VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Ấn Quang

Ấn Quang tự , Ứng Quang tự , Tổ đình Ấn Quang

Ngôi chùa dòng Lâm Tế khởi từ một am lợp lá năm 1948, chỉ vài năm sau đã thành nơi bốn trường Phật học phương Nam gộp về một mối.

Am đầu tiên
1948
mái lá, Hòa thượng Thích Trí Hữu dựng
Chánh điện
1953
khánh thành năm Quý Tỵ, tôn tạo lớn năm 1966
Tông phái
Lâm Tế
Phật Giáo Bắc Tông

Trên đường Sư Vạn Hạnh, giữa dãy phố buôn bán của vùng quận 10 cũ, có một cổng chùa lùi vào trong. Qua cổng là khoảng sân, rồi mái chánh điện mà người quen chùa miền Trung nhìn là nhận ra dáng chùa Huế. Gặp dáng mái ấy giữa phố phường phương Nam, người lần đầu đến thường dừng lại một chút mà nhìn.

Đây là chùa Ấn Quang. Năm 1948 nơi này chỉ là một am nhỏ dựng bằng cây, lợp lá, do Hòa thượng Thích Trí Hữu từ chùa Linh Ứng ở Ngũ Hành Sơn vào lập. Vài năm sau, Hòa thượng Thích Thiện Hòa về làm viện chủ, chùa mang tên Ấn Quang và trở thành nơi đặt Phật học đường Nam Việt, ngôi trường gộp từ bốn Phật học đường ở Sài Gòn. Nhiều thế hệ tăng sĩ phương Nam từng có những năm học ở đây.

Chùa Ấn Quang
Chùa Ấn Quang. Ảnh: Gary Todd from Xinzheng, China, giấy phép CC0, nguồn Wikimedia Commons.

ITên chùa và dòng Lâm Tế

Chùa có hai tên nối nhau. Tên đầu là Ứng Quang, trong đó ứng là đáp lại, quang là ánh sáng. Tên sau là Ấn Quang, trong đó ấn là dấu ấn, con dấu, trong nhà Phật còn gợi tới chữ tâm ấn, tức sự truyền trao giữa thầy và trò. Hai tên chỉ khác nhau một chữ đầu, cùng giữ chữ quang. Chữ Hán ở đầu trang chép theo tên ghi trong bảng dữ kiện của thư viện, chúng tôi chưa đối chiếu với hoành phi hay biển chùa.

Người lập am, Hòa thượng Trí Hữu, từ chùa Linh Ứng ở Ngũ Hành Sơn vào. Chữ Ứng trong tên Ứng Quang trùng với chữ Ứng trong tên ngôi chùa nơi ngài tu trước đó. Các nguồn chúng tôi đọc không nói đây có phải là ý đặt tên hay không, nên chúng tôi chỉ ghi sự trùng hợp ấy mà không kết luận.

Theo sử liệu

Về tên ban đầu, các nguồn ghi có chỗ khác nhau. Giác Ngộ Online ghi Hòa thượng Trí Hữu dựng ngôi chùa nhỏ bằng cây lợp lá năm 1948, đặt tên là Ứng Quang. Tư liệu Làng Mai và tài liệu chùa Giác Ngộ ghi am tranh đầu tiên có tên Trí Tuệ Am, sau khi dựng chánh điện và tăng xá bằng tranh tre mới đổi là chùa Ứng Quang. Trang Phật Tử Việt Nam ở đoạn mở đầu gọi ngôi tự nhỏ năm 1948 là Ấn Quang tự, nhưng tới đoạn viết về năm 1951 lại ghi rõ chùa Ứng Quang được đổi tên thành Ấn Quang. Năm đổi tên và lập trường cũng vênh nhẹ khi tư liệu Làng Mai và chùa Giác Ngộ ghi năm 1950, còn Giác Ngộ Online và Phật Tử Việt Nam ghi năm 1951.

Về tông phái, Ấn Quang là chùa Phật Giáo Bắc Tông, dòng Lâm Tế. Thiền phái Lâm Tế mang tên Tổ Lâm Tế Nghĩa Huyền ở Trung Hoa thời Đường, truyền vào Việt Nam từ thế kỷ 17 và về sau trở thành dòng có nhiều chùa nhất ở miền Trung và miền Nam. Chùa Lâm Tế ở Việt Nam tu thiền kết hợp tụng niệm, giữ nếp chung của Bắc Tông, và phân biệt nhau chủ yếu ở mạch thầy trò cùng bài kệ dùng đặt pháp danh.

Theo trang Phật Tử Việt Nam và Giác Ngộ Online, Hòa thượng Thích Thiện Hòa (1907 tới 1978), thế danh Hứa Khắc Lợi, thuộc dòng thiền Lâm Tế đời thứ 43. Bài kệ cụ thể mà chùa dùng để đặt pháp danh, chúng tôi chưa tra được có nguồn, nên không ghi. Người đời thường gọi nơi này là Tổ đình Ấn Quang, cách gọi dành cho ngôi chùa mà nhiều thế hệ tăng sĩ coi là chốn gốc của mình.

Chỗ hay hiểu lầm

Người đọc sách Phật thường liên tưởng tên chùa với Ấn Quang Đại sư (1861 tới 1940), vị cao tăng Trung Hoa được tôn làm tổ thứ mười ba của Tịnh Độ tông, người có bộ Ấn Quang Pháp sư văn sao khuyên niệm Phật được dịch và phổ biến rộng ở Việt Nam. Một số bài giới thiệu về sau giải thích tên chùa Ấn Quang được đặt theo hiệu của Đại sư để nối chí hoằng pháp. Tuy nhiên các nguồn sử liệu trực tiếp viết về buổi đầu lập chùa như Giác Ngộ Online, Phật Tử Việt Nam và tư liệu Làng Mai chỉ ghi việc đổi tên từ Ứng Quang sang Ấn Quang khi lập Phật học đường Nam Việt (theo tư liệu Làng Mai là do Thiền sư Nhật Liên đề nghị) mà không nêu lý do đặt theo tên ngài. Dù hiểu theo cách nào, chùa vẫn thuộc dòng thiền Lâm Tế chứ không phải một chùa riêng của Tịnh Độ tông.

IITừ am lá tới trường Phật học

Theo Giác Ngộ Online và Phật Tử Việt Nam, năm 1948 Hòa thượng Thích Trí Hữu từ chùa Linh Ứng (Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng) vào Sài Gòn, dựng một ngôi chùa nhỏ bằng cây lợp lá trên khu đất vùng Vườn Lài, đường Lorgéril, nay là số 243 đường Sư Vạn Hạnh. Năm 1950, Hòa thượng Trí Hữu giao quyền quản lý ngôi chùa cho Hòa thượng Thích Thiện Hòa sau khi ngài hoàn thành mười năm du học về giáo điển và giới luật ở Huế và Hà Nội. Với tư cách viện chủ, Hòa thượng Thiện Hòa gắn bó với việc xây dựng chùa và đào tạo tăng tài trong hơn một phần tư thế kỷ.

  • 1948Dựng am mái lá
    Hòa thượng Thích Trí Hữu từ chùa Linh Ứng ở Ngũ Hành Sơn vào dựng một am nhỏ bằng cây lợp lá. Giác Ngộ Online ghi tên là Ứng Quang, tư liệu Làng Mai ghi am đầu tiên tên Trí Tuệ Am.
  • 1950Giao quyền quản lý cho Hòa thượng Thiện Hòa
    Hòa thượng Thích Trí Hữu giao chùa cho Hòa thượng Thích Thiện Hòa làm viện chủ để mở rộng cơ sở hoằng pháp và giáo dục.
  • 1950 hoặc 1951Phật học đường Nam Việt và tên Ấn Quang
    Bốn trường Phật học Liên Hải, Mai Sơn, Sùng Đức và Ứng Quang hiệp nhất thành Phật học đường Nam Việt đặt tại chùa, chùa đổi tên thành Ấn Quang. Nguồn vênh giữa năm 1950 và đầu năm 1951.
  • 1953Đại lễ khánh thành và hợp nhất thêm trường
    Chánh điện do Hòa thượng Thiện Hòa cho dựng theo kiểu chùa Từ Đàm (Huế) làm lễ khánh thành ngày 14 và 15 tháng 7 năm Quý Tỵ (1953). Cùng năm, Phật học đường Phật Quang ở Trà Ôn gia nhập trường, Hòa thượng Thích Thiện Hoa được mời về chùa.
  • 1955 tới 1959Dựng nhà Tổ, nhà in, thư viện và nhà xuất bản
    Năm 1955 xây dãy lầu nhà Tổ và trai đường. Hai năm tiếp theo dựng nhà in Sen Vàng, xưởng nhang Bồ Đề, thư viện cùng nhà xuất bản và phát hành Hương Đạo. Năm 1959 xây lại dãy lầu giảng đường.
  • 1966 tới 1967Tôn tạo chánh điện và tăng xá
    Chánh điện được tôn tạo mở rộng năm 1966 theo đồ án của kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thiện. Năm 1967 tái thiết lầu tăng xá và nhà trai.
  • 2006 tới 2009Trùng kiến nhà Tổ và khởi dựng bảo tháp
    Năm 2006 chùa trùng kiến nhà Tổ, trai đường và tăng xá. Năm 2009 khởi công xây dựng bảo tháp trong khuôn viên chùa.

Bốn trường gộp về một mối

Điều làm nên vai trò của Ấn Quang trong những năm đầu không phải là quy mô công trình mà là một ngôi trường. Theo Giác Ngộ Online và Phật Tử Việt Nam, Hòa thượng Thiện Hòa cùng chư tôn đức vận động bốn trường Phật học ở Sài Gòn là Liên Hải, Mai Sơn, Sùng Đức và Ứng Quang hiệp nhất thành Phật học đường Nam Việt, đặt trụ sở tại chùa Ấn Quang, do Hòa thượng Thích Thiện Hòa làm Tổng giám đốc. Tới năm 1953, Phật học đường Phật Quang ở Trà Ôn cũng gia nhập về đây.

Phật học đường Nam Việt quy tụ nhiều bậc danh tăng của phong trào chấn hưng Phật giáo miền Nam. Bên cạnh Hòa thượng Thích Thiện Hòa còn có Hòa thượng Thích Thiện Hoa (1918 tới 1973), người đảm nhận việc giáo dục và biên soạn bộ giáo trình Phật học phổ thông, cùng Hòa thượng Thích Trí Tịnh (1917 tới 2014), dịch giả nhiều bộ kinh Đại thừa, tham gia giảng dạy. Gộp các trường nhỏ về một chỗ nghĩa là gom thầy dạy, học tăng và kinh sách về chung một mái nhà, biến ngôi chùa thành nơi đào tạo hàng trăm giảng sư và hàng nghìn tăng ni sinh cho khắp miền Nam.

Theo sử liệu

Năm thành lập Phật học đường Nam Việt là chỗ nguồn ghi vênh. Tư liệu Làng Mai và tài liệu chùa Giác Ngộ ghi năm 1950. Trang Phật Tử Việt Nam và Giác Ngộ Online ghi đầu năm 1951. Có thể việc bàn bạc thống nhất bắt đầu từ năm 1950 và trường chính thức hoạt động đầu năm 1951, nhưng các văn bản không tách rõ như thế, nên thư viện ghi cả hai mốc.

IIIChánh điện kiểu chùa Huế giữa Sài Gòn

Theo Giác Ngộ Online và Phật Tử Việt Nam, sau khi tiếp nhận chùa năm 1950, Hòa thượng Thích Thiện Hòa đã cho xây dựng ngôi chánh điện theo kiểu chùa Từ Đàm ở Huế, tổ chức đại lễ khánh thành vào ngày 14 và 15 tháng 7 năm Quý Tỵ (1953). Đến năm 1966, chánh điện được tôn tạo và mở rộng theo đồ án của kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thiện. Nói chung, lối chùa Huế thể hiện ở mái ngói chồng diêm cổ lầu, bờ nóc và bờ quyết đắp trang trí cổ truyền, cùng cách chia gian nghiêm cẩn. Vị sư lập am đầu tiên đến từ miền Trung, người viện chủ kế tiếp lại từng có mười năm tu học ở Huế và Hà Nội, nên ngôi chùa phương Nam này mang dáng mái quen thuộc của đất kinh kỳ.

Chánh điện

Hòa thượng Thích Thiện Hòa cho dựng theo kiểu chùa Từ Đàm (Huế), khánh thành năm 1953, tôn tạo mở lớn năm 1966 theo đồ án của kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thiện.

Điện Phật và tượng thờ

Chính giữa tôn trí tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi thiền định và tháp Xá Lợi Phật, phía sau thờ hai tượng Hộ Pháp. Chùa còn có tượng Tổ sư Đạt Ma bằng gỗ và bộ tranh sơn mài Quan Âm, Văn Thù, Phổ Hiền.

Giảng đường

Nơi giảng dạy của Phật học đường Nam Việt, dựng từ đầu thập niên 1950 và xây lại thành dãy lầu năm 1959.

Nhà in, thư viện và nhà xuất bản

Gồm nhà in Sen Vàng, thư viện cùng nhà xuất bản và nhà phát hành Hương Đạo dựng trong những năm 1956 tới 1957 để in ấn, phổ biến kinh sách Phật học.

Nhà Tổ, trai đường và tăng xá

Dựng năm 1955, tái thiết năm 1967 và được trùng kiến khang trang vào năm 2006 để phục vụ chư tăng tu học nội trú.

Trong chánh điện, chính giữa tôn trí pho tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở tư thế ngồi thiền định cùng tháp Xá Lợi Phật, phía sau đặt hai tượng Hộ Pháp hai bên. Tư thế thiền định với hai bàn tay đặt chồng lên nhau trước bụng nhắc đúng điều cốt lõi của một ngôi chùa dòng Lâm Tế, nơi con đường tu tập đi qua sự lắng tâm. Ngoài điện Phật, chùa còn giữ pho tượng Tổ sư Đạt Ma tạc bằng gỗ và bộ tranh sơn mài thờ ba vị Bồ Tát Quan Âm, Văn Thù, Phổ Hiền do nghệ nhân Trương Văn Thanh (tức Đại đức Minh Tịnh) thực hiện.

Nhìn cả khuôn viên, quý vị sẽ thấy các dãy nhà quanh chánh điện gắn chặt với việc học và việc in kinh. Giảng đường, thư viện, nhà in Sen Vàng, nhà xuất bản Hương Đạo và khu tăng xá được dựng lên liên tiếp trong thập niên 1950. Đó là dấu vết của một ngôi chùa được tổ chức như một trường nội trú và một trung tâm dịch thuật, ấn hành kinh điển.

Chỗ hay hiểu lầm

Về người tạo tác tượng và phù điêu trong chánh điện, các nguồn ghi thêm những chi tiết khác nhau. Giác Ngộ Online ghi pho tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni do Phật tử Minh Dung tạc. Tư liệu Làng Mai lại ghi cư sĩ Trương Đình Ý, giáo sư Trường Mỹ nghệ Thực hành Gia Định, là người trông coi phần điêu khắc, trang trí và sáng tác tượng Phật cùng các bức chạm nổi trong chánh điện. Còn nghệ nhân Trương Văn Thanh (Đại đức Minh Tịnh) là tác giả tượng Tổ sư Đạt Ma bằng gỗ và bộ tranh sơn mài Quan Âm, Văn Thù, Phổ Hiền chứ không phải người tạc tượng Phật Bổn Sư. Chúng tôi ghi rõ từng nguồn để bạn đọc khỏi nhầm lẫn.

Cũng xin lưu ý phân vai. Cách đây chừng 880 mét là Việt Nam Quốc Tự, dựng năm 1964, nổi vì bảo tháp mười ba tầng. Cách chừng 1,1 cây số là chùa Kỳ Viên, ngôi chùa Nam Tông Kinh. Ba ngôi gần nhau nhưng khác tông phái hoặc khác lịch sử hình thành, không nên gộp làm một.

IVThế đất và hướng

Mục này ghi cách thư viện nhìn thế đất theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều chùa chép trong văn bản của mình. Chùa Ấn Quang ra đời giữa một vùng đô thị đang mở rộng, trên một khu đất nhỏ mà vị sư lập am có được, chứ không qua một cuộc chọn đất theo sách. Các nguồn chúng tôi đọc cũng không ghi hướng chánh điện. Vì thế những dòng dưới đây là đối chiếu, không phải khẳng định.

Thế đất và hướng

Ở Sài Gòn không có núi để tựa. Chùa phố nơi đây lấy đường làm dòng chảy và lấy dãy nhà làm lớp che. Cổng chùa lùi vào khỏi mặt đường Sư Vạn Hạnh, để lại một khoảng sân giữa phố và chánh điện. Trong phép xem đất, khoảng lùi ấy là minh đường của ngôi chùa, chỗ cho khí dừng lại trước khi vào nhà. Chùa phố thiếu mọi thứ khác nhưng hiếm khi thiếu khoảng sân này.

Khi không có núi, các lớp nhà phía sau và hai bên đóng vai núi. Giảng đường, tăng xá, thư viện dựng dần quanh chánh điện đã khép khuôn viên lại thành một lòng kín. Theo lối nghĩ cổ truyền, một ngôi nhà được các khối nhà khác ôm quanh thì giữ được sự tĩnh, và với một nơi dạy học, sự tĩnh ấy quan trọng hơn mọi hướng đẹp.

Đáng nói hơn là cách ba ngôi chùa lớn ở vùng này đứng cạnh nhau. Ấn Quang, Việt Nam Quốc Tự và Kỳ Viên nằm trong bán kính chừng một cây số, mỗi ngôi một tông phái, một dáng kiến trúc. Theo lối nhìn cổ truyền, một vùng đất có nhiều nơi thờ tự tụ lại là vùng đất mà cộng đồng đã chọn làm chỗ nương, không cần đọc la bàn cũng thấy được điều ấy.

VLễ và nếp tu học

Là một ngôi chùa sinh ra cùng một trường Phật học, nhịp năm của Ấn Quang xoay quanh mùa học và mùa an cư hơn là quanh một lễ hội đông người. Chúng tôi không tra được lịch lễ riêng của chùa có nguồn, nên bảng dưới đây ghi các lễ theo nếp chung của chùa Bắc Tông, tính theo âm lịch.

Các lễ chính theo nếp chung của chùa Bắc Tông, tính theo âm lịch. Nguồn: Theo nếp chung của chùa Bắc Tông Việt Nam, không phải lịch lễ riêng đã tra được của chùa Ấn Quang..
Ngày âm lịchLễNội dung
Rằm tháng GiêngThượng nguyênLễ đầu năm, Phật tử về chùa lễ Phật và tụng kinh cầu an.
Rằm tháng 4Phật ĐảnLễ mừng ngày Đức Phật đản sinh, có nghi thức tắm Phật.
Từ rằm tháng 4 tới rằm tháng 7An cư kiết hạBa tháng tăng chúng ở yên một chỗ học giới luật và kinh điển, nếp tu học quan trọng nhất trong năm.
Rằm tháng 7Vu LanLễ báo hiếu cha mẹ, cũng là ngày tự tứ kết thúc mùa an cư.
Mùng 8 tháng ChạpPhật thành đạoTưởng niệm ngày Đức Phật giác ngộ.

Với Ấn Quang, mùa an cư có một nghĩa riêng. Đây là ba tháng mà tinh thần của Phật học đường buổi đầu hiện rõ nhất khi tăng sĩ ở yên, học giới luật, nghe giảng và sống theo thời khóa chung. Ngôi chùa khởi từ một am lợp lá đã lớn lên chính nhờ nếp ở chung và học chung ấy.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 243 đường Sư Vạn Hạnh, phường Vườn Lài (phường 9 quận 10 cũ), Thành phố Hồ Chí Minh
Đường tới
Chùa ở số 243 đường Sư Vạn Hạnh, phường Vườn Lài (phường 9 quận 10 cũ), Thành phố Hồ Chí Minh. Việt Nam Quốc Tự và chùa Kỳ Viên đều ở gần, đi bộ được.
Toạ độ
10.7658, 106.6717
Khi tới nơi

Ấn Quang là chùa có tăng chúng tu học, lệ của nhà chùa là lệ phải theo. Quý vị nên ăn mặc kín đáo, bỏ mũ và cởi giày dép trước khi vào chánh điện, đi nhẹ nói khẽ ở khu tăng xá và giảng đường, nơi tăng sĩ học và nghỉ. Khi chùa đang có khóa lễ, xin đứng lùi phía sau, không đi ngang trước hàng tăng. Muốn chụp ảnh trong chánh điện, xin hỏi người trong chùa trước.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Ấn Quang

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Ấn Quang ở đâu

Chùa ở số 243 đường Sư Vạn Hạnh, phường Vườn Lài, tức phường 9 quận 10 cũ, Thành phố Hồ Chí Minh. Cổng chùa lùi vào khỏi mặt đường, sau sân là chánh điện kiểu chùa Huế. Gần đó có Việt Nam Quốc Tự và chùa Kỳ Viên.

Chùa Ấn Quang được xây năm nào

Chùa khởi từ một am nhỏ bằng cây lợp lá dựng năm 1948 do Hòa thượng Thích Trí Hữu lập. Từ năm 1950 Hòa thượng Thích Thiện Hòa về làm viện chủ, cho dựng chánh điện theo kiểu chùa Từ Đàm (Huế), khánh thành năm 1953 và tôn tạo mở lớn năm 1966. Năm đổi tên thành Ấn Quang các nguồn ghi vênh giữa 1950 và 1951.

Chùa Ấn Quang thuộc tông phái nào

Chùa thuộc Phật Giáo Bắc Tông, dòng Lâm Tế. Theo trang Phật Tử Việt Nam, Hòa thượng Thích Thiện Hòa, viện chủ từ năm 1950, thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 43. Bài kệ đặt pháp danh cụ thể của chùa thì chúng tôi chưa tra được có nguồn.

Ai là người lập và mở rộng chùa Ấn Quang

Người lập am đầu tiên năm 1948 là Hòa thượng Thích Trí Hữu từ chùa Linh Ứng ở Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng vào Sài Gòn. Năm 1950 ngài giao chùa cho Hòa thượng Thích Thiện Hòa làm viện chủ. Hòa thượng Thiện Hòa cùng các bậc tôn túc như Hòa thượng Thích Thiện Hoa và Hòa thượng Thích Trí Tịnh đã mở rộng chùa thành trung tâm giáo dục và ấn hành kinh sách Phật học.

Phật học đường Nam Việt là gì

Là trường đào tạo tăng sĩ đặt tại chùa Ấn Quang, gộp từ bốn trường Phật học ở Sài Gòn là Liên Hải, Mai Sơn, Sùng Đức và Ứng Quang, do Hòa thượng Thích Thiện Hòa vận động và làm Tổng giám đốc. Năm 1953 có thêm Phật học đường Phật Quang ở Trà Ôn gia nhập. Nguồn ghi năm lập vênh giữa 1950 và đầu năm 1951.

›Đọc Tiếp