Rẽ khỏi nhịp xe cộ tấp nập trên trục Quốc lộ 1A (nay là đường Đỗ Mười) đoạn giao với đường Võ Thị Thừa thuộc phường An Phú Đông (Quận 12 cũ) chỉ hơn một trăm mét, quý vị bước qua cổng tam quan gỗ lợp ngói nâu trầm để tiến vào một thế giới tĩnh lặng ngập tràn bóng cây xanh, hồ sen và những chiếc đèn lồng gỗ lục giác mang tên Tâm Đăng. Phía sau khoảng sân gạch rộng và vườn Lộc Uyển xanh mát là tòa Phật đường Tỉnh Thức ba tầng mái ngói vươn cao gần hai mươi mét trên nền đài đá xanh, nơi tiếng chuông gió leng keng dưới hiên chùa hòa cùng tiếng tụng kinh và bước chân thiền hành chậm rãi của chư Tăng cùng hàng trăm thiền sinh mỗi dịp cuối tuần.
Đó là Tu viện Khánh An (xưa là Chùa Khánh An hay Chùa Thầy Phận), một trong những danh lam tiêu biểu của Phật giáo Bắc tông tại Thành phố Hồ Chí Minh. Khởi nguồn từ ngôi am tranh nhỏ do Tổ sư Trí Hiền khai sơn vào năm Ất Tỵ 1905 trên đất vườn An Phú Đông, được công nhận là Di tích lịch sử cấp Thành phố năm 2007 và trải qua cuộc đại trùng tu mười năm (2006 - 2016) dưới tâm huyết của Thượng tọa Thích Trí Chơn, Tu viện Khánh An vừa gìn giữ mạch nguồn lịch sử trăm năm của vùng đất Gia Định xưa vừa mở ra một trung tâm thực tập chánh niệm và văn hóa Phật giáo Á Đông đương đại.
ITổ Sư Khai Sơn Trí Hiền, Danh Xưng Chùa Thầy Phận Và Tinh Thần Tỉnh Thức
Trong hệ thống tự viện Phật giáo tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tu viện Khánh An (chữ Hán: 慶安寺院, nguyên danh là Chùa Khánh An - 慶安寺) thuộc truyền thống Phật giáo Bắc tông (Đại thừa), nối dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh và Lâm Tế Gia Phổ phổ biến tại Nam Bộ. Hai chữ Khánh An (慶安) mang ý nghĩa cát tường của nhà Phật: Khánh là niềm vui lành, phúc lành do tu nhân tích đức mà có, còn An là sự an tịnh, vững chãi của tâm thức khi trở về nương tựa Tam Bảo.
Trước khi mang diện mạo một tu viện khang trang như ngày nay, suốt hơn nửa đầu thế kỷ 20, người dân vùng vườn trầu, vườn cau An Phú Đông vẫn gọi ngôi chùa này bằng cái tên mộc mạc, gần gũi là Chùa Thầy Phận để tưởng nhớ vị Tổ sư khai sơn là Hòa thượng Trí Hiền (Thầy Năm Phận).
Theo hồ sơ di tích của Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh cùng bia ký lưu tại chùa, Tổ sư Trí Hiền có thế danh là Nguyễn Văn Phận (sinh năm Tân Dậu 1861, viên tịch năm Kỷ Mão 1939), người dân địa phương quen gọi theo thứ bậc Nam Bộ là Thầy Năm Phận. Vốn là bậc chân tu am tường Phật học và y thuật cổ truyền, lại giàu lòng thương người, vào năm Ất Tỵ 1905, Thầy Năm Phận được một vị điền chủ hào hiệp trong vùng là ông Biện Lục phát tâm hiến cúng khu đất rộng khoảng 4 hécta nằm ở vùng giáp ranh hai làng cổ An Lộc Đông và Hanh Phú (sau hợp thành xã An Phú Đông, huyện Hóc Môn và Quận 12 cũ) để dựng một ngôi chùa nhỏ tu hành, bốc thuốc cứu người và truyền bá đạo pháp.
Vào những năm cuối thập niên 1930 trước năm 1945, vùng đất An Phú Đông bên bờ sông Sài Gòn và sông Vàm Thuật là nơi quy tụ nhiều sĩ phu và nông dân yêu nước. Với tấm lòng từ bi nhập thế của Phật giáo Nam Bộ, Tổ sư Trí Hiền cùng các đệ tử tại chùa Khánh An đã mở rộng cửa chùa che chở, đùm bọc những người yêu nước trong vùng cho đến khi ngài viên tịch vào mùng 6 tháng 6 năm Kỷ Mão (tháng 7 năm 1939). Ngôi bảo tháp an trí nhục thân của Tổ sư Trí Hiền được dựng ngay trong khuôn viên chùa và trở thành điểm tựa tâm linh thiêng liêng trải qua mọi biến thiên của thế kỷ 20.
Bước sang thế kỷ 21, tiếp nối mạch nguồn nhập thế của Tổ sư khai sơn, dưới sự dẫn dắt của Thượng tọa Thích Trí Chơn (Viện chủ Tu viện Khánh An, Trưởng ban Văn hóa Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ IX), ngôi cổ tự được định hướng phát triển thành một đạo tràng tu học Chánh niệm và Tỉnh thức. Chánh điện mới của tu viện không gọi là Đại Hùng Bảo Điện như thông lệ mà được đặt tên là Phật đường Tỉnh Thức. Danh xưng ấy gói trọn cốt tủy giáo lý nguyên thủy lẫn Đại thừa: Phật (Buddha) có nghĩa gốc tiếng Phạn là Người Tỉnh Thức (Đấng Giác Ngộ), và bước vào Phật đường không chỉ để lễ bái cầu xin phước báu bên ngoài, mà là để mỗi người tự đánh thức hạt giống chánh niệm, quán chiếu hơi thở và làm lắng dịu những vọng động khổ đau ngay trong đời sống hiện tại.
Trong những năm gần đây, do ấn tượng trước hệ khung cột gỗ màu nâu trầm, mái ngói cong thanh thoát không đắp rồng phượng sặc sỡ cùng những chiếc đèn lồng gỗ và chuông gió treo dưới hiên, nhiều bài viết du lịch và giới trẻ trên mạng xã hội thường gọi Tu viện Khánh An là ngôi chùa phong cách Nhật Bản giữa lòng Sài Gòn. Đây là một sự liên tưởng thị giác chưa chính xác về mặt kiến trúc học Phật giáo. Như chính Thượng tọa Thích Trí Chơn đã nhiều lần giải thích rõ, Tu viện Khánh An được thiết kế theo phong cách kiến trúc Phật giáo Bắc truyền cổ điển Á Đông và truyền thống tùng lâm Việt Nam, hạn chế tối đa màu sắc lòe loẹt để trả lại vẻ mộc mạc của gỗ, đá, nước và ngói nung, vốn là ngôn ngữ kiến trúc chung của các thiền viện Đông Á từ thời Lý và thời Trần chứ không sao chép bất kỳ ngôi đền hay chùa Nhật Bản nào.
IIHơn Một Thế Kỷ Từ Ngôi Am Tranh Năm 1905 Đến Di Tích Lịch Sử Và Tu Viện Đương Đại
Lịch sử hơn 120 năm của Tu viện Khánh An đi qua ba giai đoạn lớn: thời kỳ khai sơn của Tổ sư Trí Hiền đầu thế kỷ 20, những thập niên trùng tu giữ chùa qua biến thiên lịch sử giữa thế kỷ 20, và công cuộc đại kiến thiết mười năm đầu thế kỷ 21 để hình thành quần thể tu viện hôm nay.
- 1905 (Ất Tỵ)Tổ sư Trí Hiền khai sơn Chùa Khánh AnTổ sư Trí Hiền (Thầy Năm Phận, 1861 - 1939) dựng ngôi chùa nhỏ bằng gỗ và mái ngói đơn sơ trên khu đất khoảng 4 ha do ông Biện Lục hiến cúng tại vùng giáp ranh hai làng An Lộc Đông và Hanh Phú, nhân dân quen gọi là Chùa Thầy Phận.
- Tháng 7/1939 (Kỷ Mão)Tổ sư Trí Hiền viên tịch và dựng bảo tháp TổNgày mùng 6 tháng 6 âm lịch năm Kỷ Mão (1939), Tổ sư khai sơn Trí Hiền viên tịch ở tuổi 78. Đệ tử và nhân dân vùng An Phú Đông xây dựng ngôi bảo tháp thờ ngài ngay trong khuôn viên chùa.
- Giữa thế kỷ 20Nhiều lần hư hại và dựng lại ngôi chùa nhỏTrải qua những biến động lịch sử gay gắt của thế kỷ 20, ngôi chùa gỗ ban đầu nhiều lần bị hư hại nặng và được chư Tăng cùng bà con Phật tử địa phương dựng lại bằng vật liệu đơn sơ để duy trì khói hương Tam Bảo.
- Thập niên 1980 - 1990Khôi phục sinh hoạt tự viện và đón Thượng tọa Thích Trí ChơnSau khi đất nước thống nhất, ngôi chùa được tu bổ lại phần chánh điện nhỏ và nhà Tổ. Thượng tọa Thích Trí Chơn về đảm nhận trọng trách trụ trì, từng bước mở mang các hoạt động hoằng pháp và khóa tu cho Phật tử.
- 2006 (Bính Tuất)Khởi công đại trùng tu và đổi danh xưng thành Tu viện Khánh AnTrước tình trạng ngôi chùa cũ xuống cấp trầm trọng và không đủ không gian cho hàng trăm Phật tử tu học, Thượng tọa Thích Trí Chơn phát nguyện khởi công đại trùng tu toàn diện trên diện tích hơn 6.000 mét vuông đất hiện hữu và chính thức dùng danh xưng Tu viện Khánh An.
- 27/07/2007Xếp hạng Di tích lịch sử cấp Thành phốỦy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 3269/QĐ-UBND công nhận Chùa Khánh An (Tu viện Khánh An) là Di tích lịch sử cấp Thành phố, kèm nhà bia tưởng niệm các bậc tiền bối trong khuôn viên.
- 2016 (Bính Thân)Khánh thành toàn bộ quần thể Phật đường Tỉnh ThứcSau đúng mười năm kiến thiết bền bỉ từ nguồn tịnh tài đóng góp của tứ chúng Phật tử, toàn bộ các hạng mục chính gồm Phật đường Tỉnh Thức, Nhà Tăng, Khách đường Tâm Đăng, Lầu Quán Âm và Vườn Lộc Uyển chính thức hoàn thành.
Theo tư liệu lưu trữ tại tu viện, khi Thượng tọa Thích Trí Chơn bắt tay vào công cuộc đại trùng tu năm 2006, diện tích khuôn viên chùa còn lại khoảng hơn 6.000 mét vuông (so với vùng đất vườn 4 hécta thuở khai sơn năm 1905 đã chuyển đổi thành khu dân cư qua hơn một thế kỷ đô thị hóa). Thay vì xây dựng thật nhanh bằng bê tông cốt thép sơn phết rực rỡ, vị trụ trì đã chọn con đường kiến thiết chậm rãi suốt mười năm ròng (2006 - 2016), chăm chút từng cây cột gỗ, từng viên đá tảng kê chân cột, từng viên ngói đất nung và từng tán cây xanh trong vườn chùa để kiến tạo một không gian thiền vị bền vững với thời gian.
Xét theo địa giới hành chính mới từ ngày 01 tháng 7 năm 2025 của Thành phố Hồ Chí Minh (sau khi thực hiện Nghị quyết số 202/2025/QH15 và nghị quyết sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã), toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của phường Thạnh Lộc và phường An Phú Đông (thuộc Quận 12 cũ) đã được hợp nhất thành một đơn vị hành chính mới và giữ nguyên tên gọi là phường An Phú Đông, Thành phố Hồ Chí Minh. Nhờ vậy, địa danh lịch sử An Phú Đông gắn liền với hơn một thế kỷ tồn tại của Chùa Khánh An tiếp tục được bảo lưu nguyên vẹn trong tên phường mới.
IIIKiến Trúc Gỗ Mái Ngói Á Đông, Phật Đường Tỉnh Thức Và Đèn Lồng Tâm Đăng
Quần thể kiến trúc Tu viện Khánh An hiện nay là một chỉnh thể hài hòa giữa kết cấu gỗ truyền thống, nền đá xanh, mái ngói nâu sẫm và cảnh quan mặt nước, cây xanh. Toàn bộ công trình tuyệt đối không sử dụng các mảng màu đỏ chói hay vàng rực, mà thống nhất trong ba gam màu tự nhiên: màu nâu trầm ấm của gỗ lim và gỗ căm xe, màu xám xanh của đá tảng chạm khắc và màu trắng kem thanh nhã của tường vôi, đặt giữa sắc xanh mát mắt của vườn cây và hồ sen.
Bố cục mặt bằng tu viện mở ra từ cổng tam quan trên đường nội bộ 1055/3D Quốc lộ 1A (đường Võ Thị Thừa), dẫn qua khoảng sân rộng lát gạch và đá, bên phải là Phật đường Tỉnh Thức uy nghiêm, bên trái và phía sau là Nhà Tăng và Khách đường Tâm Đăng, Lầu Quán Âm giữa hồ sen cùng khu Bảo tháp Tổ sư Trí Hiền và Nhà bia truyền thống.
Công trình trung tâm và đồ sộ nhất của tu viện, vươn cao gần 20 mét với ba tầng mái ngói nâu chồng diêm uốn cong thanh thoát. Tòa điện được đặt trên một nền đài đá cao ráo, dẫn lên bằng hệ bậc tam cấp đá xanh chạm mây và hoa sen. Tầng trên là đại điện thờ Phật với hệ khung cột gỗ tròn lớn, chính giữa tôn trí pho tượng Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni bằng gỗ ngồi thiền định trên tòa sen. Tầng trệt bên dưới nền đài là giảng đường và thiền đường rộng thoáng có sức chứa hàng trăm hành giả.
Tòa nhà hai tầng dài nằm dọc theo trục sân chùa, kết hợp tường trắng, lan can gỗ con tiện và mái ngói truyền thống. Đây là nơi cư trú, chấp tác và tu học của chư Tăng nội viện đồng thời là khu nhà khách, trai đường đón tiếp các đoàn Phật tử và thiền sinh về tham dự các khóa tu cuối tuần.
Ngôi lầu gỗ lục giác hai tầng mái ngói đặt bên hồ nước thả sen, súng và cá chép, nối với bờ bằng nhịp cầu nhỏ và những tảng đá bước dạo. Bên trong lầu tôn trí tượng Bồ Tát Quán Thế Âm, xung quanh hiên treo những chiếc chuông gió bằng đồng phát ra âm thanh thanh thoát mỗi khi có làn gió thổi từ sông Sài Gòn vào.
Dọc theo các lối đi lát đá và quanh vườn Lộc Uyển là hàng chục trụ đèn lồng bằng gỗ hình lục giác lợp mái nhỏ mang tên Tâm Đăng (Ngọn đèn của Tâm). Trên mặt giấy mờ của mỗi chiếc đèn đều viết thư pháp những câu kệ chánh niệm ngắn gọn như 'Bước chân an lạc', 'Thở vào tâm tĩnh lặng', nhắc nhở người khách hành hương giữ chánh niệm trong từng bước đi.
Nằm ở góc tĩnh lặng trong khuôn viên tu viện là ngôi bảo tháp cổ nhiều tầng uy nghiêm nơi an nghỉ của Tổ sư khai sơn Trí Hiền (Thầy Năm Phận, viên tịch năm 1939) cùng các bậc tiền bối hữu công, kế bên là nhà bia di tích lịch sử cấp Thành phố được dựng sau quyết định xếp hạng năm 2007, giữ trọn sợi dây nối kết giữa ngôi chùa cổ năm 1905 và tu viện hiện đại.
Điểm tinh tế trong nghệ thuật bài trí của Tu viện Khánh An là sự tiết chế tối đa hương khói bên trong Phật đường Tỉnh Thức. Trước điện Phật chỉ đặt một lư trầm nhỏ xông hương trầm tự nhiên dịu nhẹ, không đốt nhang bó nghi ngút làm đen sậm các vì kèo gỗ, giữ cho không gian nội điện luôn trong lành, thoáng đãng để chư Tăng và Phật tử có thể ngồi tọa thiền, lắng nghe tiếng chuông gia trì ngân dài trong sự tĩnh lặng tuyệt đối.
IVThế Đất Và Hướng
Phần phân tích dưới đây là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền phương Đông đối với vùng đất An Phú Đông, hoàn toàn không phải nội dung chép trong hồ sơ di tích hay giáo lý Phật giáo. Chúng tôi ghi rõ điều này để quý vị phân biệt giữa tư liệu lịch sử và góc nhìn hình thế học.
Xét trên bản đồ địa hình thủy văn của vùng bắc Sài Gòn tại tọa độ vĩ độ 10,86117 độ Bắc và kinh độ 106,70483 độ Đông, Tu viện Khánh An tọa lạc trên một thế đất bán đảo sông nước cực kỳ đặc biệt của phường An Phú Đông (Quận 12 cũ), Thành phố Hồ Chí Minh. Nhìn từ trên cao, toàn bộ dải đất An Phú Đông và Thạnh Lộc là một vùng phù sa cổ cao ráo được bao bọc gần như ba mặt bởi hai dòng sông lớn: ở phía đông và đông nam là dòng sông Sài Gòn uốn một vòng cung lớn ôm trọn bờ đất (ngay đối diện bên kia sông là vùng Thủ Đức và Bình Dương cũ), còn ở phía nam và tây nam là dòng sông Vàm Thuật tách ra từ sông Sài Gòn chảy uốn lượn bao lấy toàn bộ mạn dưới của bán đảo. Trong phép xem đất thủy pháp cổ truyền của đồng bằng Nam Bộ, thế đất có hai dòng sông lớn giao hội và uốn cong ôm lấy gò đất từ ba phía như vậy gọi là Lưỡng thủy giao hoàn, ngọc đới triều đường (hai dòng nước ôm vòng như đai ngọc chầu về minh đường), giúp mạch đất luôn tươi nhuận, cây cối xanh tốt quanh năm và tụ được nguồn sinh khí hiền hòa của thủy cục.
Xét về bố cục nội cục và phương hướng, Tu viện Khánh An nằm lùi vào phía trong cách trục giao thông huyết mạch Quốc lộ 1A (đường Đỗ Mười chạy theo hướng Đông Tây ở phía nam tu viện) khoảng hơn một trăm mét qua tuyến đường Võ Thị Thừa và ngõ 1055/3D. Khoảng lùi hơn một trăm mét ấy đóng vai trò như một lớp Minh đường đệm (Tàng phong tụ khí) cực kỳ đắc địa: nó hóa giải toàn bộ xung sát của âm thanh và luồng khí gấp từ đại lộ quốc lộ, để khi bước qua cổng tam quan vào sân chùa thì trường khí lập tức lắng dịu xuống. Bên trong khuôn viên, tòa Phật đường Tỉnh Thức được dựng trên nền đài đá cao tạo thế Hậu chẩm vững chãi, trong khi phía trước và bên hông mở ra khoảng sân rộng cùng hồ sen, hòn non bộ làm Nội minh đường tụ thủy, giúp tổng thể tu viện đạt được sự cân bằng âm dương giữa khối kiến trúc gỗ dương tính vươn cao và mặt nước hồ sen âm tính tĩnh lặng bên dưới.
VKhóa Tu Sống Tỉnh Thức Và Các Ngày Lễ Lớn Trong Năm
Không chỉ là một di tích lịch sử và công trình kiến trúc đẹp, Tu viện Khánh An suốt gần hai thập niên qua còn là một trong những trung tâm hoằng pháp và thực tập thiền chánh niệm sôi nổi bậc nhất tại Thành phố Hồ Chí Minh. Dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Thượng tọa Thích Trí Chơn và chư Tăng nội viện, tu viện duy trì đều đặn các khóa tu cuối tuần mang tên Sống Tỉnh Thức, khóa tu thiền, khóa tu mùa hè dành cho thanh thiếu niên cùng các đại lễ truyền thống của Phật giáo Bắc tông.
| Thời điểm (Âm lịch / Định kỳ) | Tên lễ hội hoặc khóa tu | Nội dung tu học và nghi lễ tiêu biểu tại Tu viện Khánh An |
|---|---|---|
| Định kỳ mỗi tháng một lần (vào ngày Chủ nhật theo lịch thông báo của tu viện) | Khóa tu một ngày 'Sống Tỉnh Thức' | Hàng trăm hành giả về Phật đường Tỉnh Thức và vườn Lộc Uyển thực tập tọa thiền, tụng kinh, nghe pháp thoại, thiền hành quanh hồ sen, thọ trai trong chánh niệm (ăn cơm yên lặng) và thiền buông thư. |
| Tháng Giêng âm lịch (từ đêm Giao thừa đến Rằm tháng Giêng) | Lễ Cầu an đầu xuân và Đêm hội Hoa đăng Thượng nguyên | Tụng kinh Dược Sư cầu quốc thái dân an, thắp hàng nghìn ngọn nến hoa đăng quanh Phật đường Tỉnh Thức và hồ sen, khai pháp đầu năm. |
| Rằm tháng Tư âm lịch (mùng 8 đến 15 tháng 4 âm lịch) | Đại lễ Phật Đản (Vesak) | Nghi thức Tắm Phật (Mộc dục) truyền thống trên lễ đài trước Phật đường Tỉnh Thức, thuyết giảng ý nghĩa ngày Đức Phật Thích Ca đản sinh và đêm văn nghệ cúng dường. |
| Mùng 6 tháng 6 âm lịch hằng năm | Lễ Húy kỵ Tổ sư khai sơn Trí Hiền (Thầy Năm Phận) | Ngày lễ truyền thống trọng đại của bổn tự tưởng niệm công đức khai sơn năm 1905 của Tổ sư Trí Hiền (viên tịch năm 1939), chư Tăng và Phật tử nhiễu tháp Tổ và dâng hương tưởng niệm các bậc tiền bối. |
| Rằm tháng Bảy âm lịch | Đại lễ Vu Lan Báo hiếu và Lễ Bông hồng cài áo | Lễ Tự tứ kết thúc ba tháng An cư kiết hạ của chư Tăng, nghi thức cài hoa hồng tưởng nhớ tứ trọng ân và lễ cầu siêu bạt độ chư hương linh. |
| Tháng Mười Một và tháng Chạp âm lịch | Lễ Hoa đăng vía Đức Phật A Di Đà (17/11 âm lịch) và Khóa tu Tất niên | Đêm hội hoa đăng kỷ niệm ngày vía Đức Phật A Di Đà, lễ vía Đức Phật Thích Ca Thành Đạo (mùng 8 tháng Chạp) và tổng kết một năm tu học. |
Nét đẹp sâu sắc nhất trong các kỳ lễ và khóa tu tại Tu viện Khánh An là nếp sống Thiền trà và Quá đường chánh niệm. Vào giờ thọ trai buổi trưa hay trong các buổi ngồi thiền trà dưới bóng cây vườn Lộc Uyển, hàng trăm người tham dự từ các bạn trẻ, sinh viên cho đến các bậc cao niên đều thực tập giữ im lặng hoàn toàn, lắng nghe tiếng chuông chánh niệm để thưởng thức từng chén trà, từng hạt cơm chay thanh đạm, biến ngôi cổ tự trăm năm vùng An Phú Đông thành một ốc đảo bình yên nuôi dưỡng tâm hồn giữa lòng đô thị phương Nam.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Số 1055/3D Quốc lộ 1A (đường Đỗ Mười và Võ Thị Thừa), phường An Phú Đông (Quận 12 cũ), Thành phố Hồ Chí Minh
- Đường tới
- Từ trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh đi theo đường Nguyễn Kiệm và đường Nguyễn Oanh qua cầu vượt Ngã Tư Ga (Gò Vấp và Quận 12 cũ), rẽ phải vào Quốc lộ 1A (đường Đỗ Mười) đi về hướng Thủ Đức khoảng 2 km, nhìn bên tay trái thấy cổng đường Võ Thị Thừa (hẻm 1055/3D Quốc lộ 1A) thuộc phường An Phú Đông thì rẽ vào khoảng 100 m là tới cổng Tu viện Khánh An.
- Toạ độ
- 10.86117, 106.70483
Tu viện Khánh An là chốn thiền môn tu học thanh tịnh của chư Tăng và hành giả, hoàn toàn không phải khu du lịch hay phim trường chụp ảnh. Khi tới lễ Phật hoặc vãng cảnh, xin quý vị mặc trang phục kín đáo, lịch sự (áo có tay, quần hoặc váy dài qua đầu gối), đi nhẹ, nói khẽ và giữ tâm thái trang nghiêm. Tu viện có quy định riêng không nhận chụp ảnh cưới, ảnh thời trang thương mại hoặc quay phim ồn ào trên thềm đá Phật đường Tỉnh Thức và khu vực Nhà Tăng. Khi bước lên Phật đường Tỉnh Thức, xin quý vị bỏ giày dép ngay ngắn dưới chân bậc thềm đá, chỉ thắp một nén tâm hương tại lư hương ngoài sân và không tự ý gõ chuông hay chạm vào pháp khí.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tu viện Khánh An
Contribute photos, information or video for Khánh An MonasteryThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Tu viện Khánh An do ai sáng lập vào năm nào và vì sao dân gian gọi là Chùa Thầy Phận?
Tu viện Khánh An (nguyên là Chùa Khánh An) được khai sơn vào năm Ất Tỵ 1905 bởi Tổ sư Trí Hiền trên khu đất rộng khoảng 4 hécta do ông Biện Lục hiến cúng tại vùng giáp ranh hai làng An Lộc Đông và Hanh Phú. Vì Tổ sư Trí Hiền có thế danh là Nguyễn Văn Phận (1861 - 1939), người dân địa phương kính mến gọi ngài là Thầy Năm Phận và quen gọi ngôi chùa là Chùa Thầy Phận.
Tu viện Khánh An có phải được xây dựng theo kiến trúc chùa Nhật Bản không?
Không phải. Dù nhiều du khách liên tưởng tới kiến trúc Nhật Bản do màu gỗ nâu trầm và mái ngói ít đắp rồng phượng sặc sỡ, toàn bộ quần thể Tu viện Khánh An (được Thượng tọa Thích Trí Chơn đại trùng tu từ năm 2006 đến năm 2016) thực chất được thiết kế theo phong cách kiến trúc Phật giáo Bắc tông cổ truyền Á Đông và truyền thống tùng lâm Việt Nam, đề cao vẻ mộc mạc, tĩnh lặng của gỗ, đá xanh và ngói nung.
Tu viện Khánh An được xếp hạng di tích lịch sử vào năm nào?
Ngày 27 tháng 7 năm 2007, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số 3269/QĐ-UBND xếp hạng Chùa Khánh An (Tu viện Khánh An) là Di tích lịch sử cấp Thành phố, ghi nhận giá trị lịch sử hơn một thế kỷ của ngôi chùa từ thời Tổ sư Trí Hiền khai sơn năm 1905.
Phật đường Tỉnh Thức tại Tu viện Khánh An thờ vị Phật nào và có đặc điểm gì?
Phật đường Tỉnh Thức là ngôi chánh điện trung tâm của tu viện, cao gần 20 mét với kết cấu khung gỗ và ba tầng mái ngói chồng diêm đặt trên nền đài đá xanh cao ráo. Tầng trên là đại điện tôn trí pho tượng Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni bằng gỗ ngồi thiền định trên tòa sen, còn tầng trệt bên dưới là giảng đường lớn phục vụ các khóa tu học.
Muốn tham gia khóa tu Sống Tỉnh Thức tại Tu viện Khánh An thì đi vào dịp nào?
Khóa tu một ngày 'Sống Tỉnh Thức' do Thượng tọa Thích Trí Chơn và chư Tăng Tu viện Khánh An hướng dẫn thường được tổ chức định kỳ mỗi tháng một lần vào ngày Chủ nhật (theo lịch thông báo cụ thể trên trang tin chính thức tuvienkhanhan.com), bên cạnh các kỳ lễ lớn như Rằm tháng Giêng, Phật Đản (15/4 âm lịch), lễ Húy kỵ Tổ sư Trí Hiền (6/6 âm lịch) và Vu Lan (15/7 âm lịch).