳ Đà ở ngoại ô thành Xá Vệ. Trưởng giả Cấp Cô Độc, tức Tu Đạt, mua lại khu vườn ấy và dựng tinh xá dâng Đức Phật. Theo kinh Pali, Đức Phật an cư ở Kỳ Viên nhiều mùa mưa hơn bất cứ nơi nào khác, và rất nhiều bài kinh mở đầu bằng câu Đức Thế Tôn trú ở Kỳ Viên. Đặt tên chùa là Kỳ Viên tức là đặt cho ngôi chùa vai trò của một tinh xá gần thành, nơi người thành thị tìm tới nghe pháp.

Theo giáo nghĩa

Chùa thuộc Phật Giáo Nam Tông Kinh, dòng Theravada của người Việt. Dòng này giữ Tam Tạng Pali, giữ giới luật tỳ khưu Pali, chỉ thờ Đức Phật Thích Ca, và tụng kinh bằng tiếng Pali kèm bản dịch tiếng Việt. Nam Tông Kinh không đặt pháp danh theo bài kệ truyền thừa như các dòng Bắc Tông: mỗi vị tỳ khưu nhận một pháp danh Pali do thầy tế độ đặt, nên ở Kỳ Viên không có bài kệ nào để chép. Phần giải thích kỹ về chỗ khác giữa Nam Tông Kinh và Nam Tông Khmer đã có trong bài chùa Bửu Quang.

Phân vai với Bửu Quang. Hai chùa cùng một hệ phái, cùng có dấu tay của cụ Nguyễn Văn Hiểu, nhưng giữ hai việc khác nhau. Bửu Quang là tổ đình, nơi làm lễ kiết giới Sima đầu tiên năm 1940. Kỳ Viên là trung tâm hoằng pháp giữa nội đô và nơi tiếp các phái đoàn Phật Giáo quốc tế thuộc truyền thống Theravada, theo cách giới thiệu của Chốn Thiêng và VinWonders. Trong thập niên 1950, ngài Narada người Tích Lan nhiều lần sang Việt Nam và thuyết pháp hằng tuần tại Kỳ Viên, thu hút đông người tới nghe và xin quy y.

Chỗ hay hiểu lầm

Vì nằm giữa phố, dễ tìm và đông người, Kỳ Viên hay bị gọi nhầm là tổ đình của Nam Tông Việt Nam. Tổ đình là chùa Bửu Quang ở Gò Dưa, lập năm 1938. Chỗ nhầm thứ hai: nhiều người thấy y vàng và mái chùa có chữ Pali rồi nghĩ đây là chùa Khmer. Kỳ Viên là chùa của người Việt tu theo Theravada, kinh giảng bằng tiếng Việt.

IITừ Ngôi Chùa Nhỏ Tới Chùa Giữa Phố

Theo sử liệu

Chỗ các nguồn ghi khác nhau về người lập. VinWonders ghi chùa do bà Bùi Thị Ngọc lập năm 1947 để tu học theo truyền thống Bắc Tông, về sau ngôi chùa ấy phải dỡ để mở đường, và một nhóm cư sĩ mượn đất phía đối diện dựng chùa mới. Chốn Thiêng cũng nhắc bà Bùi Thị Ngọc, người trong vùng gọi là bà Năm Chùa, nhưng ghi rằng Kỳ Viên Nam Tông là do cụ Nguyễn Văn Hiểu cùng nhóm cư sĩ đứng ra xây, bắt đầu từ năm 1948 khi nhóm cụ mượn chùa để giảng đạo. Bài của báo Ngày Nay còn nêu thêm một dấu vết khắc chữ có thể ghi ngày 19 tháng 6 năm 1922, nhưng tự nói rằng chưa có tư liệu xác định năm lập ngôi chùa gốc.

Đọc chung ba nguồn, có thể hiểu thế này: ngôi chùa nhỏ của bà Ngọc có trước, còn ngôi Kỳ Viên thuộc Nam Tông Kinh là do nhóm cụ Hiểu dựng từ năm 1949. Nhưng các nguồn không ghi đủ rõ để khẳng định, nên chúng tôi ghi cả hai phía thay vì chọn một.

  • 1947Ngôi chùa đầu
    Theo VinWonders và Chốn Thiêng, bà Bùi Thị Ngọc lập một ngôi chùa nhỏ tu theo truyền thống Bắc Tông ở khu vực này.
  • 1948Nhóm cư sĩ Nam Tông về giảng đạo
    Nhóm cụ Nguyễn Văn Hiểu mượn chùa để làm nơi giảng đạo theo Theravada cho người Việt ở nội đô.
  • 1949Xây lại và nhập tự
    Ngày 21 tháng 7 chùa được cấp phép xây lại, công trình xong trong khoảng ba tháng. Ngày 9 tháng 10 làm lễ nhập tự.
  • 1952Được dâng đất
    Ngày 16 tháng 2, hai Phật tử là ông Kim Long và bà Lâm Thị Thiệt mua khu đất rồi dâng trọn cho chùa.
  • 1953Tôn trí xá lợi
    Ngài Narada người Tích Lan dâng xá lợi Phật cho chùa. Cùng năm một vụ hỏa hoạn ở khu Bàn Cờ làm hư một phần chùa.
  • 1954Trùng tu lớn
    Từ tháng 2 tới tháng 11, chùa được trùng tu, mặt tiền quay ra đường Nguyễn Đình Chiểu như ngày nay. Báo Ngày Nay ghi chi phí khoảng 800.000 đồng thời ấy.
  • 2005Đúc tượng đồng
    Chùa đúc pho tượng Phật bằng đồng mạ vàng cao 2,5 mét, nặng khoảng 2 tấn.

Mốc năm 1953 có hai việc trùng nhau: xá lợi về chùa và vụ hỏa hoạn trong khu Bàn Cờ. Báo Ngày Nay ghi lửa làm hư khu nhà bếp, sau đó việc mở rộng đường làm chùa phải sửa lại. Lần trùng tu năm 1954 vì thế là lần định hình mặt tiền ta thấy hôm nay, với chánh điện quay mặt ra phố lớn.

IIIChánh Điện Ba Cấp Và Xá Lợi

Kỳ Viên không có khuôn viên rộng như Bửu Quang. Chùa nằm trên một lô đất phố, nên mọi thứ dồn vào chánh điện. Chỗ đáng nhìn nhất là cách bày bệ thờ theo ba cấp: cấp trên cùng tôn trí xá lợi Phật, cấp giữa là tượng Đức Phật Thích Ca trong tư thế thuyết pháp, cấp dưới là các hình ảnh khác như bánh xe pháp. Bức tường phía sau vẽ nhiều ngọn tháp ẩn trong mây, làm nền cho cả bệ thờ.

Tầng xá lợi

Cấp cao nhất của bệ thờ, đặt xá lợi Phật do ngài Narada dâng năm 1953. Đặt xá lợi cao hơn tượng là lối bày quen của chùa Theravada: xá lợi là di cốt của chính Đức Phật, tượng chỉ là hình tưởng niệm.

Tượng thuyết pháp

Tượng Đức Phật Thích Ca ở cấp giữa. Năm 2005 chùa có thêm pho tượng đồng mạ vàng cao 2,5 mét, nặng khoảng 2 tấn.

Mặt tiền hai thứ chữ

Mái trước ghi Kỳ Viên Tự bằng chữ quốc ngữ và Jetavana Vihara bằng tiếng Pali phiên chữ La tinh. Không dùng hoành phi chữ Hán như chùa Bắc Tông.

Bức vẽ tháp trong mây

Tường sau chánh điện vẽ nhiều ngọn tháp ẩn hiện trong mây, gợi hình các bảo tháp của những xứ Theravada.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người nghĩ xá lợi ở Kỳ Viên được đưa về từ Ấn Độ. Nguồn của chùa ghi xá lợi do ngài Narada, một vị tỳ khưu người Tích Lan, tức Sri Lanka ngày nay, dâng năm 1953. Ngài Narada cũng là người trong thập niên 1930 đã mang nhiều nhánh bồ đề sang trồng ở nhiều nơi trong nước, và về sau khuyến khích dịch sách Đức Phật và Phật Pháp sang tiếng Việt.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều chép trong văn bản của chùa. Phật Giáo Nam Tông không chọn đất theo phong thủy, và các nguồn cho thấy chỗ đặt chùa Kỳ Viên do hoàn cảnh quyết định: ngôi chùa đầu phải dỡ để mở đường, chùa mới dựng trên đất mượn rồi đất được dâng. Hướng mặt tiền theo đường Nguyễn Đình Chiểu từ lần trùng tu năm 1954, tức theo trục phố chứ không theo một phương vị chọn trước.

Thế đất và hướng

Lối nhìn cổ truyền có một câu hợp với nơi này: chùa giữa chợ, tĩnh giữa động. Khu Bàn Cờ là một trong những khu dân cư dày nhất nội đô, nhà ô bàn cờ, hẻm dọc hẻm ngang. Một chỗ tĩnh đặt giữa chốn động như thế được phong thủy coi là một huyệt tụ của phố, nơi người trong vùng tìm về để lắng lại. Kỳ Viên thời Đức Phật cũng là tinh xá ngay sát thành Xá Vệ chứ không nằm trong rừng sâu, và chính chỗ gần thành ấy làm nên vai trò hoằng pháp của nó.

Về mặt tiền sát đường, phong thủy đồng bằng vốn chuộng khoảng sân trước làm minh đường, nơi khí dừng lại trước khi vào nhà. Kỳ Viên không có khoảng sân rộng như thế, nên cái thế của chùa không nằm ở bề ngang mà nằm ở chiều cao bên trong: bệ thờ ba cấp đưa xá lợi lên chỗ cao nhất, và mắt người vào chùa bị dẫn đi từ thấp lên cao. Lối bày ấy trong phép xem nhà gọi là tôn cao, lấy chiều đứng bù cho chiều ngang.

Cuối cùng là quan hệ với tổ đình. Bửu Quang ở phía đông bắc, trên vùng gò Thủ Đức cũ, cách chừng mười ba cây số đường chim bay. Một chùa gốc ở chỗ đất cao, rộng, nhiều cây để tăng chúng tu tập, một chùa nhánh ở giữa phố để người tại gia tìm đến: đọc theo lối cổ truyền thì đó là thế gốc và ngọn, gốc cần sâu, ngọn cần vươn ra chỗ đông người.

VLễ Và Ngày Lễ

Lịch lễ ở Kỳ Viên theo lịch chung của Phật Giáo Nam Tông, tính theo ngày trăng. Vì giữ xá lợi Phật, các ngày lễ lớn ở đây thường có nghi thức chiêm bái xá lợi, người đến chiêm bái đông hơn ngày thường.

Các lễ chính trong năm theo lịch chung của Phật Giáo Nam Tông. Nguồn: Lịch lễ chung của Phật Giáo Nam Tông.
Ngày âm lịchLễÝ nghĩa
Rằm tháng GiêngLễ Tứ Chúng HộiNhớ ngày một nghìn hai trăm năm mươi vị A La Hán tự về hội họp và Đức Phật thuyết bài giáo giới căn bản.
Rằm tháng TưLễ Vesak, Tam HợpKỷ niệm Đản sanh, Thành đạo và Niết bàn của Đức Phật trong cùng một ngày trăng tròn, lễ lớn nhất trong năm.
Rằm tháng SáuLễ nhập hạChư tăng bắt đầu ba tháng an cư mùa mưa, nhớ bài pháp đầu tiên ở vườn Lộc Uyển.
Rằm tháng ChínLễ mãn hạ, Tự TứChư tăng mãn mùa an cư, thỉnh cầu nhau chỉ lỗi để sửa mình.
Từ 16 tháng 9 tới rằm tháng 10Lễ dâng y KathinaNgười tại gia dâng y cho chư tăng đã an cư trọn ba tháng, mỗi chùa làm một lần trong năm.

Tên chùa và mùa an cư gắn với nhau ở một chỗ: theo kinh Pali, Kỳ Viên thời Đức Phật là nơi Ngài an cư nhiều mùa mưa nhất. Mùa an cư ba tháng ở một ngôi chùa mang tên ấy vì thế có ý nghĩa riêng với người trong dòng.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 610 đường Nguyễn Đình Chiểu, phường Bàn Cờ (phường 3 quận 3 cũ), Thành phố Hồ Chí Minh
Đường tới
Chùa ở số 610 đường Nguyễn Đình Chiểu, phường Bàn Cờ, cách chùa Bửu Quang ở Gò Dưa chừng mười ba cây số đường chim bay.
Toạ độ
10.7694, 106.6811
Khi tới nơi

Kỳ Viên nằm sát mặt đường giữa khu dân cư đông, xin quý vị giữ yên lặng từ lúc bước qua cửa. Chùa giữ giới luật Nam Tông: chư tăng thọ thực trước giờ ngọ, người muốn cúng dường thức ăn nên đến buổi sáng. Người nữ không chạm tay vào chư tăng, trao vật cúng dường bằng cách đặt xuống trước mặt. Cởi giày trước khi vào chánh điện, không chụp ảnh gần tầng xá lợi khi chưa hỏi người trông coi.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Kỳ Viên

Contribute photos, information or video for Ky Vien Pagoda

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Kỳ Viên quận 3 thuộc hệ phái nào

Chùa thuộc Phật Giáo Nam Tông Kinh, tức dòng Theravada của người Việt. Chư tăng đắp y vàng, tụng kinh Pali kèm bản dịch tiếng Việt, chỉ thờ Đức Phật Thích Ca. Chùa không thuộc Phật Giáo Nam Tông Khmer, dù hai dòng cùng kinh điển Pali và cùng giới luật tỳ khưu.

Ai lập chùa Kỳ Viên

Các nguồn ghi khác nhau. VinWonders ghi bà Bùi Thị Ngọc lập năm 1947. Chốn Thiêng ghi bà Ngọc có ngôi chùa nhỏ tu theo Bắc Tông, còn ngôi Kỳ Viên Nam Tông là do cụ Nguyễn Văn Hiểu cùng nhóm cư sĩ đứng ra xây, được cấp phép năm 1949. Thư viện ghi cả hai phía.

Xá lợi Phật ở chùa Kỳ Viên từ đâu

Xá lợi do ngài Narada, một vị tỳ khưu người Tích Lan, dâng cho chùa năm 1953. Xá lợi được tôn trí ở cấp cao nhất của bệ thờ ba cấp trong chánh điện, trên tượng Đức Phật Thích Ca thuyết pháp.

Kỳ Viên nghĩa là gì

Kỳ Viên là tên Hán Việt của Jetavana, khu vườn của thái tử Kỳ Đà ở thành Xá Vệ mà trưởng giả Cấp Cô Độc mua lại dựng tinh xá dâng Đức Phật. Theo kinh Pali, đây là nơi Đức Phật an cư nhiều mùa mưa nhất, và rất nhiều bài kinh được thuyết tại đây.

Chùa Kỳ Viên có phải tổ đình Nam Tông không

Không. Tổ đình của Phật Giáo Nam Tông Kinh là chùa Bửu Quang ở Gò Dưa, lập năm 1938, nơi kiết giới Sima đầu tiên năm 1940. Kỳ Viên là trung tâm hoằng pháp giữa nội đô, nơi tiếp các phái đoàn Theravada quốc tế và giữ xá lợi Phật.

Đọc Tiếp