VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo

Ban Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo, tên gọi trước năm 1981 là Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Cao Đài Giáo Việt Nam

Không phải một chi phái và cũng không phải một thánh thất, mà là nơi người của nhiều Hội Thánh Cao Đài cùng ngồi lại để học và viết giáo lý.

Lập Ban
1962
Ban Phổ Thông Giáo Lý
Trụ sở hiện nay
1970
khởi công 1969, khánh thành tháng 5 năm 1970
Danh hiệu hiện nay
1981
đổi tên ngày 18 tháng 5 năm 1981

Ở số 171B đường Cống Quỳnh, giữa một khúc phố nhà san sát, có một cơ ngơi mà người đi ngang dễ tưởng là nhà ở. Không có hai ngọn lầu chuông trống, không có mái cong ba tầng, không có sân hành lễ. Nhưng bên trong vẫn có Thiên Nhãn, con mắt quen thuộc của đạo Cao Đài, và vẫn có người cúng vào bốn thời mỗi ngày.

Đây là Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo. Thư viện đặt nơi này vào mục Địa Điểm không phải vì nó là một ngôi đền, mà vì nó là một loại chỗ hiếm: nơi người của nhiều Hội Thánh Cao Đài khác nhau cùng làm chung một việc, việc học và viết giáo lý. Muốn đọc đúng nơi này thì phải bỏ hẳn cái khung thánh thất ra khỏi đầu trước đã.

IMột Cơ Quan Giáo Lý, Không Phải Một Chi Phái

Đạo Cao Đài từ sớm đã chia thành nhiều Hội Thánh, mỗi Hội Thánh có Tòa Thánh riêng, hàng phẩm riêng và hệ thống thánh sở riêng. Bên cạnh đó còn có các pháp môn, tức những đường tu không lập giáo hội. Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo không thuộc loại nào trong hai loại ấy.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm lớn nhất về nơi này là gọi nó là một chi phái Cao Đài, hoặc gọi nó là một thánh thất. Cả hai cách gọi đều sai hẳn bản chất.

Danh mục các Hội Thánh và tổ chức Cao Đài không có tên Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo, và đó không phải một thiếu sót mà là điều đúng với tính chất của nó. Nơi này không có tín đồ của riêng mình, không có hàng phẩm chức sắc riêng theo lối một Hội Thánh, không lập thánh sở trực thuộc ở các địa phương, và không nhận độ người nhập môn về cho mình. Nó cũng không phải một thánh thất, vì thánh thất là nơi thờ tự của một họ đạo địa phương, còn nơi này không có họ đạo. Cái nó làm là nghiên cứu và phổ truyền giáo lý chung của đạo Cao Đài, và nó tự nhận vai làm nhịp cầu nối tình huynh đệ giữa các Hội Thánh chứ không thuộc riêng tổ chức nào.

Bảng phân loại để quý vị không xếp nhầm nơi này vào hàng các Hội Thánh hay các thánh thất. Thư viện không xếp chi phái nào cao hơn chi phái nào, và cũng không xếp cơ quan này cao hơn hay thấp hơn một Hội Thánh, vì hai thứ làm hai việc khác nhau.
LoạiĐặc điểmVí dụ
Hội ThánhCó Tòa Thánh làm trung ương, có hàng phẩm chức sắc và hệ thống thánh sở, có tín đồ thuộc về mìnhHội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh, Hội Thánh Cao Đài Chiếu Minh Long Châu
Thánh thấtNơi thờ tự và hành lễ của một họ đạo địa phương, trực thuộc một Hội ThánhThánh thất Đô Thành ở đường Trần Hưng Đạo
Pháp mônMột đường tu, không lập giáo hội và không có chức sắcPháp môn Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi
Cơ quan giáo lýKhông có tín đồ riêng, không có thánh sở trực thuộc, làm việc nghiên cứu và phổ truyền giáo lý chungCơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo
Theo giáo nghĩa

Tôn chỉ của cơ quan gồm ba việc, và cả ba đều mở đầu bằng chữ phổ, nghĩa là rộng khắp: phổ truyền chánh pháp, phổ biến giáo lý, và phổ tế quần sanh. Việc thứ nhất là giữ cho lời dạy được truyền đi đúng, việc thứ hai là đưa giáo lý tới người đọc bằng sách vở và lớp học, việc thứ ba là giúp đỡ người đời không phân biệt thuộc Hội Thánh nào.

Về phần được thờ, nơi này theo đúng hệ thống chung của đạo. Đấng được thờ là Đức Chí Tôn, biểu thị bằng Thiên Nhãn chứ không tạc tượng, và có ngôi thờ Đức Phật Mẫu, tức ngôi Mẹ. Tên đầy đủ của đạo là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, và chủ trương chung là tam giáo quy nguyên, ngũ chi phục nhất. Cơ quan lấy chính chủ trương ấy làm việc của mình: nếu các nền giáo lý lớn đều trở về một gốc thì các Hội Thánh cùng một đạo lại càng cần một chỗ để ngồi chung.

Vì sao một thư viện địa điểm lại có một nơi như vậy? Vì trong mục Địa Điểm này, quý vị sẽ gặp nhiều ngôi thờ Cao Đài thuộc nhiều Hội Thánh khác nhau, mỗi ngôi có lối bài trí riêng và nghi thức riêng. Người đọc rất dễ kết luận rằng đạo Cao Đài chỉ là một tập hợp những nhánh rời. Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo là bằng chứng ngược lại, và là chỗ để thấy phần chung nằm ở đâu. Bốn chữ Hán ở đầu trang này là cách thư viện phiên bốn chữ Phổ Thông Giáo Lý cho bạn đọc quen mặt chữ, không phải chép lại từ một tấm bảng tại trụ sở.

IITừ Một Ban Tới Một Cơ Quan

Nơi này có nhiều mốc và các mốc rất dễ lẫn vào nhau, vì tên gọi, văn phòng và trụ sở thay đổi ở ba thời điểm khác nhau. Xin đọc chậm phần dưới.

  • 1962Lập Ban Phổ Thông Giáo Lý
    Một ban chuyên lo việc giáo lý được lập ra, mang tên Ban Phổ Thông Giáo Lý. Đây là hình thức đầu tiên của cơ quan, khi chưa có trụ sở riêng.
  • 1965Khai mạc văn phòng đầu tiên
    Ngày 16 tháng 2 năm 1965, văn phòng đầu tiên được khai mạc, đặt tại số 165E đường Cống Quỳnh, tức không phải địa chỉ hiện nay. Từ mốc này cơ quan mới có một chỗ làm việc cố định.
  • 1966Lập Ban Thường Vụ
    Ngày 5 tháng 3 năm 1966, Ban Thường Vụ được chính thức lập, đặt nền cho cơ cấu điều hành lâu dài của cơ quan.
  • 1969Khởi công trụ sở 171B Cống Quỳnh
    Ngày 11 tháng 9 năm 1969, trụ sở riêng được đặt móng tại số 171B đường Cống Quỳnh, cách văn phòng cũ một quãng ngắn trên cùng con đường.
  • 1970Hoàn tất và khánh thành trụ sở
    Ngày 4 tháng 5 năm 1970, trụ sở hoàn tất và làm lễ khánh thành. Đây là cơ ngơi mà cơ quan dùng cho tới nay.
  • 1981Đổi danh hiệu
    Ngày 18 tháng 5 năm 1981, tên gọi chính thức đổi thành Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo. Tên trước đó là Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Cao Đài Giáo Việt Nam. Chữ Đại Đạo trong tên mới nói rõ phạm vi công việc là giáo lý chung của cả nền đạo.
Theo sử liệu

Bốn con số 1962, 1965, 1970 và 1981 hay bị dùng lẫn cho nhau, và các bản viết về cơ quan này thường chỉ nêu một trong bốn rồi gọi đó là năm thành lập. Nói cho đúng thì 1962 là năm lập ban, 1965 là năm có văn phòng, 1970 là năm có trụ sở riêng tại địa chỉ hiện nay, và 1981 là năm mang danh hiệu hiện nay. Quý vị gặp con số nào cũng nên hỏi tiếp rằng con số ấy nói về việc gì.

Một chỗ nữa cần nói cho rõ là địa chỉ. Văn phòng đầu tiên ở số 165E Cống Quỳnh, trụ sở hiện nay ở số 171B cùng đường. Hai số nhà gần nhau nên rất dễ chép nhầm. Về địa giới, phường Nguyễn Cư Trinh thuộc quận 1 cũ nay là phường Cầu Ông Lãnh.

IIIMột Căn Nhà Làm Việc, Không Phải Một Ngôi Đền

Ở đây thư viện phải viết ngắn hơn các bài khác, và lý do nằm ngay trong tính chất của nơi này. Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo không dựng theo quy cách ba đài. Không có Hiệp Thiên Đài, không có Cửu Trùng Đài với chín cấp nền, không có Bát Quái Đài, không có lầu chuông lầu trống. Bộ khung ấy phục vụ nghi lễ tập thể của một Hội Thánh, mà nơi này không phải một Hội Thánh.

Cái nó cần là chỗ để ngồi đọc, ngồi viết, ngồi nghe giảng và ngồi bàn. Vì vậy cơ ngơi mang dáng một căn nhà làm việc trong phố, xây trong khoảng thời gian 1969 tới 1970, chiều cao và hình khối theo lối nhà phố đương thời chứ không theo lối đền miếu. Thư viện chưa tra được bản mô tả kiến trúc chi tiết của trụ sở, nên xin không đoán thêm về hình dáng, chỉ ghi lại những phần công việc mà cơ ngơi phải chứa.

Nơi thờ và thiên bàn

Ngôi thờ Thiên Nhãn cùng bàn thờ Đức Phật Mẫu, nơi người trong cơ quan cúng tứ thời. Đây là phần giữ cho nơi này vẫn là một chỗ thờ tự chứ không chỉ là một văn phòng, dù quy mô nhỏ hơn hẳn một thánh thất.

Chỗ học và hội họp

Nơi mở các khóa giáo lý, các buổi thuyết giảng và các cuộc hội thảo có người của nhiều Hội Thánh cùng dự. Đây là phần làm nên vai nhịp cầu mà cơ quan tự nhận.

Thư viện và tủ sách

Nơi giữ kinh sách, thánh giáo và tài liệu của nhiều Hội Thánh cùng các sách về Nho, Thích, Đạo dùng để đối chiếu. Phần tư liệu này về sau được đưa lên mạng thành một thư viện số chia theo từng tủ sách.

Chỗ biên soạn và ấn hành

Nơi làm ra sách và nội san. Với một cơ quan lấy việc viết làm chính thì đây là bộ phận nặng nhất, dù nó không để lại dấu vết gì đáng kể trên mặt tiền.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người tra địa chỉ rồi tìm tới, trông thấy một cơ ngơi không có tháp và không có sân, nên tưởng mình tới nhầm chỗ, hoặc tưởng đây là một thánh thất nhỏ chưa xây xong. Không phải. Nơi này không có lý do gì để dựng một ngôi đền, vì nó không tổ chức đại lễ cho hàng nghìn người và không có họ đạo để hành lễ tập thể. Một cơ quan làm việc giáo lý thì cần giá sách và phòng học nhiều hơn cần chín cấp nền, và cơ ngơi ở đây đúng là được làm theo nhu cầu ấy.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong tư liệu của cơ quan. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải. Với một nơi dựng lên để làm việc sách vở thì càng phải nói thẳng: người dựng chọn chỗ này theo lẽ tiện việc, không theo sách địa lý.

Thế đất và hướng

Điều đáng đọc trước nhất không phải thế đất mà là chỗ đứng trong thành phố. Cơ quan đặt trụ sở ở khu vực trung tâm, trên một con đường nối giữa mấy trục lớn, tức chỗ mà người từ nhiều hướng đều tới được mà không phải đi vòng. Trong cách nói của người xem đất, chỗ ấy gọi là trung cung, tức ô giữa, ô mà mọi phương đều quy về. Với một cơ quan tự nhận vai nhịp cầu giữa các Hội Thánh ở nhiều tỉnh thì chọn trung cung là chọn đúng công năng, dù người chọn có nghĩ tới phong thủy hay không.

Thứ hai là đất tĩnh trong phố. Trụ sở không nằm ngay mặt một đại lộ mà nằm trên một đoạn phố cỡ vừa, số nhà có thêm chữ cái phía sau, tức thuộc lớp nhà lùi vào so với dãy mặt tiền chính. Người xưa phân biệt đất động hợp với nơi tụ hội đông người, và đất tĩnh hợp với nơi học hành, viết lách và tu luyện. Một chỗ lùi khỏi dòng xe, vừa đủ kín để ngồi đọc mà vẫn đủ gần để người tìm tới được, chính là mẫu đất tĩnh trong phố. Nếu công việc ở đây là hành lễ cho hàng nghìn người thì thế đất này sẽ là dở, nhưng công việc ở đây là học và viết, nên nó lại là hợp.

Thứ ba là hình khối. Đất phố hẹp bề ngang và sâu về phía trong, nên cơ ngơi phát triển theo chiều đứng và chiều sâu chứ không trải ngang. Đọc theo lối cổ truyền, một công trình chồng tầng trên lô đất hẹp thì phần khí đi theo trục dọc từ dưới lên, và người xưa quen đặt phần trang nghiêm nhất ở trên cao, phần công việc ở dưới. Cách chia tầng như vậy có mặt ở rất nhiều cơ sở thờ tự trong lòng các đô thị chật, không riêng gì nơi này.

Cuối cùng, xin nói rõ một chỗ thư viện chưa khảo được. Chúng tôi chưa tra được tài liệu ghi hướng la bàn của mặt tiền trụ sở, nên không đọc hướng theo phương vị ở đây, để tránh đưa ra một kiến giải dựng trên phỏng đoán. Với một cơ ngơi mà hướng do hình dạng lô đất phố quy định, việc luận hướng cũng không cho biết thêm điều gì đáng kể.

VNếp Cúng Và Việc Giáo Lý

Nếp ở đây có hai phần chạy song song. Phần thứ nhất là nếp thờ tự chung của đạo Cao Đài, giữ đúng như ở các thánh sở khác nhưng quy mô gọn. Phần thứ hai, và là phần làm nên tính chất của nơi này, là lịch việc giáo lý: lớp học, hội thảo, biên soạn và ấn hành.

Bài không ghi giờ cúng và không ghi lịch khóa học cụ thể, vì những thứ ấy do cơ quan định và thay đổi theo từng thời kỳ. Nguồn: Tư liệu công bố của Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo..
DịpLễ hoặc việcNội dung
Bốn thời mỗi ngàyCúng tứ thờiCúng vào bốn mốc tý, ngọ, mẹo, dậu chia đều một ngày đêm, trước ngôi Thiên Nhãn tại trụ sở. Đây là nếp thường nhật của đạo Cao Đài.
Mùng 9 tháng Giêng âm lịchVía Đức Chí TônKỳ đại lễ đầu năm và trọng nhất trong năm của đạo, cử hành tại trụ sở theo lối gọn.
Rằm tháng Giêng âm lịchLễ Thượng NguơnKỳ nguơn đầu trong ba kỳ nguơn của một năm hành đạo.
Rằm tháng Bảy âm lịchLễ Trung NguơnKỳ nguơn giữa năm, có phần cầu siêu theo nếp chung của đạo.
Rằm tháng Tám âm lịchVía Đức Phật MẫuLễ dâng lên ngôi Mẹ trong hệ thống thờ tự của đạo Cao Đài.
Rằm tháng Mười âm lịchLễ Hạ NguơnKỳ nguơn cuối, khép lại vòng lễ tiết của một năm.
Quanh nămKhóa giáo lý và hội thảoCác lớp học giáo lý, buổi thuyết giảng và hội thảo chuyên đề, thường có người của nhiều Hội Thánh cùng dự.
Định kỳẤn hành nội san và sáchViệc biên soạn, in và phát hành nội san cùng các đầu sách giáo lý, tiến hành đều đặn qua nhiều chục năm.

Trong các việc trên, thứ để lại dấu vết rõ nhất là bộ nội san Cao Đài Giáo Lý. Đây là một tập san ra đều đặn qua nhiều chục năm, tới nay đã trên một trăm số, mỗi số gồm các bài khảo cứu, bài giảng và tư liệu. Với một cơ quan không có tín đồ riêng và không có thánh sở trực thuộc, một bộ tập san dày như vậy chính là bằng chứng cụ thể nhất cho vai nhịp cầu mà nó tự nhận: những bài trong đó đến từ người của nhiều Hội Thánh, và người đọc cũng vậy.

Bên cạnh nội san là các tủ sách. Cơ quan giữ và biên soạn nhiều bộ tư liệu, trong đó có cả tủ sách về những Hội Thánh và chi phái khác, kể cả những nơi mà bản thân cơ quan không thuộc về. Đó là điều mà một Hội Thánh riêng lẻ ít khi làm, và là lý do thứ hai để thư viện đưa nơi này vào mục Địa Điểm.

Theo sử liệu

Về quy mô người, một bản ghi do người trong cơ quan viết cho biết số người thường trực đã giảm từ khoảng một trăm tới hai trăm vị của những năm trước xuống còn chừng bốn mươi tới năm mươi vị, phần lớn là nữ. Thư viện ghi lại con số này kèm xuất xứ để quý vị hiểu đúng tầm vóc của nơi này: một cơ quan nhỏ về người, nhưng nặng về sách vở và tư liệu.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 171B đường Cống Quỳnh, phường Cầu Ông Lãnh (phường Nguyễn Cư Trinh quận 1 cũ), Thành phố Hồ Chí Minh
Đường tới
Nằm ở số 171B đường Cống Quỳnh, phường Cầu Ông Lãnh, thuộc phường Nguyễn Cư Trinh quận 1 cũ. Đi bộ được từ khu vực chợ Thái Bình và từ trục Nguyễn Trãi. Xin lưu ý số nhà có chữ B, vì văn phòng đầu tiên của cơ quan từng ở số 165E cùng đường.
Toạ độ
10.7663, 106.6888
Khi tới nơi

Đây là nơi làm việc và thờ tự chứ không phải điểm tham quan, và nó không mở như một thánh thất có sân cho khách. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo, bỏ giày dép trước khi vào nơi thờ, đi nhẹ và nói khẽ, giữ yên khi có người đang cúng hoặc đang có buổi học. Người muốn tới đọc tư liệu hoặc dự một buổi giảng nên liên hệ trước với người trực, vì phòng đọc và lớp học không mở thường xuyên như một thư viện công. Xin quý vị hỏi trước khi chụp ảnh trong nơi thờ.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo

Contribute photos, information or video for Cao Dai Institute for Religious Studies and Propagation

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo có phải một chi phái Cao Đài không

Không. Đây không phải một chi phái và cũng không phải một thánh thất. Danh mục các Hội Thánh và tổ chức Cao Đài không có tên cơ quan này, vì nó là một cơ quan nghiên cứu và phổ truyền giáo lý chung, không có tín đồ riêng, không có hàng phẩm theo lối một Hội Thánh và không có thánh sở trực thuộc.

Cơ quan này làm những việc gì

Ba việc theo tôn chỉ của chính cơ quan: phổ truyền chánh pháp, phổ biến giáo lýphổ tế quần sanh. Cụ thể là nghiên cứu và biên soạn giáo lý, ấn hành sách và nội san, mở khóa học và hội thảo, giữ thư viện tư liệu, cùng các việc giúp đời không phân biệt người thuộc Hội Thánh nào.

Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo lập năm nào

Tùy quý vị hỏi về việc gì. 1962 là năm lập Ban Phổ Thông Giáo Lý, 1965 là năm khai mạc văn phòng đầu tiên vào ngày 16 tháng 2, 1970 là năm trụ sở tại 171B Cống Quỳnh hoàn tất, và 1981 là năm đổi sang danh hiệu hiện nay vào ngày 18 tháng 5.

Vì sao nơi này không xây như một thánh thất

Vì nó không có họ đạo và không tổ chức đại lễ tập thể quy mô lớn. Bộ khung ba đài gồm Hiệp Thiên Đài, Cửu Trùng Đài và Bát Quái Đài phục vụ nghi lễ của một Hội Thánh. Một cơ quan làm việc giáo lý thì cần thư viện, phòng học và chỗ biên soạn, nên cơ ngơi được làm theo nhu cầu ấy.

Nội san Cao Đài Giáo Lý là gì

Là tập san do cơ quan ấn hành, ra đều đặn qua nhiều chục năm và tới nay đã trên một trăm số, gồm bài khảo cứu, bài giảng và tư liệu giáo lý. Bài vở đến từ người của nhiều Hội Thánh khác nhau, nên bộ nội san này được xem là bằng chứng rõ nhất cho vai nhịp cầu mà cơ quan tự nhận.

Đọc Tiếp