Rẽ khỏi quốc lộ 1A ở khu Gò Dưa, đi hết một con hẻm nhỏ, quý vị bước vào một khuôn viên rộng hơn hai héc ta, nhiều cây lớn. Chư tăng đắp y màu vàng nghệ, trật vai phải, tụng kinh bằng tiếng Pali rồi giảng lại bằng tiếng Việt. Không có tượng Quan Âm, không có bàn thờ Hộ Pháp, trên bệ chỉ có Đức Phật Thích Ca.
Đây là chùa Bửu Quang, tên Pali là Ratanaramsyarama. Năm 1938 nơi này chỉ là một mái chùa lá giữa khu rừng cây. Hai năm sau, ngày 15 tháng 4 năm 1940, chùa làm lễ kiết giới Sima, và từ ngày ấy người Việt theo truyền thống Theravada lần đầu có một ranh giới thiêng của riêng mình để truyền giới tỳ khưu. Người trong hệ phái gọi Bửu Quang là tổ đình vì lẽ đó.
ITổ Đình Của Nam Tông Kinh
Phật Giáo Nam Tông Kinh là tên gọi dòng Phật Giáo Theravada của người Việt, còn được gọi là Phật Giáo Nguyên Thủy hay Nam Tông người Việt. Dòng này hình thành ở Nam Bộ cuối thập niên 1930, khi một nhóm cư sĩ người Việt tìm tới kinh tạng Pali qua các thầy Khmer, rồi quyết dựng một ngôi chùa để người Việt tu theo lối ấy bằng tiếng mẹ đẻ. Ngôi chùa ấy là Bửu Quang.
Hai người đứng ra là cụ Nguyễn Văn Hiểu, một đốc công, và ông Lê Văn Giảng, một bác sĩ thú y. Năm 1940 ông Giảng xuất gia tại chùa Unalom ở Phnôm Pênh, nhận pháp danh Hộ Tông, tên Pali là Vansarakkhita. Vị tỳ khưu đầu tiên trụ trì Bửu Quang, từ năm 1939, là ngài Thiện Luật. Bài này chỉ ghi các vị theo việc dựng chùa và tu học, không nêu chức vị của các vị trong tổ chức nào.
Theravada nghĩa là lời dạy của các bậc trưởng lão. Dòng này giữ Tam Tạng Pali làm kinh điển gốc, giữ giới luật tỳ khưu theo Luật Tạng Pali, và thờ duy nhất Đức Phật Thích Ca. Người tu hướng tới giải thoát bằng con đường giới, định, tuệ, trong đó thiền Tứ Niệm Xứ là pháp hành chính.
Vì giữ nguyên giới luật ấy, chư tăng Nam Tông ăn ngày một hoặc hai bữa trước giờ ngọ, đi khất thực nhận thức ăn của người cúng dường, không tự nấu nướng trong tăng phòng, và đắp y vàng theo lối Nam Tông. Những chỗ ấy chung cho cả Nam Tông Kinh lẫn Nam Tông Khmer.
Chỗ khác giữa Nam Tông Kinh và Nam Tông Khmer. Hai dòng cùng kinh điển Pali, cùng giới luật, cùng lối y áo, nhưng là hai hệ phái khác nhau về cộng đồng và lịch sử. Phật Giáo Nam Tông Khmer là truyền thống lâu đời của đồng bào Khmer Nam Bộ, chùa gắn với phum sóc, kinh giảng bằng tiếng Khmer, kiến trúc mái nhọn nhiều tầng. Phật Giáo Nam Tông Kinh thì mới hình thành từ năm 1938, người tu và người đi chùa là người Việt, phần giảng và phần kinh tụng dịch đều bằng tiếng Việt, và cơ sở ban đầu tập trung ở Sài Gòn, miền Đông Nam Bộ rồi lan ra miền Trung.
Chỗ gặp nhau của hai dòng nằm ngay ở buổi đầu: lễ kiết giới Sima tại Bửu Quang năm 1940 có ba mươi vị tỳ khưu Khmer từ Phnôm Pênh sang chứng minh. Quý vị muốn biết thêm về dòng Khmer thì đọc bài chùa Kh'leang.
Về bài kệ truyền thừa. Các dòng Lâm Tế Bắc Tông đặt pháp danh theo bài kệ, mỗi chữ trong kệ là một đời. Nam Tông không có lối ấy. Pháp danh của vị tỳ khưu Nam Tông là một tên Pali do thầy tế độ đặt lúc xuất gia, người Việt quen gọi kèm một tên dịch nghĩa, như Hộ Tông ứng với Vansarakkhita. Vì thế ở Bửu Quang không có bài kệ nào để chép, và thứ tự truyền thừa được tính theo thầy truyền giới chứ không theo chữ đời.
Chỗ hay nhầm thứ nhất: nhiều người thấy y vàng, nghe tụng Pali rồi nghĩ Bửu Quang là chùa Khmer. Không phải. Đây là chùa của người Việt, tu theo Theravada. Chỗ hay nhầm thứ hai: Nam Tông thường bị gọi là Tiểu Thừa. Chữ ấy sinh ra trong văn bản Đại Thừa để đối lại với chữ Đại Thừa, người trong dòng không dùng để tự gọi mình. Họ tự gọi là Theravada, Nam Tông hay Phật Giáo Nguyên Thủy.
IITừ Chùa Lá Tới Tổ Đình
Đất chùa là khu đất rừng ở Gò Dưa, xin của bà Cả, thân mẫu ông xã trưởng Bùi Ngươn Hứa, theo lược sử của chùa thì được hiến cúng dưới danh nghĩa bán một đồng bạc. Nhóm cụ Nguyễn Văn Hiểu cùng các ông Nguyễn Văn Quyến, Văn Công Hương khai phá hơn hai mẫu đất, dựng một ngôi chùa lá và tám tịnh thất kiểu nhà sàn. Rằm tháng mười năm 1938 chùa làm lễ an vị Phật, ngày ấy được hệ phái tính là ngày lập ngôi tự viện Nam Tông Kinh đầu tiên.
Năm 1940 cụ Hiểu bán ngôi nhà riêng để lấy tiền xây lại chùa bằng gạch ngói. Lễ lạc thành và lễ kiết giới Sima cử hành cùng ngày 15 tháng 4 năm 1940. Về sau chùa còn trùng tu các năm 1981, 1996 và nhiều lần từ năm 2000 trở đi.
- 1938Dựng chùa láCụ Nguyễn Văn Hiểu cùng ông Lê Văn Giảng lập chùa ở Gò Dưa, gồm một chánh điện lá và tám tịnh thất nhà sàn. Rằm tháng mười làm lễ an vị Phật.
- 1939Có vị trụ trì đầu tiênTỳ khưu Thiện Luật về trụ trì, là vị tỳ khưu đầu tiên coi sóc chùa.
- 1940Lạc thành và kiết giới SimaNgày 15 tháng 4, chùa mới bằng gạch ngói làm lễ lạc thành và kiết giới Sima, có ba mươi vị tỳ khưu Khmer chứng minh. Cùng năm ông Lê Văn Giảng xuất gia, pháp danh Hộ Tông.
- 1953Cung nghinh xá lợiNgày 22 tháng 11, chùa làm lễ cung nghinh xá lợi và khánh thành chánh điện.
- 2007Ghi nhận ngôi đầu tiênSách kỷ lục Việt Nam ghi Bửu Quang là tự viện Theravada đầu tiên ở Việt Nam. Năm 2016 có thêm ghi nhận là tự viện Nam Tông Kinh đầu tiên.
- 2008Giảng đường và thư việnNgày 26 tháng 10, khánh thành giảng đường Abhidhamma cùng thư viện hơn chín nghìn đầu sách.
- 2014Bảo tháp hai tầngKhánh thành bảo tháp hai tầng trong khuôn viên chùa.
- 2017Quảng trường PhậtTừ năm 2017 tới 2019 trùng tu quảng trường Phật, dựng tháp, tượng Phật nhập Niết Bàn và khu cây bồ đề theo lối kiến trúc Thái Lan.
Chỗ các nguồn ghi khác nhau về diện tích. Lược sử trên trang phatgiaonguyenthuy.com ghi chùa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 26 tháng 10 năm 2017 với diện tích 21.488,7 mét vuông. Trang Đạo Phật Ngày Nay ghi đất chùa hơn ba héc ta. Chốn Thiêng ghi buổi đầu nhóm cụ Hiểu khai phá hơn hai mẫu. Ba con số thuộc ba thời điểm và ba cách tính khác nhau, chúng tôi ghi cả ba. Tên người hiến đất cũng được chép hai cách, Bùi Ngươn Hứa và Bùi Luân Hứa.
IIIKiến Trúc Và Khuôn Viên
Ngôi chùa gạch ngói năm 1940 được dựng theo một lối pha, theo bài khảo của Phạm Hoài Nhân thì có cả yếu tố Khmer, yếu tố Tây phương và yếu tố Hoa. Người nghiên cứu về sau xem đó là bước đầu của một lối kiến trúc chùa Nam Tông riêng của người Việt, không sao chép nguyên chùa Khmer mà cũng không theo khuôn chùa Bắc Tông. Chánh điện hiện nay được sửa và nới năm 2010, rộng 22 mét, dài 15 mét.
Chánh điện là nơi làm các tăng sự như truyền giới, tụng giới, nằm trong ranh giới Sima đã kiết năm 1940. Bệ thờ chỉ đặt tượng Đức Phật Thích Ca, không thờ Bồ Tát.
Khánh thành năm 2014, là công trình lớn nhất trong đợt xây dựng mới của chùa ở thế kỷ này.
Khánh thành năm 2008, mang tên Vi Diệu Pháp, phần thứ ba của Tam Tạng Pali. Kèm theo là thư viện hơn chín nghìn đầu sách.
Trùng tu từ năm 2017 tới 2019, có tháp, tượng Phật nhập Niết Bàn và cây bồ đề, dựng theo lối kiến trúc Thái Lan.
Nối nếp tám tịnh thất nhà sàn buổi đầu, chùa có tăng xá cho chư tăng và ni viện ba mươi lăm phòng xây năm 2003.
Điều đáng để ý ở Bửu Quang không phải là một công trình riêng lẻ nào mà là tỷ lệ giữa đất và nhà. Khuôn viên hơn hai héc ta mà phần xây cất chỉ chiếm một phần nhỏ, phần còn lại là cây và lối đi. Lối ấy hợp với nếp tu Nam Tông, nơi tăng chúng cần chỗ kinh hành, tức đi bộ chậm trong chánh niệm, và cần những tịnh thất tách nhau để hành thiền một mình.
Nhiều người đi ngang quốc lộ 1A tưởng bảo tháp và quảng trường Phật là phần cổ nhất của chùa. Thực ra đó là phần mới nhất, dựng từ năm 2014 trở đi. Phần mang ý nghĩa gốc là chánh điện với ranh giới Sima, nơi lễ kiết giới năm 1940 đã diễn ra, dù bản thân tòa nhà đã qua nhiều lần trùng tu.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong lược sử hay văn bản của chùa. Phật Giáo Nam Tông không có truyền thống chọn đất theo phong thủy, và chúng tôi không tìm thấy nguồn nào ghi người lập chùa đã xem đất hay định hướng theo phép ấy. Hướng chính điện cũng chưa có nguồn ghi, nên thư viện không tự nêu. Đây chỉ là chỗ đối chiếu cho bạn đọc quen lối nhìn cổ truyền của người Việt.
Tên đất nói trước tiên: Gò Dưa. Vùng Thủ Đức cũ là dải đất gò đồi thấp nằm giữa sông Sài Gòn và sông Đồng Nai, cao hơn hẳn vùng ruộng trũng phía nam. Trong phép xem đất của đồng bằng Nam Bộ, gò là chỗ khô, vững, không ngập mùa nước, nên xưa nay người ta chọn gò để dựng nhà, dựng đình, dựng chùa. Bửu Quang đứng trên một mô gò như thế.
Thứ hai là rừng cây. Chùa khởi đầu giữa một khu đất rừng, và cho tới nay khuôn viên vẫn giữ nhiều cây lớn. Theo lối nhìn cổ truyền, cây dày giữ khí, che gió, làm đất mát. Theo nếp Nam Tông thì rừng lại là chốn tu đúng nghĩa, vì kinh Pali kể Đức Phật và chư tăng thời Ngài phần lớn sống trong rừng và các khu vườn ngoài thành. Hai lối nhìn ấy ở đây gặp nhau ở cùng một chỗ.
Thứ ba là khoảng lùi khỏi đường lớn. Chùa nằm trong hẻm chứ không mặt tiền quốc lộ. Phong thủy cổ truyền coi con đường lớn thẳng đâm vào cửa là thế xấu, còn một lối vào quanh co, có khoảng đệm, là thế tốt vì khí vào chậm mà tụ. Lối vào Bửu Quang có khoảng đệm ấy, tách tiếng xe ngoài quốc lộ khỏi khoảng yên của chánh điện.
VLễ Và Sinh Hoạt Tu Học
Lịch lễ ở Bửu Quang theo lịch chung của Phật Giáo Nam Tông, các ngày tính theo trăng. Ngoài các lễ lớn, sinh hoạt thường ngày của chùa xoay quanh ba việc: tụng kinh, hành thiền và học Vi Diệu Pháp ở giảng đường Abhidhamma, cộng với mùa an cư ba tháng của chư tăng.
| Ngày âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Rằm tháng Giêng | Lễ Tứ Chúng Hội | Tưởng niệm ngày một nghìn hai trăm năm mươi vị A La Hán tự về hội họp, Đức Phật tuyên thuyết bài kệ giáo giới căn bản. |
| Rằm tháng Tư | Lễ Vesak, Tam Hợp | Kỷ niệm ba sự kiện Đản sanh, Thành đạo và Niết bàn của Đức Phật, lễ lớn nhất trong năm của Nam Tông. |
| Rằm tháng Sáu | Lễ Chuyển Pháp Luân, nhập hạ | Nhớ bài pháp đầu tiên ở vườn Lộc Uyển, chư tăng bắt đầu ba tháng an cư mùa mưa. |
| Rằm tháng Chín | Lễ Tự Tứ, mãn hạ | Chư tăng mãn mùa an cư, cùng nhau thỉnh cầu chỉ lỗi cho nhau. |
| Từ 16 tháng 9 tới rằm tháng 10 | Lễ dâng y Kathina | Người tại gia dâng y cho chư tăng đã an cư trọn ba tháng. Mỗi chùa chỉ làm một lần trong năm. |
Riêng với Nam Tông Kinh, có một nếp đáng biết: kinh tụng hằng ngày đọc bằng tiếng Pali, sau đó đọc lại bản dịch tiếng Việt. Người Việt đi chùa Nam Tông vì thế hiểu được điều mình tụng, và đó là mục đích mà những người lập Bửu Quang đặt ra từ năm 1938.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Số 171/10 quốc lộ 1A, khu Gò Dưa, phường Tam Bình (phường Bình Chiểu cũ, thành phố Thủ Đức cũ), Thành phố Hồ Chí Minh
- Đường tới
- Chùa nằm trong hẻm 171 quốc lộ 1A, khu Gò Dưa, phường Tam Bình, cách chùa Kỳ Viên ở nội đô chừng mười ba cây số đường chim bay về phía đông bắc.
- Toạ độ
- 10.8733, 106.7379
Chùa Nam Tông giữ giới luật tỳ khưu Pali, nên có vài lệ khác chùa Bắc Tông. Chư tăng thọ thực trước giờ ngọ, người muốn cúng dường thức ăn nên đến vào buổi sáng. Theo giới luật, người nữ không chạm tay vào chư tăng và trao vật cúng dường qua một tấm vải hay đặt xuống trước mặt. Cởi giày trước khi vào chánh điện, ăn mặc kín đáo, không đi vào khu tịnh thất khi chưa được mời.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Bửu Quang
Contribute photos, information or video for Buu Quang PagodaThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Bửu Quang Gò Dưa thuộc hệ phái nào
Chùa thuộc Phật Giáo Nam Tông Kinh, tức dòng Theravada của người Việt, còn gọi là Phật Giáo Nguyên Thủy. Đây là ngôi tự viện đầu tiên của dòng này, dựng năm 1938 và kiết giới Sima năm 1940. Chùa không thuộc Phật Giáo Nam Tông Khmer, dù hai dòng cùng kinh điển Pali và cùng giới luật.
Nam Tông Kinh khác Nam Tông Khmer thế nào
Hai dòng cùng tu theo Tam Tạng Pali, cùng giới luật và y áo. Chỗ khác là cộng đồng và lịch sử: Nam Tông Khmer là truyền thống lâu đời của đồng bào Khmer, giảng bằng tiếng Khmer, chùa gắn với phum sóc. Nam Tông Kinh hình thành từ năm 1938, người tu là người Việt, giảng và tụng dịch bằng tiếng Việt.
Ai lập chùa Bửu Quang
Chùa do cụ Nguyễn Văn Hiểu, một đốc công, cùng ông Lê Văn Giảng, một bác sĩ thú y, lập năm 1938. Năm 1940 ông Giảng xuất gia ở Phnôm Pênh, pháp danh Hộ Tông. Vị tỳ khưu đầu tiên trụ trì chùa, từ năm 1939, là ngài Thiện Luật. Đất chùa do gia đình bà Cả ở Gò Dưa hiến cúng.
Kiết giới Sima là gì
Sima là ranh giới thiêng do tăng đoàn kiết định, bên trong ranh giới ấy mới làm được các tăng sự như truyền giới tỳ khưu hay tụng giới. Lễ kiết giới ở Bửu Quang ngày 15 tháng 4 năm 1940 có ba mươi vị tỳ khưu Khmer chứng minh, đánh dấu lúc tăng đoàn Nam Tông người Việt có nơi truyền giới của riêng mình.
Chùa Bửu Quang và chùa Kỳ Viên khác nhau thế nào
Cả hai cùng thuộc Nam Tông Kinh và cùng có dấu tay cụ Nguyễn Văn Hiểu. Bửu Quang là gốc, ngôi đầu tiên và nơi kiết giới đầu tiên, nằm ở vùng gò Thủ Đức cũ. Chùa Kỳ Viên lập năm 1947 giữa nội đô, là trung tâm hoằng pháp và nơi thờ xá lợi Phật.