VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đạo Bön Tây Tạng: phẩm trật và truyền thừa

· Hồ sơ nghi lễ

Màu sắc, phẩm trật, cách xưng hô, y phục theo cấp và dòng truyền thừa từ sáng lập tới hôm nay, có nguồn cho từng mục.

Màu chủ đạo
Đỏ thẫm (đỏ nâu tím)
#7A2E2A
Phẩm trật
6 bậc
từ cao xuống thấp
Truyền thừa
11 mốc, 1 dòng

IMàu sắc

Màu dùng cho trang này của thư viện: Đỏ thẫm (đỏ nâu tím) #7A2E2A. Mọi mã màu là gần đúng, vì phần lớn các đạo chỉ gọi tên màu chứ không công bố mã.

Màu chủ đạo màu biểu trưng của đạo

Đỏ thẫm (đỏ nâu tím) དམར་སྨུག (dmar smug)#7A2E2A

Màu y chính của tu sĩ Tây Tạng, dùng chung cho tu sĩ Bön và Phật giáo. Mã hex ước lượng.

Lam སྔོན་པོ (sngon po)#1F4E8C

Theo một bài giảng Bön, lam là màu Tonpa Shenrab dùng, biểu thị thân vĩnh cửu không đổi, khẩu không gián đoạn, ý rộng lớn và rỗng lặng. Viền lam trên y tu sĩ được giải thích là dấu vết của Bön. Mã hex ước lượng.

Màu nơi thờ không gian thờ thật

chưa tìm được nguồn riêng cho điện thờ Bön (cột, tường, gấm, đèn bơ) chưa tìm được nguồnchưa có mã · Menri (Dolanji), Triten Norbutse (Kathmandu)

Màu hành lễ theo dịp, theo mùa

Vàng#E3A92B · Nghi lễ và giảng pháp (theo lệ chung tu viện Tây Tạng)

Y choàng vàng chögu mặc khi hành lễ và nghe giảng. Nguồn là mô tả y Phật giáo Tây Tạng, chưa tìm được nguồn Bön riêng.

Màu tang và kiêng

chưa tìm được nguồnchưa có mã

Chưa tìm được nguồn Bön về màu tang hay màu kiêng.

IIPhẩm trật

Bön là tôn giáo bản địa Tây Tạng, dòng chính hiện nay tự gọi là Yungdrung Bön (Bön vĩnh cửu), tôn Tonpa Shenrab làm giáo tổ. Không có giáo hội hành chính trung ương, nhưng Menri Trizin, vị trụ trì tu viện Menri, được coi là lãnh đạo tinh thần của cả đạo. Tu viện Menri lập năm 1405 ở Tsang, được dựng lại ở Dolanji, Ấn Độ năm 1967.

  1. 1Menri Trizin (Tòa chủ Menri)སྨན་རི་ཁྲི་འཛིན (sman ri khri 'dzin)
  2. 2Khenpo (trụ trì, viện trưởng)མཁན་པོ (mkhan po)
  3. 3Lopön, Ponlop (giáo thọ trưởng)སློབ་དཔོན (slob dpon), དཔོན་སློབ (dpon slob)
  4. 4Gesheདགེ་བཤེས (dge bshes)
  5. 5Drangsong (tu sĩ thọ đủ giới)དྲང་སྲོང (drang srong)
  6. 6Tu sĩ sơ cấp
  1. 1
    Menri Trizin (Tòa chủ Menri) སྨན་རི་ཁྲི་འཛིན (sman ri khri 'dzin) · Menri Trizin, throne holder of Menri

    Trụ trì tu viện Menri và lãnh đạo tinh thần của đạo Bön. Vị thứ 34 là Lungtok Dawa Dhargye Rinpoche, chọn ngày 1 tháng 1 năm 2018.

  2. 2
    Khenpo (trụ trì, viện trưởng) མཁན་པོ (mkhan po) · Abbot

    Trụ trì một tu viện.

  3. 3
    Lopön, Ponlop (giáo thọ trưởng) སློབ་དཔོན (slob dpon), དཔོན་སློབ (dpon slob) · Senior teacher, head tutor

    Thầy dạy chính của tu viện. Lopön Tenzin Namdak mang danh hiệu Yongdzin và là người lập Triten Norbutse năm 1987.

  4. 4
    Geshe དགེ་བཤེས (dge bshes) · Geshe, highest academic degree

    Học vị cao nhất sau chương trình 13 năm ở Triten Norbutse gồm Kinh, Mật, Dzogchen, biện luận, vũ trụ luận, chiêm tinh, y học Tây Tạng, ngôn ngữ, nghệ thuật thiêng.

  5. 5
    Drangsong (tu sĩ thọ đủ giới) དྲང་སྲོང (drang srong) · Fully ordained monk

    Tu sĩ thọ đủ giới, giữ độc thân nghiêm ngặt.

  6. 6
    Tu sĩ sơ cấp Novice

    chưa tìm được nguồn

Tín đồ: Bönpo (người theo Bön). chưa tìm được nguồn

IIIXưng hô

BậcTín đồ gọiKhi viếtTự xưngTiếng gốc
Menri TrizinHis Holiness, Rinpoche. Tín đồ Việt: chưa tìm được nguồn vì Việt Nam chưa có cộng đồng Bön.His Holiness the 34th Menri Trizin Lungtok Dawa Dhargye Rinpochechưa tìm được nguồnསྨན་རི་ཁྲི་འཛིན
Lopön Tenzin NamdakYongdzin RinpocheYongdzin Lopön Tenzin Namdak Rinpochechưa tìm được nguồnཡོངས་འཛིན
GesheGeshe kèm tên, thêm Rinpoche nếu là bậc được tôn xưngGeshe kèm tênchưa tìm được nguồnདགེ་བཤེས

IVY phục theo cấp

Hình vẽ trải phẳng theo mô tả trong nguồn, không vẽ người. Màu là gần đúng.

Váy shemdap, áo dhonka, y choàng zen, y lễ chögu và namjar (theo kiểu y Tây Tạng), Tu sĩ (drangsong, geshe, khenpo)
Tu sĩ (drangsong, geshe, khenpo)Váy shemdap, áo dhonka, y choàng zen, y lễ chögu và namjar (theo kiểu y Tây Tạng)Đỏ thẫm Vàng Lam (viền)

VDòng truyền thừa

Bön tôn Tonpa Shenrab Miwoche là Đấng Đạo Sư sáng lập. Giáo pháp truyền qua nhiều dòng gia tộc và dòng tu song song (Dru, Zhu, Me, Yeru), từ năm 1405 tu viện Menri thành trung tâm chính. Menri Trizin, trụ trì Menri, được chọn bằng nghi thức rút thăm và được coi là lãnh đạo tinh thần của Yungdrung Bön.

Bön: từ Tonpa Shenrab tới Menri

  1. theo truyền thống Bön, rất xa trước thời Đức Thích CaTonpa Shenrab Miwoche སྟོན་པ་གཤེན་རབ་མི་བོ་ཆེ (ston pa gshen rab mi bo che)

    Đấng Đạo Sư sáng lập Yungdrung Bön, xuất thân từ xứ Olmo Lungring. Bậc thiêng.

  2. 996 tới 1035Shenchen Luga གཤེན་ཆེན་ཀླུ་དགའ (gshen chen klu dga')

    Người khai quật kho kinh tàng (terma) năm 1017, mở đầu thời Bön hậu kỳ. Các đệ tử lập ba dòng Dru, Zhu, Me. Được tôn kính như bậc thánh.

  3. lập 1072, hư hại vì lũ 1386Tu viện Yeru Wensakha གཡས་རུ་དབེན་ས་ཁ

    Tu viện lớn của dòng Dru, trung tâm học thuật Bön trước Menri.

  4. #1 · 1356 tới 1415, lập Menri 1405Nyame Sherab Gyaltsen མཉམ་མེད་ཤེས་རབ་རྒྱལ་མཚན (mnyam med shes rab rgyal mtshan)

    Lập tu viện Menri ở Tsang năm 1405, nối lại truyền thống Yeru Wensakha, đặt nền cho đời tu viện Bön. Là Menri Trizin thứ nhất, được tôn kính như bậc thánh.

  5. #2 · trụ trì từ 1415Rinchen Gyaltsen རིན་ཆེན་རྒྱལ་མཚན

    Trụ trì thứ hai của Menri.

  6. lập 1834Yungdrung Ling གཡུང་དྲུང་གླིང

    Tu viện lớn thứ hai của Bön, do Nangton Dawa Gyaltsen lập, cùng Menri là hai trung tâm học thuật chính tới năm 1959.

  7. #31 · 1910 tới khoảng 1954 hoặc 1958Nyima Wangyal ཉི་མ་དབང་རྒྱལ

    Menri Trizin thứ 31, cho xây học viện mới và cải cách chương trình học.

  8. Lungtok Tenpai Nyima
    #33 · 1929 tới 14/9/2017, được chọn 1968, tấn phong 4/3/1969Lungtok Tenpai Nyima ལུང་རྟོགས་བསྟན་པའི་ཉི་མ (lung rtogs bstan pa'i nyi ma)

    Menri Trizin thứ 33, được chọn bằng nghi lễ bảy ngày ở Dolanji năm 1968, dựng lại Menri trong lưu vong và đưa Bön được công nhận là một trong các truyền thống lớn của Tây Tạng.

    Ảnh: Bon Foundation, giấy phép CC BY-SA 4.0
  9. 1967Menri tái lập ở Dolanji

    Tu viện Pal Shenten Menri Ling dựng lại ở Dolanji, Himachal Pradesh, Ấn Độ, sau khi Menri gốc bị phá năm 1959 tới 1966.

  10. Yongdzin Lopön Tenzin Namdak
    27/1/1925 tới 12/6/2025Yongdzin Lopön Tenzin Namdak སློབ་དཔོན་བསྟན་འཛིན་རྣམ་དག

    Đại học giả, đồng sáng lập Menri ở Dolanji, lập Triten Norbutse ở Kathmandu năm 1987. Là bậc thầy cao nhất sau Menri Trizin.

    Ảnh: Dereck Camacho, giấy phép CC BY-SA 4.0
  11. #34 · sinh 29/11/1972, được chọn 1/1/2018Lungtok Dawa Dhargye (Dawa Dargyal) ལུང་རྟོགས་ཟླ་བ་དར་རྒྱས

    Menri Trizin thứ 34 và đương nhiệm, được chọn từ 60 Geshe bằng nghi thức rút thăm Tagdril bắt đầu 19/12/2017. Ngồi ngai 20/2/2018, lễ tấn phong lớn 6/9/2018 ở Dolanji.

Danh sách đầy đủ 35 đời
  1. 1Nyamme Sherab Gyaltsen1405
  2. 2Rinchen Gyaltsen1415
  3. 3Namkha Yeshe1446
  4. 4Kunzang Gyaltsen1464
  5. 5Rinchen Gyaltsen1485
  6. 6Tsultrim Gyaltsen1511
  7. 7Sonam Yeshe1532
  8. 8Sonam Yungdrung1575
  9. 9Shechu Drungmu1610
  10. 10Sherab Ozer1647
  11. 11Yungdrung Gyaltsen1662
  12. 12Sherab Lodro1677
  13. 13Sherab Ozer (Prajna Khi Khar)1686
  14. 14Chugpu Ozer1697
  15. 15Yungdrung Tsultrim1706
  16. 16Rinchen Ozer1722
  17. 17Rinchen Lhundrub1735
  18. 18Sherab Tendzin1760
  19. 19Sherab Wang Gyal1776
  20. 20Yungdrung Wang Gyal1789
  21. 21Puntsog Namgyal1805
  22. 22Sonam Lodro1810, sinh 1784
  23. 23Dawa Gyaltsen (Sonam Gyaltsen)1834, sinh 1796
  24. 24Nyima Tendzin1836, sinh 1813
  25. 25nguồn để trống
  26. 26Kalzang Nyimasinh 1841
  27. 27Puntsog Wang Gyal
  28. 28nguồn để trống
  29. 29Sherab Lodansinh 1882
  30. 30nguồn Kvaerne để trống, Menri ghi Tenpa Lodro
  31. 31nguồn Kvaerne để trống, Menri ghi Nyima Wangyal1910 tới 1954 hoặc 1958
  32. 32Tenpai Nyima
  33. 33Tenpai Gyaltsen1912 tới 1969
  34. 34 theo Kvaerne, 33 theo MenriSanggye Tendzin Jongdong, tức Lungtok Tenpai Nyima1968 tới 2017
  35. 34 theo MenriLungtok Dawa Dhargyetừ 2018

Bậc được tôn thờ: thư viện không dùng chân dung, chỉ ghi tên trong ấn tròn.

VICách thụ phong và truyền thừa

Tu viện Bön phát triển theo khuôn tu viện Phật giáo từ thế kỷ 15. Tu sĩ thọ giới drangsong, học lên Geshe. Menri Trizin được chọn bằng lối rút thăm Tagdril, sau khi thỉnh chư thần và hộ pháp của Yungdrung Bön hiển lộ sự thật.

  1. Vào tu viện, thọ giớiĐiều kiện: chưa tìm được nguồnNghi thức: chưa tìm được nguồn
  2. Học vị GesheĐiều kiện: Chương trình 13 nămNghi thức: Thi và biện luận, chi tiết nghi thức trao chưa tìm được nguồn
  3. Chọn Menri TrizinĐiều kiện: Các Geshe đủ tư cách làm ứng viênNghi thức: Rút thăm Tagdril. Năm 2018 tên Geshe Dawa Dhargye hiện ra sáng ngày 1 tháng 1.

VIIChỗ các nguồn còn vênh nhau

  • Đảo chiều nghi lễ: Per Kvaerne (Encyclopedia of Religion) xác nhận người Bön đi nhiễu ngược chiều kim đồng hồ, trái với lối pradakṣiṇā của Ấn Độ và Phật giáo. Việc quay bánh xe cầu nguyện ngược chiều chưa trích được nguồn riêng.
  • Viền lam trên y tu sĩ Tây Tạng: bài giảng Bön nói đó là dấu của Bön. Tibetan Nuns Project lại nói viền lam tưởng nhớ các vị sư Trung Hoa đã giúp khi Phật pháp gần bị diệt ở Tây Tạng. Hai nguồn vênh nhau.
  • Đề bài nêu màu y đỏ thẫm, vàng, lam. Có nguồn cho đỏ thẫm và vàng ở y Tây Tạng nói chung, và cho lam gắn với Bön. Chưa tìm được nguồn chính thức của Menri hay Triten Norbutse mô tả y Bön khác y Phật giáo thế nào.
  • Wikipedia chia ba lớp: Bön cổ (trước 618), Yungdrung Bön cổ điển (thế kỷ 10 và 11), Bön mới Bön Sar (thế kỷ 14). Tài liệu ở đây chỉ nói về Yungdrung Bön.
  • Màu cũ #7A3B2E (đỏ nâu đất Tây Tạng) không ghi tên màu gốc. Đề xuất đổi căn cứ sang dmar smug, mã gần #7A2E2A.
  • mau-that.json ghi cho bon tường #8E2A1F, nền #3F1C14, nhấn #E3A93B. Ghi chú cột đỏ, gấm, đèn bơ tự ghi độ tin cậy vừa, và lần tra này cũng chưa tìm được nguồn riêng cho điện thờ Bön.
  • Phẩm trật: thứ tự Khenpo trên Lopön là theo lệ thường, chưa có nguồn Bön xếp hạng rõ. Tên bậc tu sĩ sơ cấp của Bön chưa tìm được nguồn.
  • Chữ Tây Tạng và mã hex là do người tra ghi theo thuật ngữ quen dùng, cần người đọc chữ Tây Tạng kiểm lại.
  • Đánh số Menri Trizin vênh nhau. Danh sách Per Kvaerne (Acta Orientalia 1971, trên Himalayan Art Resources) xếp Lungtok Tenpai Nyima là thứ 34 và có nhiều chỗ trống (25, 28, 30, 31). Menri và cộng đồng Bön gọi ông là thứ 33 và gọi vị hiện nay là thứ 34. Wikipedia tiếng Anh trang Bon cũng ghi ông là thứ 34. Danh sách đầy đủ ở đây theo Kvaerne, có ghi chú cách đếm của Menri.
  • Tên các đời 25 tới 32 chưa có nguồn thống nhất. Menri gọi đời 30 là Tenpa Lodro, đời 31 là Nyima Wangyal (1910 tới 1954, có nguồn ghi mất 1958). Danh sách Kvaerne ghi đời 32 Tenpai Nyima và 33 Tenpai Gyaltsen (1912 tới 1969). Danh sách của ravencypresswood.com lại khác. Cần bản Tạng văn Hagiographies of the Successive Abbots of Menri để chốt.
  • Tranh chấp kế vị sau 2017: các nguồn tra được (ybmcs.org, Ligmincha, Buddhistdoor, Tibetan Review, Himalayan Bon Foundation) đều ghi việc chọn Dawa Dhargye bằng Tagdril ngày 1/1/2018 mà không nêu người tranh ngôi. Chưa tìm được nguồn công khai về một ứng viên đối lập. Nếu Thầy có nguồn riêng về tranh chấp, cần bổ sung.
  • Ngày lên ngôi của Menri Trizin thứ 34 vênh: ybmcs.org ghi ngồi ngai 20/2/2018, Buddhistdoor và Ligmincha ghi lễ tấn phong 6/9/2018. Có thể là hai nghi lễ khác nhau.
  • Menri gốc ở Tsang, Tây Tạng, được dựng lại một phần sau 1980 và có trụ trì riêng. Chưa xác minh được tên trụ trì hiện nay ở đó.
  • Nyame Sherab Gyaltsen và Shenchen Luga để bậc thiêng vì được tôn kính như bậc thánh, tranh thờ có mặt trong điện Bön. Đây là lựa chọn thận trọng.
  • Yongdzin Tenzin Namdak mất ngày 12/6/2025 theo Wikipedia.
  • Chưa tìm được ảnh tự do của Menri Trizin thứ 34 trên Commons.
  • Không thấy cộng đồng Bön có tổ chức tại Việt Nam, nên không lập dòng Việt Nam.

VIIINguồn tư liệu

17 nguồn
  1. https://ybmcs.org/menri-monastery/
  2. https://himalayanbon.org/2018/07/20/enthronement-ceremony/
  3. https://www.tritennorbutse.org/about-monastery
  4. https://www.encyclopedia.com/philosophy-and-religion/eastern-religions/buddhism/bon
  5. https://en.wikipedia.org/wiki/Bon
  6. https://denpaikyareng.blogspot.com/2012/09/teaching-on-bon-religion.html
  7. https://tnp.org/tibetan-monastic-robes/
  8. https://ligmincha.org/bon-buddhism-read-more/
  9. https://en.wikipedia.org/wiki/Menri_Monastery
  10. https://www.himalayanart.org/search/set.cfm?setID=4983
  11. https://ybmcs.org/biography-of-hh33rd-menri-trizin-rinpoche/
  12. https://ybmcs.org/his-holiness-the-34th-menri-trizin-rinpoche/
  13. https://www.buddhistdoor.net/news/new-head-of-bon-tradition-enthroned/
  14. https://en.wikipedia.org/wiki/Lungtok_Tenpai_Nyima
  15. https://en.wikipedia.org/wiki/Lop%C3%B6n_Tenzin_Namdak
  16. https://www.tibetanreview.net/grand-ceremony-held-to-enthrone-new-head-of-tibets-bon-religion/
  17. https://ravencypresswood.com/2021/05/01/7411/

?Hỏi Đáp Nhanh

Màu chủ đạo của Đạo Bön Tây Tạng là màu gì?

Đỏ thẫm (đỏ nâu tím) (དམར་སྨུག (dmar smug)), #7A2E2A. Đỏ thẫm dmar smug là màu y và màu nhận diện chung của tôn giáo Tây Tạng, gần với màu cũ. Để phân biệt Bön với Phật giáo Tây Tạng, nên dùng lam sngon po làm màu nhấn, vì chính nguồn Bön gắn lam với Tonpa Shenrab.

Đạo Bön Tây Tạng có bao nhiêu phẩm bậc?

Thư viện ghi 6 bậc, từ cao xuống thấp: Menri Trizin (Tòa chủ Menri), Khenpo (trụ trì, viện trưởng), Lopön, Ponlop (giáo thọ trưởng), Geshe, Drangsong (tu sĩ thọ đủ giới), Tu sĩ sơ cấp.

Ai đứng đầu Đạo Bön Tây Tạng hiện nay?

Theo dòng Bön: từ Tonpa Shenrab tới Menri, mốc gần nhất là Lungtok Dawa Dhargye (Dawa Dargyal) (sinh 29/11/1972, được chọn 1/1/2018). Menri Trizin thứ 34 và đương nhiệm, được chọn từ 60 Geshe bằng nghi thức rút thăm Tagdril bắt đầu 19/12/2017. Ngồi ngai 20/2/2018, lễ tấn phong lớn 6/9/2018 ở Dolanji.

›Đọc Tiếp